ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN
TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM
HOÀNG THỊ HẰNG
CHỦ ĐỀ ĐỜI TƯ
TRONG THƠ NGUYỄN KHUYẾN
CHỦ ĐỀ ĐỜI TƯ
TRONG THƠ NGUYỄN KHUYẾN
Chuyên ngành: Văn học Việt Nam
Mã số: 60220121 LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC NGỮ VĂN
Người hướng dẫn khoa học: TS. Dương Thu Hằng
THÁI NGUYÊN – NĂM 2013 ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN
TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM
THÁI NGUYÊN – NĂM 2013
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên LỜI CAM ĐOAN
Đề tài luận văn được hoàn thành dưới sự hướng dẫn của TS Dương Thu Hằng.
Tôi cam đoan rằng:
- Đây là kết quả nghiên cứu của riêng tôi
- Kết quả này không trùng với bất cứ tác giả nào đã được công bố
Nếu sai tôi xin chịu trách nhiệm.
Tác giả luận văn Hoàng Thị Hằng
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên
MỤC LỤC
Trang
Trang bìa phụ
Lời cam đoan
Mục lục
1.2.1. Khái quát chung 12
1.2.2. Chủ đề đời tư trong sáng tác của một số tác giả trước Nguyễn Khuyến 13
1.3. Đôi nét về cuộc đời và sự nghiệp sáng tác của Nguyễn Khuyến 24
1.3.1 Con người và cuộc đời 24
1.3.2. Sự nghiệp sáng tác 27
1.3.3. Mảng thơ viết về chủ đề đời tư trong trước tác của Nguyễn Khuyến 28
Chương 2. CHỦ ĐỀ ĐỜI TƯ QUA BỨC CHÂN DUNG TỰ HỌA 30
2.1. Về hình thức 30
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên
2.2. Tâm hồn tính cách 32
2.2.1. Con người hiếu học 33
2.2.2. Con người chua chát, sâu cay và cũng rất hài hước dân dã 34
2.2.3. Con người luôn dằn vặt day dứt khôn nguôi 41
Chương 3. CHỦ ĐỀ ĐỜI TƯ QUA CÁC MỐI QUAN HỆ CÁ NHÂN 56
3.1. Mối quan hệ vợ chồng 56
Chủ đề đời tư không phải là chủ đề lớn và xuất hiện phổ biến trong văn học
Việt Nam thời trung đại. Thời trung đại là thời kỳ mang đậm dấu ấn của tam giáo.
Chịu ảnh hưởng của tư tưởng tam giáo, về cơ bản con người trong văn học trung đại
Việt Nam thường hướng về những chức năng, phận sự, sự hành đạo mà ít chú ý đến
vấn đề đời tư của con người suốt một thời gian dài. Khoảng năm thế kỉ đầu vấn đề
đời tư gần như không được nhắc đến. Sự in đậm dấu ấn cá nhân cùng với sự thể
hiện sâu sắc đời sống riêng tư của mình, Nguyễn Khuyến đã tạo ra một bước phát
triển mới cho văn học Việt Nam trung đại trong việc thể hiện con người. Đó là quá
trình đi từ cái “chung” đến cái “riêng”, từ “vô ngã ” đến “hữu ngã ” và chính cái
“riêng” cái “hữu ngã” này, trong chừng mực nhất định làm cho văn học có sự thay
đổi về chất.
Nguyễn Khuyến là một tác giả được giảng dạy trong nhà trường các cấp. Vì
vậy, thực hiện đề tài “Chủ đề đời tư trong thơ Nguyễn Khuyến ” sẽ góp phần nâng
cao chất lượng dạy và học về tác giả Nguyễn Khuyến nói riêng, văn học trung đại
Việt Nam nói chung.
Xuất phát từ ba lí do trên chúng tôi lựa chọn đề tài : “Chủ đề đời tư trong thơ
Nguyễn Khuyến” với hy vọng sẽ góp thêm một góc nhìn mới về tác giả quen thuộc này.
