Giáo trình môn KINH TẾ TÀI NGUYÊN VÀ MÔI TRƯỜNG - Pdf 24

Chương 1
GIỚI THIỆU VỀ KINH TẾ TÀI NGUYÊN VÀ MÔI TRƯỜNG
1.1. Môi trường và tài nguyên thiên nhiên
1.1.1. Các khái niệm cơ bản
1.1.1.1. Môi trường (Environment)
Khái niệm:
- Môi trường là một khái niệm rất rộng được định nghĩa theo nhiều cách khác
nhau, đặc biệt sau hôị nghị Stockhom về môi trường năm 1972.
+ Theo S.V.Kalesnik (1959,1970): môi trường (được định nghĩa với MT địa lý)
chỉ là một bộ phận của trái đất bao quanh con người mà ở một thời điểm nhất định xã
hội loài người có quan hệ tương hỗ trực tiếp với nó, nghĩa là MT có quan hệ một cách
gần gũi nhất với đời sống và hoạt động sản xuất của con người.
+ Theo I.P.Gheraximov (1972): MT (bao quanh) là khung cảnh của lao động,
của cuộc sống riêng tư và nghỉ ngơi của con người. Môi trường tự nhiên là cơ sở cần
thiết cho sự sinh tồn của nhân loại.
+ Theo Magnard (1980): Môi trường là tổng hợp-ở một thời điểm nhất định-
các trạng huống vật lý, hoá học, sinh học và các yếu tố xã hội có khả năng gây ra một
tác động trực tiếp hay gián tiếp, tức thời hay theo kỳ hạn, đối với các sinhvật hay đối
với các hoạt động của con người.
+ Tuyên ngôn của UNESCO năm 1981: Môi trường được hiểu là toàn bộ các
hệ thống tự nhiên và các hệ thống do con người tạo ra xung quanh mình, trong đó con
người sinh sống và bằng lao động của mình đã khai thác các tài nguyên thiên nhiên
hoặc nhân tạo nhằm thoả mãn các nhu cầu của con người.
- Như vậy ta thấy khái niệm về môi trường được cụ thể hoá trong từng đối
tượng và mục đích nghiên cứu khác nhau:
+ Nếu chỉ nghiên cứu các yếu tố vô sinh như đất, nước, không khí, khoáng
chất…và quan hệ giữa chúng thì đó là những điều kiện lý, hoá của môi trường hay
thường được gọi là môi trường vật lý. Môi trường vật lý vận động chủ yếu theo những
quy luật lý hoá và là đối tượng nghiên cứu của các ngành khoa học tự nhiên như vật lý
học, hoá học, thủy văn học, địa chất học, khí tượng học…
1

+ MT tự nhiên: bao gồm các nhân tố của tự nhiên tồn tại khách quan ngoài ý
muốn của con người như không khí, đất đai, nguồn nước, ánh sáng mặt trời, động thực
vật…MT tự nhiên cung cấp các nguồn tài nguyên tự nhiên cho con người.
2
+ MT xã hội: là tổng hợp các quan hệ giữa người với người như luật lệ, thể chế,
cam kết, quy định, hương ước…ở các cấp khác nhau như Liên Hợp Quốc, Hiệp hội
các quốc gia, quốc gia, tỉnh, huyện, xã, làng, họ tộc, gia đình, tổ nhóm…MT xã hội
định hướng hoạt động của con người theo một khuôn khổ nhất định.
+ MT nhân tạo: bao gồm các nhân tố do con người tạo nên, làm thành những
tiện nghi cho cuộc sống của con người như hệ thống kết cấu hạ tầng
- Theo quy mô: Phân theo không gian địa lý như MT toàn cầu, MT khu vực,
MT quốc gia, MT vùng, MT địa phương
- Theo thành phần:
+ Theo thành phần của tự nhiên người ta thường chia ra: MT không khí, MT
đất, MT nước, MT biến.
+ Theo thành phần của dân cư sinh sống người ta chia ra: MT thành thị, MT
nông thôn.
* Bản chất hệ thống của môi trường
- Tính cấu trúc: Môi trường bao gồm nhiều thành phần (tự nhiên, kinh tế, con
người) có chức năng khác nhau, nhưng có quan hệ tương hỗ với nhau, tạo thành cấu
trúc chức năng (cấu trúc ngang). Mỗi một thành phần cũng là một hệ thống bao gồm
nhiều yếu tố nhỏ hơn. Bản chất của chúng chính là những dòng trao đổi vật chất, năng
lượng và thông tin liên kết các thành phần, các bộ phận của MT lại với nhau, tạo nên
tính thống nhất của hệ môi trường, giúp hệ tồn tại và phát triển. Biểu hiện bên ngoài
của tính cấu trúc chính là phản ứng dây chuyền diễn ra trong toàn hệ MT khi ta tác
động đến bất kỳ một thành phần hay một yếu tố nào của chúng.
- Tính cụ thể: Mỗi MT có đặc thù riêng, không hề có MT chung chung hay đại
diện. Do vậy cách thức giải quyết các vấn đề môi trường phải xuất phát từ chính đặc
điểm của MT đó. Về mặt không gian, tính cụ thể còn biểu hiện thông qua sự phân hoá
thành các cấp như MT toàn câu, MT khu vực, MT quốc gia, MT vùng…

