BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ TP. HCM
KHOA ĐÀO TẠO SAU ĐẠI HỌC
TIỂU LUẬN TRIẾT HỌC
Đề tài:
SỰ TƯƠNG ĐỒNG VÀ KHÁC BIỆT
GIỮA TRIẾT HỌC HY LẠP CỔ ĐẠI VÀ
TRIẾT HỌC ẤN ĐỘ CỔ ĐẠI
GVHD : T.S BÙI VĂN MƯA
HVTH : NGUYỄN THỊ HỒNG VÂN
STT : 135
NHÓM : 8
LỚP : ĐÊM 1 – K20
HCM, Tháng 5/2011
Tiểu luận: Triết học GVHD: TS. Bùi Văn Mưa
MỤC LỤC
K20 – Đêm 1 – Nhóm 8 Trang 2
Tiểu luận: Triết học GVHD: TS. Bùi Văn Mưa
LỜI MỞ ĐẦU
1. Lý do chọn đề tài
Khi nhắc đến khởi nguyên tiềm tàng của nền triết học nhân loại chúng ta
không thể không nói đến hai nền triết học lớn của thế giới, đó chính là triết học
Hy Lạp cổ đại và Ấn Độ cổ đại. Có thể nói Hy Lạp cổ đại và Ấn Độ cổ đại là
những cái nôi của triết học thế giới, là khúc dạo đầu cho một bản nhạc giao
hưởng, bản hợp xướng của triết học, làm nền tảng cho toàn bộ hệ thống triết học
thế giới sau này. Từ trong sự khởi đầu đó, các nhà triết học sau này đã nhìn thấy
mầm mống của các kiểu thế giới quan, các trường phái tư tưởng vẫn còn nguyên
giá trị đến bây giờ.
Nét nổi bật của triết học Hy Lạp cổ đại là đã đặt ra hầu hết các vấn đề cơ bản
của triết học mà sau này các học thuyết triết học khác từng bước giải quyết theo
nội dung của thời đại mình. Cuộc đấu tranh giữa chủ nghĩa duy vật và chủ nghĩa
Bài viết hình thành trên cơ sở phương pháp nghiên cứu lịch sử, phương pháp
phân tích tổng hợp và so sánh các nguồn tư liệu tham khảo với nhau để có được
kết quả chính xác nhất, tránh cách nhìn phiến diện.
K20 – Đêm 1 – Nhóm 8 Trang 4
Tiểu luận: Triết học GVHD: TS. Bùi Văn Mưa
CHƯƠNG 1 : GIỚI THIỆU KHÁI QUÁT VỀ ĐẶC
ĐIỂM TRIẾT HỌC HY LẠP CỔ ĐẠI VÀ TRIẾT
HỌC ẤN ĐỘ CỔ ĐẠI
1.1. TRIẾT HỌC HY LẠP CỔ ĐẠI
1.1.1. Điều kiện lịch sử ra đời và phát triển của triết học Hy Lạp cổ đại
Triết học Hy Lạp cổ đại ra đời trong bối cảnh diễn ra sự chuyển biến lâu dài
và sâu sắc các quan hệ xã hội. Đó là sự ra đời của xã hội có giai cấp đầu tiên
trong lịch sử - chế độ chiếm hữu nô lệ
Hy Lạp cổ đại trước đây là một vùng lãnh thổ rộng lớn bao gồm phần đất liền
và vô số hòn đảo lớn nhỏ trên biển Egie, vùng duyên hải Ban căng và Tiểu Á. Sự
thuận lợi về thiên nhiên, địa lý đã tạo điều kiện cho Hy Lạp nhanh chóng phát triển
tất cả các lĩnh vực, mở rộng bang giao, tiếp nhận nhiều giá trị văn hoá. Vì vậy, nơi
đây đã hội tụ đầy đủ những điều kiện để Hy Lạp trở thành một quốc gia chiếm hữu
nô lệ có một nền công – thương nghiệp phát triển, một nền văn hóa tinh thần
phong phú, đa dạng. Sự hình thành triết học Hy Lạp không diễn ra một cách ngẫu
nhiên mà là kết quả tất yếu của việc kế thừa những di sản tinh tuý của truyền thống
trong sáng tác dân gian, trong thần thoại, trong các mầm mống của tri thức khoa
học (khoa học tự nhiên).