2. Lịch sử vấn đề
Nguyễn Khuyến là một thi tài, là một trong những cây đại thụ của văn học dân
tộc. Bóng mát của cây đại thụ ấy đã rợp xuống thời gian suốt mấy trăm năm. Gốc rễ
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên
2
của nó đã ăn sâu vào lòng đất Việt, góp phần tạo nên tâm hồn Việt. Vì thế từ lâu,
Nguyễn Khuyến và sự nghiệp thơ văn Nguyễn Khuyến đã trở thành mảnh đất trù
phú nuôi trồng biết bao cây bút nghiên cứu, phê bình văn học.
Thơ văn Nguyễn Khuyến được công bố muộn, đăng tải lần đầu tiên trên Nam
Trong bài “Nhân vật trữ tình trong thơ trữ Hán”, Trần Thị Băng Thanh có
viết: “Hình ảnh một ông già xuề xòa giữa cộng đồng dân dã ở đây đã lùi lại phía
sau, nhường chỗ cho một hình ảnh khác: một trí thức ý thức rõ rệt về bản lĩnh và
nhân cách, về trách nhiệm kẻ sĩ trước những xáo động dữ dội của thời cuộc. Đây
chính là một dạng nhân vật đặc sắc và không kém quan trọng trong thơ Nguyễn
Khuyến, có quan hệ mật thiết với con người tác giả, nhưng không hoàn toàn đồng
nhất với tác giả Vẻ đẹp hướng nội làm cho nhân vật ấy sống động lên, như là một
người anh em sinh đôi với Nguyễn Khuyến; và cũng chính con người nghệ thuật
này đã thống nhất anh đồ nho, ông quan Tam Nguyên và ông già Yên Đổ ẩn cư
trong Nguyễn Khuyến lại làm một” [30, tr. 240].
Ở bài viết này, Trần Thị Băng Thanh cũng nhắc đến hình ảnh con người
Nguyễn Khuyến, tuy nhiên tác giả lại chỉ nêu vấn đề chứ cũng chưa đi sâu khảo sát
tác phẩm cụ thể.
Trong bài “Tâm trạng Nguyễn Khuyến qua thơ tự trào” Vũ Thanh có nêu: “Ở
cả hai mảng chân dung, cũng chỉ là một Nguyễn Khuyến. Nhưng nếu ở chân dung
tự trào bằng chữ Hán tâm hồn tác giả cao quý quá, sâu xa quá thì ở chân dung tự
trào bằng chữ Nôm tác giả như cố tình bôi xấu đi, đánh lạc hướng đi, che dấu đi
“một tấm lòng son vẫn có thừa” Hai bức chân dung tự họa ấy vừa là sự bổ sung
mật thiết vừa đối lập nhau một cách gay gắt” [30, tr. 275].
Nhà nghiên cứu Vũ Thanh đã đề cập đến chân dung tự trào. Tuy nhiên, tác giả
chỉ tìm hiểu về tâm hồn cao quý chứ chưa đi sâu tập trung phân tích làm rõ hình ảnh
chân dung, con người Nguyễn Khuyến.
Trong cuốn Thơ Nôm Đường luật, nhà nghiên cứu Lã Nhâm Thìn đã đề cập
đến vai trò, ý nghĩa của chủ đề đời tư trong tiến trình phát triển của thể loại: “ Cùng
với việc phản ánh xã hội, đất nước, con người, ở giai đoạn cuối của Đường luật
Nôm đã xuất hiện khuynh hướng đi vào đời tư. Đây là một biểu hiện mới trong chức
năng thể loại, mặc dù nó chưa thực sự đậm nét. Những bước đi đầu tiên này chắc
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên
5
5. Nhiệm vụ nghiên cứu
5.1. Làm rõ một số khái niệm có liên quan đến đề tài
5.2.Khảo sát và hệ thống hóa các tác phẩm mang chủ đề đời tư trong thơ Nguyễn
Khuyến
5.3. Phân tích và đánh giá về tác dụng, ý nghĩa của các phương diện thể hiện chủ đề
đời tư trong thơ Nguyễn Khuyến. Qua đó, khẳng định vai trò vị trí của chủ đề đời tư
trong thơ Nguyễn Khuyến đối với tiến trình phát triển của văn học trung đại Việt
Nam trong việc thể hiện con người nói chung, sự nghiệp sáng tác của Nguyễn
Khuyến nói riêng.