dẻo…
+ TN cạn kiệt: than đá, dầu khí…
1.1.1.3. Vai trò của MT đối với con người
Đối với một cá thể con người cũng như đối với một cộng đồng con người và cả
xã hội loài người, MT sống có 3 chức năng:
- Môi trường là nơi cung cấp tài nguyên: TNTN bao gồm cả TN có khả năng tái
sinh, TN không có khả năng tái sinh và các dạng thông tin mà con người khai thác, sử
dụng đều chứa đựng trong MT. Hàng năm con người khai thác tài nguyên ngày càng
nhiều thêm do nhu cầu vật chất ngày càng tăng về số lượng và chất lượng.
4
- Môi trường là nơi chứa chất thải: Trong mọi hoạt động của con người, từ quá
trình khai thác tài nguyên cho sản xuất, chế biến tạo ra sản phẩm đến quá trình lưu
thông và tiêu dùng đều có phế thải. Chất thải bao gồm nhiều dạng nhưng chủ yếu dưới
3 dạng: chất thải rắn, chất thải dạng khí và chất thải dạng lỏng. Ngoài ra còn có chất
thải dưới dạng khác như nhiệt, tiếng ồn, phóng xạ…Tất cả các chất thải đều được đưa
vào MT.
- Môi trường là không gian sống và cung cấp các dịch vụ cảnh quan: Con người
chỉ có thể tồn tại và phát triển trong không gian môi trường, được hưởng các cảnh đẹp
thiên nhiên, thư thái về tinh thần và thoả mãn các nhu cầu tâm lý.
1.1.2. Các vấn đề môi trường hiện nay
- Ô nhiễm nước và không khí
- Suy thoái đất
- Suy giảm tài nguyên: Rừng, cá và khoáng sản
- Những quan tâm toàn cầu: Thay đổi khí hậu và đa dạng sinh học
1.2. Quan hệ giữa hệ thống kinh tế và môi trường tự nhiên
1.2.1. Kinh tế môi trường và kinh tế tài nguyên thiên nhiên
Trong bất kỳ nền kinh tế nào, những hoạt động cơ bản là sản xuất, phân phối và
tiêu dùng đều diễn ra trong một thế giới tự nhiên bao quanh. Một trong những vai trò
của thế giới tự nhiên là cung cấp nguyên liệu thô và năng lượng đầu vào cho quá trình
sản xuất. Các hoạt động sản xuất và tiêu dùng lại tạo ra phế thải và quay trở lại thế giới

trở sự bổ sung nguồn cá. Mặc dù khó có thể minh định rạch ròi tài nguyên thiên nhiên
và môi trường nhưng các nhà kinh tế cũng phân biệt giữa hai dịch vụ của thế giới tự
nhiên là cung cấp nguyên liệu thô và chức năng môi trường.
1.2.2. Cân bằng vật chất và chất lượng môi trường
Hình 1.6. là một phiên bản phức tạp hơn của những mối liên hệ đã được thể
hiện ở hình 1.5. Các yếu tố trong vòng tròn là những thành phần của hệ thống kinh tế
và toàn bộ chúng được bao bọc trong môi trường tự nhiên.
6
Hình 1.6. Cân bằng vật chất và quan hệ giữa kinh tế và môi trường
Môi trường thiên nhiên
Môi trường thiên nhiên
Nguyên
liệu thô (M)
Người SX
Người tiêu thụ
Đã tái tuần hoàn (Rp
r
)