Về văn học: Hy Lạp cổ đại là đất nước của thi ca, thần thoại. Thần thoại là nơi
để con người tưởng tượng, diễn giải về các hiện tượng thiên nhiên kỳ bí mà còn là
nơi thể hiện đời sống tâm linh, sự hình thành số phận cũng như muôn mặt của đời
sống thường ngày. Thần thoại là nơi đầu tiên để tư duy triết học ra đời và từng
bước triết học tách khỏi thần thoại, tự mình tư duy về tự nhiên, đạo đức, về xã hội,
về lẽ sống, về chân lý, về con người…
Những tinh hoa về toán học, thiên văn học, địa lý, hệ thống đo lường, lịch
ảnh chỉnh thể thống nhất mọi sự vật, hiện lại xảy ra trong nó.
Thứ năm: coi trọng vấn đề về con người. Dù còn có nhiều bất đồng, song nhìn
chung, các triết gia đều khẳng định con người là tinh hoa cao quý nhất của tạo
hóa.
K20 – Đêm 1 – Nhóm 8 Trang 6
Tiểu luận: Triết học GVHD: TS. Bùi Văn Mưa
1.1.4. Các tư tưởng, trường phái triết học Hy Lạp tiêu biểu
1.1.4.1. Chủ Nghĩa Duy Vật
a. Trường phái Milê
Trường phái Milet này là đã được đặt nền móng cho sự hình thành các khái
niệm đó như khái niệm triết học để các triết gia sau này tiếp tục bổ sung và làm
phong phú thêm những khái niệm đó như khái niệm chất, không gian, sự đấu
tranh giữa các mặt đối lập.
b. Trường phái Hêraclít
Héraclite là nhà triết học đã nêu lên các phán đoán thiên tài về quy luật thống
nhất và đấu tranh giữa các mặt đối lập mà sau này Marx đã đề cập và đi sâu.Phép
biện chứng duy vật chất phác là đóng góp của triết học Héraclite vào tư tưởng
của nhân loại.
c. Trường phái đa nguyên
Trường phái đa nguyên do Empêđốc và Anaxago xây dựng, Empêđốcthừa
nhận sự tồn tại của 4 khởi nguyên độc lập, bất biến là: đất, nước, không khí, lửa.
Chúng chịu sự tác động của 2 loại lực là: tình yêu và hận thù, vũ trụ luôn vận động
trải qua 4 giai đoạn.
Để giải thích tính đa dạng của vạn vật trong thế giới theo tinh thần duy vật,
Empédocle và Anaxago cố vượt qua quan niệm đơn nguyên sự phát minh của các
trường phái Milet, trường phái Héraclite, xây dựng quan niệm đa nguyên về bản
chất của thế giới vật chất đa dạng. Tuy nhiên quan điểm của họ cũng còn mang
tính sơ khai, còn hạn chế.
d. Trường phái nguyên tử luận
Do Lơxíp xây dựng và Đêmôcrít hoàn thiện dựa trên thuyết nguyên tử (2 thực
phát triển theo hướng duy lý ngả về duy tâm.
Xênôphan (Xénophane): Xênôphancho rằng mọi cái đều từ đất mà ra và cuối
cùng trở về đất. Đất là cơ sở của vạn vật.Cùng với nước, đất tạo nên sự sống của
muôn loài.Ông cho rằng, “tồn tại” là bản chất chung thể hiện tính thống nhất của
vạn vật trong thế giới. “Tồn tại” là một phạm trù triết học mang tính khái quát cao
và nhận thức bởi tư duy, lý tính.Quan niệm “tồn tại”đánh dấu một giai đoạn mới
trong phát triển triết học Hy Lạp cổ đại.
K20 – Đêm 1 – Nhóm 8 Trang 8
Tiểu luận: Triết học GVHD: TS. Bùi Văn Mưa
Pácmênít (Parménide): sự vật không ngừng biến đổi từ dạng này sang dạng
khác, chỉ khác nhau ở cách thức biểu hiện của sự tồn tại, và tồn tại không hề thay
đổi, đó cũng là bản chất của sự vật, được nhận thức bởi tư duy lý tính. Nhận thức
lý tính đòi hỏi con người phải dùng trí óc để khám phá nguồn gốc, bản chất của thế
giới.