6. Phương pháp nghiên cứu
Để đạt được mục đích và hoàn thành nhiệm vụ nghiên cứu, khi thực hiện đề tài
này, chúng tôi đã sử dụng các phương pháp nghiên cứu sau:
- Phương pháp thống kê phân loại, phương pháp này giúp chúng tôi phân loại và
lựa chọn chính xác đối tượng nghiên cứu. Trong quá trình triển khai và giải quyết
vấn đề, phương pháp này có tác dụng chỉ ra và cụ thể hóa các khía cạnh của vấn đề
- Phương pháp phân tích tổng hợp, phương pháp này phục vụ đắc lực cho quá
trình tìm hiểu, khám phá và đánh giá ý nghĩa của vấn đề được nghiên cứu. Đây là
phương pháp không thể thiếu để có thể hoàn thành nhiệm vụ nghiên cứu của đề tài
- Phương pháp so sánh (lịch đại, đồng đại) để tạo ra tương quan so sánh nhằm chỉ ra
sự tiếp nối cũng như những sáng tạo mới mẻ riêng biệt của đối tượng nghiên cứu.
- Phương pháp liên ngành, vận dụng hiệu quả các môn khoa học liên ngành (lịch
sử học, văn hóa học, toán học, xác suất thống kê…) nhằm giúp cho vấn đề được
nhìn nhận bao quát hơn và chính xác hơn.
7. Kết cấu luận văn
7NỘI DUNG
Chương 1
MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN LIÊN QUAN ĐẾN ĐỀ TÀI
1.1. Khái niệm chủ đề đời tư
1.1.1. Phân biệt chủ đề và đề tài
Đề tài là “khái niệm chỉ loại các hiện tượng đời sống được miêu tả, phản ánh trực
tiếp trong tác phẩm văn học ” [7, tr. 110]. Có thể hiểu đề tài là yếu tố cơ bản của tác
phẩm văn học dùng để chỉ phạm vi đời sống hoặc tâm trạng được phản ánh trong công
trình nghệ thuật của nhà văn.
Chủ đề là “vấn đề cơ bản, vấn đề trung tâm được tác giả nêu lên, đặt ra và qua
nội dung cụ thể của tác phẩm văn học ” [7, tr. 61].
Đề tài là một khái niệm về loại của hiện tượng đời sống được miêu tả. Có bao
nhiêu hiện tượng đời sống có bấy nhiêu đề tài. Khi nói đến đề tài tác phẩm, ta
không phải chỉ nói tới một đề tài, mà thực chất là một hệ thống đề tài liên quan
nhau, bổ sung cho nhau tạo thành đề tài của tác phẩm. Tương tự như vậy, về bản
chất, chủ đề văn học không bao giờ là vấn đề đơn nhất. Nếu trong thực tại, bản chất
con người đã là một tổng hòa các mối quan hệ xã hội, thì điều đó có nghĩa là bất cứ
một vấn đề nào của con người cũng liên quan đến hàng loạt vấn đề phức tạp khác
của quan hệ xã hội. Vì thế, trong một tác phẩm cũng có chủ đề chính và chủ đề phụ.
Như vậy, thực chất khái niệm đề tài, chủ đề mang tính hệ thống.
Đề tài và chủ đề có mối quan hệ mật thiết với nhau và có mối quan hệ đặc biệt
quan trọng với nội dung tác phẩm. Đề tài và chủ đề là những khái niệm chủ yếu thể
hiện phương diện khách quan của nội dung tác phẩm văn học. Nếu khái niệm đề tài
giúp ta xác định “Tác phẩm viết cái gì ?”, thì khái niệm chủ đề lại giải đáp câu hỏi
Dấu ấn cá nhân là cơ sở để nhận diện con người cá nhân trong văn học. Dấu
ấn cá nhân là biểu hiện của chủ thể con người riêng biệt. Khi nào con người riêng
biệt ấy có ý thức tự khẳng định sự tồn tại, khẳng định giá trị riêng của mình gắn với
ý nghĩa nhân sinh quan của con người thì xuất hiện con người cá nhân. Như vậy con
người cá nhân trong sáng tác văn chương là quá trình tự ý thức về mình của con
người, là cái “tôi” tác giả thể hiện trong tác phẩm - sự diễn tả giãi bày thế giới tư
tưởng, tình cảm, ước mơ khát vọng thầm kín của nhà văn, sự khẳng định vai trò
bản ngã của nhà văn.