+ Rc
d
Sở dĩ phải phát biểu trong dài hạn vì nhiều lý do: (1) Nếu hệ thống đang phát
triển nó có thể lưu giữ lại một tỷ lệ nào đó những đầu vào lấy từ môi trường tự nhiên
7
theo hướng tăng quy mô của hệ thống (do dân số tăng lên, tích luỹ tư bản…) Các chất
này sẽ bị thải khi hệ thống ngừng lớn lên và khi công cụ tư bản hỏng; (2) Sự tái tuần
hoàn có thể làm chậm tốc độ tích luỹ chất thải nhưng tái tuần hoàn không bao giờ có
thể hoàn chỉnh. Mỗi chu kỳ sẽ mất đi một tỷ lệ nào đó vật chất được tái chế. Do đó sự
cân bằng vật chất cơ bản chỉ đạt được trong dài hạn. Điều này chứng tỏ rằng: Nếu
chúng ta muốn giảm khối lượng chất thải vào môi trường tự nhiên thì chúng ta
phải giảm lượng nguyên liệu thô đưa vào hệ thống.
Rp
d
+ Rc
d
= M = G + Rp – Rp
r
– Rc
r
Nghĩa là lượng nguyên liệu thô (M) bằng với sản phẩm đầu ra (G) cộng với các
chất thải từ sản xuất (Rp) trừ đi lượng được tái chế của các nhà sản xuất (Rp
r
) và của
người tiêu dùng (Rc
r
).
Có 3 cách để giảm M và do đó giảm các chất thải vào môi trường tự nhiên:
- Giảm G: Nghĩa là giảm chất thải bằng cách giảm số lượng hàng hoá và dịch
vụ sản xuất. Có nhiều quan niệm khác nhau: (1) Nhiều người cho rằng đây là câu trả

chất thải.
Mục tiêu cuối cùng của chúng ta là giảm thiệt hại gây ra bởi việc thải các chất
thải trong sản xuất và tiêu thụ. Việc giảm lượng chất thải là cách chính để giảm thiệt
hại và những phân tích ở phần trên cho chúng ta biết được những cách cơ bản để giảm
thải. Ngoài ra chúng ta cũng thể giảm thiệt hại bằng cách tác động trực tiếp lên dòng
chất thải.
Qua hình 1.6. điều gì sẽ xảy ra khi các chất ô nhiễm được thải ra môi trường tự
nhiên? Rất đơn giản, sự phát thải sẽ tạo ra sự thay đổi mức độ chất lượng môi trường
xung quanh, lần lượt gây thiệt hại cho con người, các loài khác và toàn bộ hệ sinh thái.
Hình 2.3. thể hiện một cách phác thảo các mối quan hệ này:
(1) Các nguồn sử dụng vật chất đầu vào và hàng hoá và các dạng công nghệ
khác nhau được đưa vào sản xuất và tiêu dùng.
(2) Sản xuất và tiêu dùng tạo ra chất thải.
(3) Cách xử lý chất thải có tác động quan trọng đến các giai đoạn sau: một số
chất có thể được thu gom và tái chế, nhiều chất khác có thể được đưa vào qúa trình xử
lý hoặc giảm thải.
(4) Những thứ không thu gom và tái chế trở thành những chất thải được phóng
thích vào môi trường.
(5) Một phần lượng chất thải khi đi vào môi trường thông qua các quá trình
sinh, lý, hoá và khí tượng sẽ được chuyển đổi một mức nhất định làm ảnh hưởng đến
chất lượng môi trường xung quanh.
(6) Những thiệt hại đến tất cả các sinh vật và thành phần của hệ sinh thái trái
đất.
1.3. Vai trò của môn học Kinh tế tài nguyên và môi trường
1.3.1. Đối tượng nghiên cứu của kinh tế tài nguyên và môi trường
9
Kinh tế tài nguyên và môi trường là môn khoa học nghiên cứu các vấn đề tài
nguyên và môi trường với cách nhìn và phương pháp phân tích của kinh tế học. Đôi
khi chúng ta nghĩ rằng kinh tế học hầu như chỉ nói về các quyết định trong kinh doanh
và làm thế nào để có được lợi nhuận. Tuy nhiên nó không đúng trong trường hợp này.