Dênông (Zénon): bảo vệ trường phái Êlê. Ông đưa ra những apôri nghĩa là
tình trạng không có lối thoát hay nghịch lý. Thông qua chúng, ông chứng minh
rằng “tồn tại là đồng nhất, duy nhất là bất biến”.Còn tính phức tạp, đa dạng và vận
động của thế giới là không thực.
c. Trường phái duy tâm khách quan
Do Xocrat đặt nền móng và Platong, học trò của ông hoàn thiện.
Xocrat(Socrate): :không chủ trương nghiên cứu các hiện tượng ngẫu nhiên.
Xuất phát từ đạo đức học duy lý, ông cho rằng, hiểu biết là cơ sở của điều thiện,
ngu dốt là cội nguồn của cái ác; chỉ có cái thiện mới là cơ sở của đạo đức, tiêu
chuẩn của đức hạnh. Đối với Xocrat,chỉ có những người có tri thức như giai cấp
quý tộc và các triết gia mới là người có đạo đức.
Platong: xây dựng chủ nghĩa duy tâm khách quan với nội dung chính là “thuyết
ý niệm”, với giá trị bên trong là phép biện chứng của khái niệm và nhiều tư tưởng
sâu sắc khác về đạo đức, chính trị, xã hội.Quan điểm chính trị - xã hội của
Platong đầy mâu thuẫn và bảo thủ. Ông vừa đòi hỏi xóa bỏ tư hữu, lại vừa đòi
bảo vệ chế độ đẳng cấp và sự bất bình đẳng trong xã hội; vừa kêu gọi xây dựng
Nền văn hóa Ấn Độ mang đậm nét tín ngưỡng, tôn giáo, tâm linh có pha trộn
sự thần bí.
1.2.3 Sự hình thành và phát triển của tư tưởng triết học Ấn Độ cổ đại
Qúa trình hình thành và phát triển của triết học Ấn Độ cổ đại trải qua 2 thời
kỳ chính :
Triết học thời kỳ Vêđa (khoảng thế kỷ XV đến VIII TCN):thời kỳ này tập
trung phản ánh ước vọng của người dân thường như mong mưa thuận gió hòa,
mong có thức ăn, có gia súc ; đồng thời phản ánh một tín ngưỡng ma thuật và
đa thần giáo, chưa có những khái quát triết học. Tuy nhiên qua các tập Véđa đã
thể hiện sự phát triển của tư duy trừu tượng trong đó người ta đã thừa nhận một
K20 – Đêm 1 – Nhóm 8 Trang 10
Tiểu luận: Triết học GVHD: TS. Bùi Văn Mưa
nguyên lý vũ trụ với sức mạnh vô hạn, biểu hiện ra trong thiên nhiên, trong tinh
thần và các nghi lễ.
Triết học thời kỳ cổ điển hay thời kỳ Bàlamôn – Phật giáo (khoảng thế kỷ
VI TCN đến thế kỷ VI): được hình thành và phát triển trong truyền thống Vêđa
nhưng các trường phái triết học Ấn Độ lại xung đột lẫn nhau.
1.2.4 Các đặc điểm cơ bản của triết học Ấn Độ cổ đại
Thứ nhất,triết học Ấn Độ cổ đại phát triển rất phong phú nhưng không mang
tính cách mạng; các nhà triết học thường kế tục mà không gạt bỏ hệ thống triết
học có trước, không đặt cho mình nhiệm vụ phải sáng tạo ra một hệ thống triết
học mới. Điều đó phản ánh sự trì trệ của xã hội Ấn Độ cổ đại.
Thứ hai,triết học Ấn Độ cổ đại gắn bó chặt chẽ với tôn giáo, trên cơ sở tín
ngưỡng tôn giáo hình thành nên các hệ thống triết học - tôn giáo.