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên
9
Văn học viết Việt Nam thời kì trung đại với tư cách là những sản phẩm sáng tạo
tinh thần của những chủ thể - cá thể, đã xuất hiện con người cá nhân. Trong lời kết
cuốn “Về con người cá nhân trong văn học cổ Việt Nam”, Trần Đình Sử khẳng định:
“Con người cá nhân trong văn học trung đại có một quá trình tự ý thức chậm chạp,
lâu dài nhưng mạnh mẽ. Tuy qua từng thời kì lịch sử có chịu ảnh hưởng của các ý
thức hệ thống trị đương thời nhưng không bao giờ đóng khung trong ý thức hệ đó mà
phản ánh quá trình vận động, giải phóng cá tính của con người trong thực tế đời
sống” [26, tr. 194]. Đặc biệt “Từ thế kỷ X đến thế kỷ XVIII con người cá nhân khẳng
định mình bằng cách gắn mình với đạo, với tự nhiên, với nghĩa vụ trong sự nghiệp
chung của cộng đồng, yếu tố quyền lợi cá nhân chưa được chú ý ” [26, tr. 194].
Như vậy có con người cá nhân chưa hẳn đã có chủ đề đời tư. Trong những bài
thơ tự thuật, cảm hoài, ngôn chí, ngôn hoài , các tác giả đã gửi gắm, bộc lộ tâm sự
của mình. Nhưng thời trung đại, chịu ảnh hưởng của tư tưởng Nho giáo và giai đoạn
phát triển của nhà nước phong kiến, con người sống bằng các giá trị chủ yếu như
đạo lí cương thường, cho nên bộc lộ tâm sự mà không thấy tâm trạng, không thấy
cái “tôi” trữ tình riêng, không nhằm nói tiếng nói của cái “tôi” cá biệt mà nói tiếng
thức cá nhân trong văn học. Trên thực tế, chủ đề đời tư chỉ xuất hiện khi con người
có ý thức về cá nhân, cá tính của mình. Bởi thế, một số thể loại văn học dân gian
tiêu biểu không hề có chủ đề đời tư. Chẳng hạn, “Thần thoại là tập hợp những
truyện kể dân gian về các vị thần, các nhân vật anh hùng, các nhân vật sáng tạo văn
hóa, phản ánh quan niệm của người thời cổ về nguồn gốc thế giới và đời sống con
người”. Thần thoại được coi là những sáng tác sớm nhất trong quá trình phát triển
của lịch sử văn học dân tộc. Thần thoại là sản phẩm của người nguyên thủy, khi con
người bắt đầu có ý thức nhưng chưa tách mình ra khỏi tự nhiên. Điều kiện sinh sống
của người nguyên thủy một mặt khiến cho họ không thể đấu tranh với lực lượng tự
nhiên, mặt khác gắn chặt họ với tự nhiên. Sáng tạo thần thoại, người nguyên thủy đã
“dùng tưởng tượng, mượn tưởng tượng để chinh phục sức tự nhiên, chi phối tự
nhiên, hình tượng hóa tự nhiên” [21, tr. 69]. Hàng loạt truyện thần thoại của người
Việt như “Thần trụ trời”, “Sơn tinh thủy tinh”, “Thần mưa”, “Thần mặt trời” “Nữ
thần mặt trăng” “Mười hai bà mụ” đã ra đời như một nhu cầu để nhận thức, lý giải
các hiện tượng tự nhiên và thể hiện khát vọng chinh phục tự nhiên của người Việt
cổ. Như vậy, thần thoại phản ánh mối quan hệ giữa con người và tự nhiên là chủ
yếu. Do đó, ở thần thoại chưa xuất hiện chủ đề đời tư. Tương tự, sử thi ra đời khi xã
hội nguyên thủy đã tan rã, xã hội phong kiến chưa hình thành; là bức tranh rộng và
hoàn chỉnh về đời sống nhân dân với nhân vật trung tâm là những anh hùng, dũng sĩ
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên
11
đại diện cho bộ tộc. Đó là những bài ca ca ngợi những kì tích của toàn thể cộng
đồng mà tiêu biểu là ca ngợi những nhân vật anh hùng trong sự nghiệp xây dựng
đời sống chung như chinh phục tự nhiên, chiến đấu chống kẻ thù bảo vệ bộ tộc
Con người sử thi là những dũng sĩ có sức mạnh, tài năng và vẻ đẹp phi thường. Họ
có thể giết tê giác, bắt voi rừng, quật ngã trâu như Khinh Dú, Xinh Nhã Có thể
quanh, con người tự cho phép mình như một chủ thể tự nhận thức. Và chính sự vượt
lên khuôn khổ, sự tự nhận thức ấy, con người cá nhân đã được khẳng định.