10
thức tỉnh đạo đức để ngăn ngừa ô nhiễm tạo ra rất nhiều vấn đề. Không phải sự kém ý
thức đạo đức sẽ dẫn đến phá hoại môi trường mà chính là cách thức chúng ta tạo nên
hệ thống kinh tế để trong đó mọi người cần phải tìm công việc để sinh sống.
- Vì vậy cách thức thứ hai để nghiên cứu vấn đề tại sao con người gây ô nhiễm
là quan sát cách thức xây dựng nền kinh tế và thể chế và bằng cách nào chúng hướng
mọi người đưa ra các quyết định gây hậu quả phá hoại môi trường. Các nhà kinh tế
học tin rằng: “Con người gây ô nhiễm bởi vì đó là phương cách rẻ nhất để giải quyết
một vấn đề rất thực tế là làm thế nào để thải bỏ các chất thải sau quá trình sản xuất
và tiêu dung hàng hóa”.
- Con người đã tạo ra những quyết định như thế trong một khung cảnh thể chế
kinh tế và xã hội nhất định. Những thể chế này tạo ra các khuyến khích(incentives) để
hướng mọi người đưa ra các quyết định chỉ theo cách này mà không theo cách khác.
Khuyến khích là điều làm cho ta bị cuốn hút hay từ chối điều chỉnh hành vi của mình
bằng cách nào đó. Thông thường chúng ta nghĩ “khuyến khích kinh tế ” là những phần
thưởng về của cải vật chất, nhưng cũng có những khuyến khích phi vật chất hướng
mọi người điều chỉnh hành vi kinh tế của họ như lòng tự trọng, mong muốn bảo tồn
một môi trường sạch đẹp…Một trong những nội dung của kinh tế môi trường là
nghiên cứu: (1) Các quá trình khuyến khích hoạt động như thế nào; và (2) Làm thế nào
để cấu trúc lại chúng nhằm hướng mọi người đưa ra các quyết định thân thiện với môi
trường.
1.3.3. Vai trò của quyền tài sản
- Một khaí niệm quan trọng để hiểu các khuyến khích có liên quan đến môi
trường là quyền tài sản (property right) hay quyền sở hữu tài sản. Khái niệm này sẽ
được giải thích ở phần sau nhưng có thể đưa ra kết luận :” Thiếu quyền sở hữu đối
với các nguồn tài nguyên môi trường có nghĩa là có rất ít khuyến khích để con
người tính đến hậu quả môi trường do hành động của họ gây ra”.
- Quyền tài sản đóng vai trò quyết định để hiểu tại sao chúng ta có những vấn
đề môi trường hiện nay. Điểm cơ bản là tài nguyên môi trường không được xác định
quyền sở hữu rõ ràng. Không ai là chủ sở hữu của khí quyển, đại dương hay các tầng

mặt trời)
- Bền vững cũng phụ thuộc vào khả năng thay thế vốn tự nhiên (các nguồn tài
nguyên thiên nhiên và môi trường) và vốn xã hội sản xuất và lao động. Công nghệ và
sự thay đổi công nghệ là yếu tố sống còn trong lộ trình bền vững.
- Như vậy, một nền kinh tế bền vững là nền kinh tế trong đó đầu tư vốn xã hội
cho phép nền kinh tế tăng trưởng để thế hệ tương lai ít nhất cũng có được mức phúc
lợi như thế hệ hiện tại trong khi vẫn duy trì sự lành mạnh của hệ sinh thái.
1.3.5. Đánh đổi và sự bền vững
12
- Các nhà kinh tế minh họa sự đánh đổi (trade-off) giữa hàng hoá dịch vụ với
chất lượng môi trường bằng cách sử dụng đường giới hạn khả năng sản xuất
(production possibility frontier-PPF). PPF là đồ thị biểu diễn những lựa chọn giữa hai
kết quả mong muốn là hàng hoá dịch vụ và chất lượng môi trường của một nhóm
người. Trục tung là chỉ số sản lượng kinh tế gộp, nghĩa là tổng giá trị thị trường của
hàng hoá thông thường bán ra trong nền kinh tế một năm. Trục hoành chỉ chất lượng
môi trường có được từ các dữ liệu khác nhau về môi trường xung quanh. Đường cong
này biểu diễn các mức kết hợp khác nhau giữa hai kết quả- sản lượng thị trường và
chất lượng môi trường mà một nhóm người có thể tạo ra được với một số vốn nhất
định.
Hình 1.9. PPF của các nước phát triển và đang phát triển