Thứ ba,các hệ thống triết học - tôn giáo ở Ấn Độ cổ đại đều quan tâm tới
vấn đề thuộc lĩnh vực nhân sinh quan, đặc biệt là vấn đề luân hồi, nghiệp báo,
tìm kiến phương tiện, con đường, cách thức giải thoát chúng sinh ra khỏi điều
kiện tự nhiên và kinh tế - xã hội khắc nghiệt .
1.2.5 Các trường phái triết học Ấn Độ cổ đại tiêu biểu
1.2.5.1 Tư tưởng triết học trong Upanisát
Triết phái Buddhsam (Phật giáo): Là một trường phái triết học tôn giáo
lớn của Ấn Độ cố đại. Những tư tưởng cơ bản của triết học Phật giáo Ấn độ cổ
đại được thể hiện: thế giới quan (phản ánh trong ba pham trù : vô ngã, vô thường,
duyên khởi ) & nhân sinh quan tập trung vào tứ diệu ( 4 chân lý tuyệt diệu): khổ
đế, nhân đế, diệt đế, đạo đế.
K20 – Đêm 1 – Nhóm 8 Trang 12
Tiểu luận: Triết học GVHD: TS. Bùi Văn Mưa
CHƯƠNG 2 :SỰ TƯƠNG ĐỒNG VÀ KHÁC BIỆT
GIỮA HAI NỀN TRIẾT HỌC HY LẠP CỔ ĐẠI VÀ
ẤN ĐỘ CỔ ĐẠI
2.1 SỰ TƯƠNG ĐỒNG GIỮA HAI NỀN TRIẾT HỌC
Tư tưởng triết học chịu sự tác động từ điều kiện tự nhiên, lịch sử, xã hội.
Ở thời kỳ cổ đại, mặc dù có điều kiện tự nhiên và lịch sử không giống nhau
nhưng cả nền Triết học Hy Lạp và Ấn Độ đều dựa trên những thành tựu ở các
lĩnh vực văn hóa, gắn bó mật thiết với khoa học tự nhiên để xây dựng một bức
tranh tổng thể về thế giới, và do đó đều ảnh hưởng sâu sắc đến tư tưởng và sự
phát triển của Triết học. Bên cạnh đó, cả hai nền Triết học này cùng ra đời trong
bối cảnh xã hội có sự phân chia giai cấp rất khắc nghiệt, đặc biệt là sự đàn áp tàn
khốc đối với tầng lớp nô lệ.
Tại Ấn, không có một tôn giáo thuần nhất, cũng chẳng có một nền triết học độc
nhất; đúng hơn, với nhiều cách thức am hiểu và liên hệ với thế giới, triết học Ấn
Ðộ cũng như Ấn giáo, là một kho tàng chứa đựng các ý tưởng được bảo lưu một
cách rộng rãi, trong đó một số ý tưởng này cổ đại hơn một số ý tưởng khác tới cả
ngàn năm.
Tại Hy Lạp, các nhà triết học Hy Lạp cổ đại đã biết gắn bó chặt chẽ triết học với
khoa học tự nhiên để tổng hợp mọi hiểu biết về các lĩnh vực khác nhau để hướng
tới việc xây dựng thế giới quan tổng thể, biến triết học thành "khoa học của các
khoa học".
Đúng như Ph.Ăngghen nhận xét: “Không có chế độ nô lệ thì không có quốc gia
Hy Lạp, không có nghệ thuật và khoa học Hy Lạp, không có chế độ nô lệ thì
Trường phái Xôcrát-Platông cho rằng hiện tượng tự nhiên do thần thánh sáng tạo
và an bài. Ý niệm của Platông là lý tính, tồn tại trên trời, chân thực tuyệt đối. Thế
giới sự vật là sự sao chép của ý niệm, sinh ra từ ý niệm, do thần Tạo hóa mô
phỏng từ ý niệm. Linh hồn vũ trụ là thần linh, tồn tại dưới dạng các tinh tú, và
chỉ được nhận thức bằng linh hồn vũ trụ của con người. Con người bao gồm thể
xác khả tử và linh hồn bất tử.
