Mấy vấn đề về tài nguyên và môi trường trong tiến trình hội nhập kinh tế quốc tế(09:35
13/10/2004)
Hầu hết các quốc gia trên thế giới đều nhận thấy rằng, các chính sách thương mại, tài
nguyên và môi trường có vai trò hỗ trợ lẫn nhau, nhằm thúc đẩy phát triển bền vững và thực sự
nó đang nỗ lực giải quyết hài hoà mối quan hệ giữa phát triển kinh tế - xã hội và bảo vệ môi
trường. Do đó, một quốc gia để đạt được mục tiêu trở thành một nền kinh tế có tốc độ tăng
trưởng cao, ổn định, bền vững cần khai thác và sử dụng hợp lý các nguồn lực, đặc biệt là nguồn
lực tự nhiên. Trong xu thế toàn cầu hoá, tự do hoá thương mại, các nước đang phát triển rất
quan tâm tới việc chống lại và loại bỏ khả năng tiếp cận thị trường của các sản phẩm nhập khẩu
vào nước họ mà không tuân thủ các quy trình sản xuất, các sản phẩm không phù hợp với yêu
cầu bảo vệ môi trường.
Khu vực hoá, toàn cầu hoá kinh tế là xu thế khách quan, bao trùm hầu hết các lĩnh vực
và lôi cuốn nhiều nước tham gia. Trong tiến trình hội nhập vào nền kinh tế thế giới, có nhiều vấn
đề phức tạp được đặt ra đối với lĩnh vực tài nguyên và môi trường.
1. Hợp tác quốc tế trong lĩnh vực tài nguyên và môi trường của Việt Nam
Trong thời gian qua, hoạt động hợp tác về tài nguyên và môi trường cơ bản đã duy trì
được quan hệ với các đối tác sẵn có, đẩy mạnh các hoạt động hợp tác quốc tế đa phương, song
phương: tích cực tham gia các chương trình hợp tác, các công ước quốc tế liên quan đến các
lĩnh vực địa chính, tài nguyên nước, khoáng sản, khí tượng - thuỷ văn, bảo vệ môi trường. Trong
năm 2003, Bộ Tài nguyên và Môi trường đã ký 2 hiệp định hợp tác song phương: triển khai 12
dự án, với tổng kinh phí ước khoảng 50 triệu USD; trong đó, lĩnh vực khí tượng thuỷ văn có 2 dự
án, bảo vệ môi trường 4 dự án, địa chính và bản đồ 3 dự án, địa chất và khoáng sản 1 dự án, tài
nguyên nước 2 dự án. Bộ Tài nguyên và Môi trường cũng đang xây dựng Chương trình hợp tác
quốc tế dài hạn, các quy trình nhằm tăng cường hiệu quả quản lý, thu hút sử dụng các nguồn
vốn ngoài nước. Các hoạt động hợp tác quốc tế về khai thác, sử dụng tài nguyên và bảo vệ môi
trường có tác dụng góp phần đẩy nhanh tiến trình hội nhập kinh tế quốc tế của Việt Nam, với các
nội dung chủ yếu sau đây:
a. Hỗ trợ và đối thoại về chính sách, xây dựng thể chế
Đây là vấn đề được cả cộng đồng các nhà tài trợ và Chính phủ Việt Nam quan tâm. Hiện
nay, đã và đang hình thành các cơ chế song phương và đa phương, nhằm tăng cường đối thoại
về chính sách, xây dựng thể chế trong lĩnh vực khai thác, sử dụng tài nguyên và bảo vệ môi
Chương trình ngăn ngừa xu thế suy thoái môi trường ở Biển Đông… Việt Nam đã tích cực thúc
đẩy hợp tác khu vực liên quan đến việc bảo tồn và khai thác các nguồn lợi quốc tế về sông Mê
Công, Biển Đông.
Đến nay, Việt Nam đang tham gia nhiều diễn đàn khu vực, quốc tế về khai thác, sử dụng
tài nguyên và bảo vệ môi trường như ASEAN, APEC và Liên hợp quốc. Việt Nam là thành viên
Tổ chức Khí tượng thế giới (WMO), Chương trình Môi trường Liên hợp quốc, Chương trình Khoa
học địa chất, Uỷ ban Bản đồ thế giới (CGMWW), Chương trình Khoa học địa chất Đông và Đông
- Nam á; đã ký kết và tham gia 20 điều ước quốc tế có liên quan đến bảo vệ môi trường, biến đổi
khí hậu và bảo vệ tầng ô-zôn. Nhiều hội nghị, hội thảo khu vực, quốc tế đã được đăng cai và tổ
chức thành công tại Việt Nam, như Diễn đàn Bảo vệ môi trường ASEAN (năm 1999), đối thoại
quốc tế về Nước, Lương thực và Bảo vệ môi trường (năm 2002)...
2. Thuận lợi,thách thức đối với việc hội nhập kinh tế quốc tế về tài nguyên và môi
trường
a. Thuận lợi
Hội nhập kinh tế quốc tế trong lĩnh vực khai thác sử dụng tài nguyên và bảo vệ môi
trường phù hợp với chủ trương của Đảng và Nhà nước Việt Nam, trong xu thế toàn cầu hoá.