(b) Kịch bản lạc quan
Hàng
hoá
Chất lượng môi trường
C
2
C
3
E
3
E
2
Hàng
hoá
Chất lượng môi trường
C
2

tại mức giá P
2
thì lượng cầu
là Q
2
Hình 2.1. Đường cầu thị trường
P
D
P
2 P
1

15
+ Chúng ta cũng có thể biểu thị mối quan hệ giữa giá và lượng cầu bằng hàm
cầu :
Ví dụ : Q = 450 – 25P
Nếu giá P
1
= 4, lượng cầu Q
1
= 350
Nếu giá P
1
= 6, lượng cầu Q

Q
+ Chúng ta cũng có thể biểu thị mối quan hệ giữa giá và lượng cung bằng hàm
cung :
Ví dụ : Q = -20 + 10P
Nếu giá P
1
= 4, lượng cung Q
1
= 20
Nếu giá P
1
= 6, lượng cung Q
2
= 40
+ Cung thị trường là tổng các mức cung của từng cá nhân lại với nhau
16
+ Các yếu tố cơ bản xác định cung về hàng hoá/dịch vụ bao gồm : giá của bản
thân hàng hoá/dịch vụ, công nghệ, giá của các yếu tố đầu vào, chính sách thuế…
- Cân bằng thị trường: Khi cầu đối với một hàng hoá/dịch vụ nào đó xuất hiện
trên thị trường, người sản xuất sẽ tìm cách đáp ứng mức cầu đó. Thị trường ở trạng
thái cân bằng khi việc cung cấp hàng hoá/dịch vụ đủ thoả mãn cầu đối với hàng
hoá/dịch vụ đó trong một thời kỳ nhất định. Tại trạng thái cân bằng này chúng ta có
mức giá cân bằng (P
*
) và sản lượng cân bằng (Q
*
). Đặc điểm quan trọng của mức giá
cân bằng này là nó không được xác định bởi từng cá nhân riêng lẻ mà được hình thành
bởi hoạt động tập thể của toàn bộ người mua và người bán. Đây chính là cách định giá
khách quan theo bàn tay vô hình của thị trường. Tại những mức giá thấp hơn giá cân

một hàng hoá/dịch vụ cũng như vì sao chúng ta lại không mua hàng hoá/dịch vụ đó
vào một thời điểm nào đó.
- Lợi ích cận biên của một hàng hoá/dịch vụ có xu hướng giảm đi khi lượng mặt
hàng đó được tiêu dùng nhiều hơn ở một thời kỳ nhất định. Như vậy, khi ta tiêu dùng
nhiều hơn một loại hàng hoá/dịch vụ nào đó mà lợi ích cận biên vẫn còn lớn hơn 0,
tổng lợi ích sẽ tăng lên nhưng với tốc độ chậm dần đi.
- Lợi ích là một khái niệm trìu tượng, tuy nhiên chúng ta có thể dùng giá để đo
lợi ích cận biên của việc tiêu dùng : Lợi ích cận biên của việc tiêu dùng hàng hoá/dịch
vụ càng lớn thì người tiêu dùng sẵn sàng trả giá cao hơn cho nó, khi lợi ích cận biên
giảm thì sự sẵn lòng chi trả cũng giảm đi. Nếu vây, đường cầu cũng chính là đường thể
hiện lợi ích cận biên của việc tiêu dùng.
* Thặng dư tiêu dùng :
- Thặng dư tiêu dùng là khái niệm phản ánh sự chênh lệch giữa lợi ích của
người tiêu dùng khi tiêu dùng một lượng hàng hoá/dịch vụ so với chi phí thực tế để thu
được lợi ích đó.
- Trong hình 2.4., đường cầu đối với một hàng hoá là D, giá thị trường của hàng
hoá đó là P
*
, người tiêu dùng sẽ tiêu dùng Q
D
đơn vị hàng hoá.
- Tổng lợi ích của việc tiêu dùng là diện tích nằm dưới đường cầu từ gốc toạ độ
đến sản lượng cân bằng, tức là diện tích OBEQ
D
.
18
Sự thay đổi tổng lợi ích
Sự thay đổi lượng tiêu
ΔTB
ΔQ 0→