K20 – Đêm 1 – Nhóm 8 Trang 14
Tiểu luận: Triết học GVHD: TS. Bùi Văn Mưa
Hai nền triết học đều có những trường phái cho rằng thế giới tạo thành từ vật
chất, không tồn tại thần thánh.Quan điểm là linh hồn con người tồn tại và trải qua
luân hồi. Thế giới tự nhiên là do thần thánh sáng tạo, sắp xếp, có nguồn gốc thần
bí.
Ấn Độ:
Trường phái Nyaga với thuyết nguyên tử luận, cho rằng thế giới vật chất được
cấu thành từ các nguyên tử kết hợp lại.
Trường phái Vaisêsika cũng ủng hộ thuyết nguyên tử luận.
Phái Lokayata xem sự vật kết thành bởi tứ đại bao gồm đất, nước, gió, lửa.
Hy Lạp:
Trường phái duy vật cho rằng khởi nguyên vũ trụ hình thành bởi các yếu tố vật
chất. Talet cho rằng nước là khởi nguyên của sự vật. Heraclit cho rằng lửa tạo ra
van vật. Êmpêđốc nhận định vạn vật tạo bởi đất nước, không khí, kết hợp với lực
tình yêu và hận thù.
Thuyết nguyên tử luận của Lơxíp – Đêmôcrit nhận định vũ trụ được cấu thành từ
nguyên tử và chân không. Nguyên tử tụ lại hình thành sự vật, tan rã thì sự vật
mất. Không có thần thánh sáng tạo ra sự vật.
Tương đồng trong nhận thức, thế giới quan duy vật và vô thần có tính biện
chứng sâu sắc.
Ấn Độ:
Nhận thức luận của Nyaga thừa nhận đối tượng nhận thức tồn tại khách quan cần
phải tìm tòi thông qua bốn phương thức là cảm giác, kết luận, tương tự và bằng
tri thức, họ đã sử dụng tư duy lý luận để nghiên cứu thế giới và xây dựng nền
triết học và khoa học đồ sộ, sâu sắc.
Trong quá trình nhận thức, suy tư triết lý, đôi khi đã đạt tới ý tưởng siêu thực,
vượt qua tầm suy nghĩ, nhận thức giác quan đạt tới những phán đoán siêu hình
về sự tồn tại.
K20 – Đêm 1 – Nhóm 8 Trang 16
Tiểu luận: Triết học GVHD: TS. Bùi Văn Mưa
2.2 ĐÁNH GIÁ SỰ KHÁC BIỆT GIỮA HAI NỀN TRIẾT HỌC
Do xuất phát từ hai nền văn hoá khác nhau, có điều kiện tự nhiên - xã hội
khác nhau nên triết học Hy Lạp cổ đại và triết học Ấn Độ cổ đại có những đặc
điểm khác nhau, đóng vai trò như hai mặt đối lập của một vấn đề.
2.2.1 Triết học Ấn Độ cổ đại
Triết học có sự đan xen với tôn giáo
Nét nổi bật của văn hóa Ấn Độ cổ đại là mang dấu ấn sâu đậm về tín ngưỡng tôn
giáo. Giữa triết học và tôn giáo rất khó phân biệt. Tư tưởng triết học ẩn giấu sau
các lễ nghi huyền bí, chân lý thể hiện qua các bộ kinh Vêđa, Upanisát.
Ấn Độ cổ đại phát triển qua 3 thời kỳ với hai hệ thống triết học, là hệ thống chính
thống và hệ thống không chính thống dựa trên cơ sở thái độ đối với kinh Vêđa.
Thực tế kinh Vêđa không phải là thiên khải, cũng không do một nhân vật nào đó
sáng tác. Nó là một bộ sách thâu lượm tất cả các câu ca dao, vịnh phú về sự giàu
đẹp, hùng vĩ của thiên nhiên Ấn Độ, về những tập tục nghi lễ, quan điểm tư
tưởng và những bài thánh ca cầu nguyện các đấng thần linh của người Arya.