Việt Nam có lịch sử và truyền thống hợp tác lâu dài với nhiều nước, nhiều tổ chức quốc
tế. Trước đây, đã có hợp tác nhiều mặt với Liên Xô, với các nước thuộc khối SEV về địa chất
khoáng sản; về khí tượng - thuỷ văn, có được sự hỗ trợ nhiều về trang thiết bị, đào tạo cán bộ
chuyên môn của Trung Quốc; hỗ trợ xây dựng và phát triển thể chế, chính sách về bảo vệ môi
trường, như: Chương trình phát triển Liên hợp quốc (UNDP), Chương trình Môi trường Liên hợp
quốc (UNEP), Tổ chức Bảo tồn thiên nhiên thế giới (IUCN) và Thụy Điển.
Tham gia hội nhập, chính sách và pháp luật và khai thác, sử dụng tài nguyên và bảo vệ
môi trường của Việt Nam sẽ chịu tác động và ảnh hưởng của pháp luật các nước thành viên
khác. Những ràng buộc đó góp phần định hướng cho chính sách điều tiết của Việt Nam ngày
càng hài hòa với các quy tắc và tiêu chuẩn được thừa nhận rộng rãi ở các nước khác. Tính minh
bạch, có kỷ cương của việc hoạch định và thực thi chính sách của Việt Nam sẽ nâng cao.
Sự tham gia và là thành viên hoặc hợp tác với các tổ chức như: Cộng đồng Châu Âu
(EU), Tổ chức Thương mại thế giới WTO, hay ASEAN, đòi hỏi Việt Nam phải tuân thủ nguyên
tắc không phân biệt đối xử, tuy nhiên chúng ta vẫn hoàn toàn tự chủ trong việc xây dựng chính
ồn, đất, hệ sinh thái, chất thải, cảnh quan, di tích lịch sử, sức khoẻ cộng đồng, giao thông…) quá
cao, quá khắt khe, thì hàng loạt doanh nghiệp trong nước sẽ không đủ tiềm lực tài chính để đầu
tư. Mặt khác, các tiêu chuẩn đó nếu ban hành, cũng ít có khả năng thực thi. Song, trong điều
kiện hội nhập, nếu không làm như vậy, thì Việt Nam sẽ mau chóng trở thành nơi chứa đựng rác
thải công nghệ, nơi tiêu thụ thiết bị và hàng hoá độc hại đối với môi trường đã bị cấm lưu hành ở
những nước tiên tiến khác. Trong khi đó, hàng hoá từ Việt Nam, khi xuất khẩu phải đáp ứng các
điều kiện bảo vệ môi trường ở những nước phát triển.
Cho đến thời điểm hiện nay, các nước phát triển đều dùng các tiêu chuẩn về bảo vệ môi
trường như là một công cụ để bảo hộ mậu dịch, hạn chế nhập khẩu và giới hạn cả việc chuyển
giao các công nghệ sạch từ các nước kém phát triển. Hiện tại, tỷ trọng xuất khẩu hàng công
nghiệp, hàng tiêu dùng của Việt Nam không đáng kể so với xuất khẩu nông sản nguyên liệu
chưa chế biến, có lẽ cũng có một phần nguyên nhân từ những chính sách này.
Do đó, việc nghiên cứu để bổ sung, sửa đổi các chính sách, pháp luật về tài nguyên, môi
trường của Việt Nam đối với hàng hoá của EU, Hoa Kỳ và các nước khác đã trở nên hết sức
cấp thiết, phục vụ cho định hướng xuất khẩu của hàng hoá Việt Nam. Không những thế, công
việc này phải làm thường xuyên và có thông tin nhanh chóng để góp phần định hướng hoạch
định chính sách vĩ mô và chính sách kinh doanh của các loại hình doanh nghiệp.
Đội ngũ cán bộ nói chung, đặc biệt những người làm công tác hợp tác Quốc tế trong lĩnh
vực tài nguyên và môi trường còn thiếu về số lượng và yếu về chất lượng trình độ ngoại ngữ,
kinh nghiệm tham gia đàm phán quốc tế còn hạn chế; tổ chức chuyên trách đối với vấn đề
thương mại và môi trường cũng nhiều bất cập.
3. Một số đề xuất nhằm tăng cường hội nhập kinh tế quốc tế trong lĩnh vực tài
nguyên và môi trường
Một là, hoàn thiện chính sách và pháp luật về tài nguyên và môi trường. Chính sách pháp luật về
tài nguyên và môi trường cần có những quy định cụ thể đối với các hoạt động kinh tế trong nước nhằm
định hướng và thúc đẩy sử dụng tối ưu và bảo vệ được nguồn tài nguyên và hỗ trợ hàng hoá trong nước
xâm nhập được những thị trường khó tính, vượt qua được các rào cản về môi trường của các quốc gia;
nhưng, đồng thời lại ngăn cản được những dòng vận động hàng hoá và đầu tư không thân thiện với môi
trường xâm nhập từ bên ngoài vào Việt Nam. Bên cạnh đó, Việt Nam cần nỗ lực nghiên cứu kinh nghiệm
của các nhà xuất khẩu để tìm hiểu về các rào cản thương mại nảy sinh từ các tiêu chuẩn môi trường của