- Đối với những đơn vị hàng hoá nhỏ hơn Q
D
, người tiêu dùng vì được hưởng
lợi ích cận biên lớn hơn P
*
nên cũng sẵn lòng chi trả mức giá cao hơn P
*
cho việc tiêu
dùng hàng hoá. Nhưng thực tế, người tiêu dùng chỉ phải trả giá P
*
cho tất cả các đơn vị
hàng hoá. Thặng dư tiêu dùng xuất hiện do người tiêu dùng được hưởng nhiều hơn
mức họ phải trả. Tổng thặng dư tiêu dùng (Consumer Surplus- CS) được thể hiện
bằng diện tích tam giác BEP
*
.
2.1.2.2. Chi phí và thặng dư sản xuất
* Chi phí
- Chi phí đối với một doanh nghiệp được hiểu là các khoản chi trả mà doanh
nghiệp phải thực hiện để duy trì việc sản xuất một lượng hàng hoá/dịch vụ.
- Tổng chi phí (Total Cost- TC) của việc sản xuất một lượng hàng hoá bao gồm
giá thị trường của toàn bộ các nguồn lực được sử dụng để sản xuất ra lượng hàng hoá
đó. Có thể phân biệt 2 loại chi phí :
19
+ Chi phí cố định (Fixed Cost- FC) là những chi phí không thay đổi khi sản
lượng thay đổi, đó chính là những chi phí mà doanh nghiệp phải thanh toán dù không
sản xuất hoặc sản xuất rất ít.
+ Chi phí biến đổi (Variabe Cost- VC) là những chi phí tăng hoặc giảm cùng
với mức tăng hoặc giảm của sản lượng.
- Tổng chi phí là tổng của chi phí cố định và chi phí biến đổi. Vì chi phí cố định

, người sản xuất sẽ sẵn sàng cung cấp Q
S
đơn vị hàng hoá.
- Vì đường cung phản ánh chi phí cận biên của sản xuất, đồng thời nếu chi phí
cơ hội của tất cả các nguồn lực sản xuất đã được tính đầy đủ, thì tổng chi phí xã hội
của sản xuất chính là diện tích nằm dưới đường cung từ gốc toạ độ đến sản lượng cân
bằng tức là diện tích OAEQ
S
.
Hình 2.5. Thặng dư sản xuất

S
Q
Q
S
O
A
P
*
P
E
PS
- Trong hình 2.5., tại bất kỳ điểm nào dọc theo đoạn AE, các nhà sản xuất cũng
sẵn sàng cung ứng một lượng hàng hoá nhất định với giá thấp hơn cân bằng thị trường
P
*
nhưng thực tế họ vẫn bán sản phẩm với mức giá P*. Thặng dư xuất hiện do người
sản xuất nhận được nhiều hơn mức chi phí họ đã bỏ ra. Tổng thặng dư sản xuất
(Producer Surplus- PS) được thể hiện bằng diện tích tam giác AEP
*

Q
CS
PS
E
S ≡ MC
D ≡ MB
- Chúng ta có thể xác định lợi ích ròng xã hội (Net Social Benefit- NSB) của
việc sản xuất và tiêu dùng một hàng hoá/dịch vụ nào đó bằng hiệu số giữa tổng lợi ích
xã hội và tổng chi phí xã hội.
NSB = TSB – TSC (1)
- Như vậy rõ ràng, lợi ích ròng xã hội là tổng số của thặng dư tiêu dùng (CS) và
thặng dư sản xuất (PS).
NSB = CS + PS (2)
NSB chính bằng diện tích hình ABE trên đồ thị
- Chúng ta có thể dễ dàng chứng minh được rằng tại mức sản lượng cân bằng
Q
*
, lợi ích ròng xã hội là lớn nhất hay phúc lợi xã hội lớn nhất. Nếu hoạt động kinh tế
ở bất cứ mức sản lượng nào lớn hơn hoặc nhỏ hơn Q
*
đều làm cho lợi ích ròng xã hội
nhỏ hơn diện tích ABE. Phần tổn thất phúc lợi xã hội đó được coi là phần mất không,
22
vì không một ai, kể cả người sản xuất và người tiêu dùng được hưởng phần thặng dư
đó.
- Dưới những điều kiện chặt chẽ, điểm cân bằng của thị trường cạnh tranh là
điểm có tính hiệu quả Pareto.
2.1.3. Hiệu quả Pareto
- Một sự phân bổ nguồn lực là có hiệu quả Pareto (hoặc đạt tối đa Pareto) nếu
không có khả năng dịch chuyển tới một sự phân bố khác có thể làm cho bất cứ người