Người Ấn Độ cổ tin và giải thích rằng trong vũ trụ tồn tại đồng thời 3 thế lực liên
quan nhau là thần linh, con người và ác quỷ ứng với 3 cõi vũ trụ bao la là thiên
giới, trần thế và địa ngục. Họ đã phân tích các hiện tượng tự nhiên và lý giải
chúng qua biểu tượng của thế giới thần linh phong phú, chia nhau chi phối sự
biến hóa của vũ trụ vạn vật theo sự điều khiển của nguyên lý rita (chân xác, thích
hợp, trật tự vận hành vũ trụ), “Toàn thể vũ trụ được thành lập trên nguyên lý rita
và vận hành trong nó”.
Do đó, người Ấn Độ cổ đại rất sùng bái, tín ngưỡng, cầu nguyện và hiến tế. Triết
ra học thuyết về sự tồn tại của kết quả trong nguyên nhân trước khi nó xuất hiện
và học thuyết về sự chuyển hóa thực tế của nguyên nhân trong kết quả. Họ cho
rằng loại nào có nguyên nhân của loại đó “Trồng Sali được Sali, trồng Vrihi được
Vrihi”. Từ đó mà trong quan niệm về sự hình thành sự vật, họ cho rằng nếu vạn
vật của thế giới này là vật chất thì yếu tố tạo nên vạn vật với tính cách là nguyên
nhân cũng là vật chất, đó là “vật chất đầu tiên” (Prakriti) một dạng vật chất tiềm
ẩn, không hình dạng, không giới hạn, không thể nhận biết được bằng cảm tính.
K20 – Đêm 1 – Nhóm 8 Trang 18
Tiểu luận: Triết học GVHD: TS. Bùi Văn Mưa
Thế giới vật chất là thể thống nhất của ba yếu tố: Sativa (nhẹ nhàng, thuần khiết),
razas (tích cực, năng động), tamas (nặng, ỳ). Khi ba yếu tố trên ở trạng thái cân
bằng thì Prakriti ở trạng thái chưa biểu hiện, tức là trạng thái không thể trực quan
được. Nhưng khi sự cân bằng bị phá vỡ thì sự sinh thành vạn vật của vũ trụ khởi
đầu.
Ngược lại, các nhà tư tưởng của phái Samkhya hậu kỳ lại có khuynh hướng nhị
nguyên luận khi thừa nhận sự tồn tại song song của hai yếu tố đầu tiên là vật chất
(Prakriti) và tinh thần (Purusa). Yếu tố tinh thần (Purasa) mang tính phổ quát,
vĩnh hằng, bất biến, nó truyền sinh khí, năng lượng và biến hóa vào yếu tố vật
chất ở con người. Khi tinh thần chiếu rọi vào Sativa thì sinh ra trí tuệ, khi tinh
thần chiếu rọi vào razas thì sinh ra vận động, khi tinh thần chiếu rọi vào tamas thì
sinh ra hình thể.
Còn các nhà triết học Mimansa dựa vào tư tưởng triết học - tôn giáo của Vêđa,
nhưng coi Vêđa như các tập công thức hay thần chú về nghi lễ. Mimansa sơ kỳ
không thừa nhận sự tồn tại của thần. Theo Sabara thì chúng ta thiếu chứng cứ về
sự tồn tại của thần và cảm giác không nhận thức được thần. Nhưng cảm giác lại
được coi là nguồn gốc của mọi tri thức khác. Phái Mimansa không phản đối việc
coi thần linh như cái tên hay âm thanh cần thiết cho các câu thần chú của nghi lễ.
Nghi lễ không phải là hành động khẩn cầu, sùng bái thần linh, mà nghi lễ tự nó
có sức mạnh, có thể đưa lại hiệu quả. Họ hiểu nghi lễ như một hành động ma
thuật. Tuy nhiên, tinh thần duy vật và vô thần của phái Mimansa không được tiếp
đạt tới đồng nhất với "Tinh thần vũ trụ tối cao" tuyệt đối thì con người phải dốc
lòng toàn tâm tu luyện hành động và tu luyện tri thức. Bằng nhận thức trực giác,
thực nghiệm tâm linh, con người mới nhận ra chân bản của mình, khi đó linh hồn
bất tử mới đồng nhất được với "linh hồn vũ trụ tối cao" và bắt đầu "siêu thoát"
(moksa).
Thừa nhận quan niệm "Luân hồi" và "Nghiệp báo" trong Upanishad, Phật giáo
đặc biệt chú trọng triết lý nhân sinh, đặt mục tiêu tìm kiếm sự giải thoát cho
chúng sinh khỏi vòng luân hồi, nghiệp báo để đạt tới trạng thái tồn tại Niết bàn
(Nirvana). Từ sự lý giải về căn nguyên nỗi khổ của con người, Thích Ca Mâu Ni
đã đưa ra thuyết "Tứ diệu đế" và " Thập nhị nhân duyên" để giải thoát chúng sinh
K20 – Đêm 1 – Nhóm 8 Trang 20
Tiểu luận: Triết học GVHD: TS. Bùi Văn Mưa
ra khỏi mọi nỗi khổ và kiếp nghiệp báo, luân hồi. Thuyết “tứ diệu đế” là cốt lõi
của quan niệm nhân sinh quan của Phật giáo.
Từ đó cho thấy xu hướng cơ bản trong triết học Ấn Độ cổ đại là quan tâm giải
quyết các vấn đề nhân sinh dưới gốc độ tâm linh tôn giáo với xu hướng “hướng
nội”. Có thể nói sự phản tỉnh nhân sinh là một nét trội và là ưu thế của nhiều học
thuyết triết học Ấn Độ cổ đại.
Triết học Ấn Độ cổ đại nhấn mạnh sự thống nhất trong mối quan hệ
giữa con người và vũ trụ theo nguyên tắc “thiên nhân hợp nhất”.
Các nhà triết học Ấn Độ cổ đại cho rằng muốn nhận thức tốt thì phải hòa hợp
giữa chủ thể và khách thể với nhau.
Upanisát cho rằng “tinh thần vũ trụ tối cao” Brátman là thực thể cao nhất, có
trước nhất, tồn tại vĩnh viễn, bất diệt, là cái từ đó tất cả thế giới đều nảy sinh ra
và nhập về với nó sau khi chết, là khách thể. Còn Atman là tinh thần con người,
là tiểu ngã, là cái có thể mô hình hóa, là chủ thể, và chẳng qua chỉ là linh hồn vũ
trụ cư trú trong con người mà thôi. Linh hồn con người “Átman” chỉ là sự biểu
hiện, là một bộ phận của “Brátman”.
Rig Vêđa đã suy tư về quan hệ giữa thế giới vĩ mô và vi mô, quan hệ giữa tự
nhiên và con người. Rig Vêđa không phân chia con người và tự nhiên thành chủ
chính thống phản đối lại tinh thần Vêđa.
Các nhà triết học ở các thời đại chỉ giới hạn mình trong khuôn khổ ủng hộ, bảo
vệ quan điểm hay một hệ thống nào đó để hoàn thiện và phát triển nó hơn là vạch
ra những sai lầm và không đặt ra mục đích tạo ra thứ triết học mới. Do vậy nó
không mâu thuẫn với các học thuyết đã được đặt nền móng từ ban đầu, không
phủ định nhau hoàn toàn và dẫn đến cuộc đấu tranh trong các trường phái không
gay gắt và cũng không triệt để. Có tình trạng đó chính là do chế độ phong kiến
kéo dài quá lâu và bảo thủ, kết cấu kinh tế, giai cấp trong xã hội đan xen, cộng
sinh bên nhau
K20 – Đêm 1 – Nhóm 8 Trang 22
Tiểu luận: Triết học GVHD: TS. Bùi Văn Mưa
2.2.2 Triết học Hy Lạp cổ đại.
Triết học gắn bó mật thiết với khoa học tự nhiên
Triết học Hy Lạp cổ đại gắn bó mật thiết với khoa học tự nhiên để tổng hợp mọi
hiểu biết về các lĩnh vực khác nhau nhằm xây dựng bức tranh về thế giới như
một hình ảnh chỉnh thể thống nhất mọi sự vật, hiện tượng xảy ra trong nó. Do
trình độ tư duy lý luận còn thấp, nên khoa học tự nhiên chưa đạt tới trình độ mổ
xẻ, phân tích tự nhiên để đi sâu vào bản chất sự vật, mà nó nghiên cứu tự nhiên
trong tổng thể để dựng nên bức tranh tổng quát về thế giới. Vì vậy, các nhà triết
học đồng thời là các nhà khoa học tự nhiên, họ quan sát trực tiếp các hiện tượng
tự nhiên để rút ra những kết luận triết học.