mà không làm cho hoàn cảnh của người khác bị tồi đi như vậy gọi là một hoàn thiện
Pareto.
4.2. Các biểu hiện kinh tế của suy thoái môi trường
Bước đầu tiên để hiểu được những nguyên nhân gốc rễ của sự suy thoái môi
trường là tìm kiếm các biểu hiện về kinh tế. Nghiên cứu các biểu hiện kinh tế của sự
suy thoái môi trường giúp chúng ta xác định được mặt thật của vấn đề và đề ra những
phương pháp tốt nhất để can thiệp có hiệu quả về mặt chi phí.
(1) Việc sử dụng tài nguyên quá mức, lãng phí và không hiệu quả cùng tồn tại
với sự khan hiếm và thiếu hụt ngày càng gia tăng. Nước tưới ngày càng khan hiếm ở
nhiều nơi tại châu Á lại bị sử dụng phung phí và quá mức bởi một số nông dân tới mức
gây ngập úng và mặn hoá, trong khi các nông dân khác cùng sử dụng chung một hệ
thống thuỷ lợi lại chịu thiếu nước và việc cung cấp nước không ổn định. Đây là sự thật
của phần lớn các hệ thống thuỷ lợi tại các nước như Thai lan, Indonesia, Philippines,
Ấn Độ và Pakistan.
(2) Một nguồn tài nguyên ngày càng khan hiếm bị đưa vào sử dụng một cách
không bền vững, hiệu quả thấp trong khi vẫn có những cách sử dụng bền vững và hiệu
quả cao mà không được sử dụng. Ví dụ ở Thái lan, đất vùng cao thích hợp cho cây ăn
quả và cây lâu năm lại thường được dùng để trồng ngô và sắn trong một vài năm rồi
lại bỏ hoang vì năng suất xụt giảm. Ở Ma rốc, nước tưới khan hiếm lại được sử dụng
trồng mía đường trong một môi trường khô cằn trong khi rau, trái và các cây trồng cao
cấp khác lẽ ra có thu nhập cao hơn và ít gây ra các vấn đề mặn hoá hơn.
(3) Một nguồn tài nguyên có thể được tái sinh và có thể được quản lý một cách
bền vững lại bị khai thác như một tài nguyên để vơ vét. Rừng nhiệt đới đang bị khai
thác vơ vét mà không màng đến sự tái sinh của nó và các nguồn thu trong tương lai,
ngay cả khi các thu hoạch trong tương lai cho một hiện giá dương theo lãi suất thị
trường. Tốc độ phá rừng bằng 100 lần tốc độ tái tạo rừng nói lên rằng rừng đang bị
khai thác vơ vét chứ không phải quản lý.
(4) Một tài nguyên bị sử dụng cho một mục đích chuyên biệt trong khi sự sử
dụng đa dạng có thể tạo ra lợi ích lớn hơn. Lấy ví dụ, nhiều khu rừng nhiệt đới chỉ
được quản lý để lấy gỗ trong khi nếu quản lý cho mục đích đa dạng như LSNG, bảo

và các giống loài động thực vật sẽ là vô giá khi số lượng của chúng bị giảm tới mức đe
doạ sự tồn tại của chúng.
2.3. Thất bại thị trường và suy thoái môi trường
Các nền kinh tế trên thế giới có thể được phân làm hai thái cực: Kinh tế thị
trường nơi mà các nhà sản xuất quyết định sản xuất và bán cho người tiêu thụ hàng
hoá gì và nền kinh tế kế hoạch tập trung trong đó nhà nước là người quyết định ai sẽ
25

Trích đoạn Quản lý môi trường Quản lý nhà nước về môi trường Các nguyên tắc quản lý môi trường Nhóm công cụ luật pháp và chính sách Nhóm công cụ kinh tế
Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status