Sự xuất hiện của những trí thức khoa học và triết học trong thời kỳ này đã tạo
nên một bước ngoặc lớn về nhận thức của con người, phá vỡ ý thức hệ thần thoại
và tôn giáo nguyên thuỷ. Xuất phát từ nhu cầu thực tiễn của nền sản xuất, những
tri thức về khoa học tự nhiên phát triển mạnh, được trình bày trong hệ thống triết
học - tự nhiên của các nhà triết học cổ đại, bên cạnh đó, khoa học thời bấy giờ
chưa phân ngành nên các nhà triết học đồng thời cũng là các nhà Toán học, nhà
Vật lý học như Talét, Pytago, Ácximét, Ơclít, Từ các yếu tố đó có thể khẳng
định rằng, triết học Hy Lạp cổ đại ngay từ khi ra đời đã có sự gắn bó với nhu cầu
thực tiễn và gắn với khoa học.
Ông là đại biểu lớn nhất của chủ nghĩa duy tâm thời cổ đại Hy Lạp. Ông đã xây
dựng học thuyết về ý niệm để chống lại chủ nghĩa duy vật. Theo ông, giới tự
nhiên bắt nguồn từ ý niệm.
Dao động giữa đường lối duy vật của Đêmôcrít và đường lối duy tâm của
Platôn là Arixtốt. Ông là một nhà triết học lớn, bộ óc bách khoa thời cổ đại Hy
Lạp - La Mã, nhưng là một nhà triết học không triệt để. Một mặt, ông bác bỏ
thuyết ý niệm của Platôn; mặt khác ông lại chủ trương hình thức là bản chất của
mọi sự vật, mà hình thức của mọi hình thức là tư duy (hình thức thuần tuý).
Cuộc đấu tranh giữa chủ nghĩa duy vật và chủ nghĩa duy tâm trong lịch sử
triết học Hy Lạp-La Mã cổ đại chứng tỏ rằng, ngay từ đầu, lịch sử triết học là lịch
sử đấu tranh giữa hai thế giới quan, hai phương pháp luận đối lập nhau. Cuộc đấu
tranh ấy phản ánh lợi ích của những tầng lớp, những giai cấp khác nhau trong xã
hội có giai cấp đối kháng.
Triết học Hy Lạp cổ đại đi từ thế giới quan, vũ trụ quan, bản thể
luận…từ đó xây dựng nhân sinh quan con người
Các nhà triết học Hy Lạp đầu tiên có khuynh hướng chung là suy tư về bản chất
và khởi thuỷ của thế giới. Họ lấy một thực thể bản nguyên tượng trưng làm
nguồn gốc của tất cả mọi vật. Chẳng hạn đối với Talet đó là nước, đối với
Anaximăngđrơ đó là cái vô hạn bất định, đối với Anaxago đó là tinh thần. Pytago
tìm cái chìa khoá phổ quát của hiện thực trong các con số, Pacmênic cho rằng
bản chất của thực thể nằm trong tồn tại; Lơxip và Đêmôcrit phỏng đoán mọi sự
K20 – Đêm 1 – Nhóm 8 Trang 24
Tiểu luận: Triết học GVHD: TS. Bùi Văn Mưa
vật đều được tạo thành từ những nguyên tử, là những phần tử nhỏ nhất, không
thể phân chia được nữa và số lượng của chúng là vô hạn. Hêraclit đưa ra quan
niệm mọi sự vật của thế giới luôn thay đổi, sự kết hợp của các yếu tố vật chất là
vô hạn, vì vậy cái bất biến trong thế giới chỉ có thể được thừa nhận chính là sự
biến đổi, chuyển hoá vĩnh hằng đó.
Từ thế giới quan, các nhà triết học Hy Lạp cổ đại mới đi đến vấn đề nhân sinh
quan, đạo đức, xã hội. Các nhà ngụy biện thì thiên về cá nhân hơn, đã nhiệt thành