1.2. Chủ đề đời tư trong văn học trung đại
1.2.1. Khái quát chung
Con người trong văn học chịu ảnh hưởng sâu đậm của tư tưởng triết học, thần
học mỗi thời. Giống như con người trong văn học trung đại Trung Quốc mang đậm
dấu ấn của tam giáo Nho, Đạo, Phật, văn học trung đại Việt Nam ra đời và phát
triển dưới các triều đại phong kiến, ảnh hưởng sâu sắc của ý thức hệ phong kiến.
Đặc điểm chung của ý thức trung đại phản ánh vào các luồng tư tưởng này là quan
niệm về con người “vô ngã”. Cả Nho, Phật, Đạo đều chủ trương lý tưởng vô ngã,
phá ngã, vô kỷ Điều này đã chi phối đến cách ứng nhân xử thế, xác định mối quan
hệ qua lại giữa cá nhân và cộng đồng của con người trong văn học.
Có thể nói, thời trung đại cái riêng chưa phát triển, mối quan hệ của con người
là mối quan hệ với cái chung, với cộng đồng, với dân tộc. Nhân cách con người
được tăng cường ở vị trí công dân – một phần tử của đất nước, ít có chỗ cho cá nhân
tự ý thức, có khi hy sinh cũng là sự xả thân để thành nhân.
Tuy vậy, đặc trưng này không phải là sự nhất thành bất biến trong suốt quá
trình phát triển của văn học trung đại. Lý tưởng chung của tam giáo có ảnh hưởng
sâu sắc đến đời sống văn học là vậy, nhưng văn học lại là một lĩnh vực ý thức về
đời sống con người, không thể lược quy con người trong văn học vào các ô có sẵn
của triết học. Văn học trung đại Việt Nam chịu sự chi phối của tư tưởng triết học
Trung Quốc nhưng không đồng nhất với chúng. Con người ta sinh ra, ai cũng có cá
tính, có nhu cầu tự khẳng định mình trong xã hội, trong sự tồn tại của chính mình.
Con người cá nhân riêng tư với những nhu cầu, lợi ích của “đời sống hiện hữu” luôn
tồn tại bên “một đời sống tâm linh”. Người ta không chỉ coi trọng mặt tinh thần của
cuộc sống để trau dồi cho mình những đức tính cần thiết, khi phải đối diện với
những cái thường ngày, những vấn đề của riêng mình, sự tự ý thức về cá nhân sẽ
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên
biết đến như là một nghệ sĩ tài ba, một nhà tư tưởng vĩ đại, một anh hùng kiệt xuất của
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên
14
dân tộc. Tìm hiểu đời tư trong thơ ông, chúng ta còn hiểu hơn về một cá nhân giữa đời
thường, một nhà thơ luôn yêu thương trìu mến với cảnh vật với con người, với đời sống
nghèo mà trong sạch của quê hương: với mồ mả ông bà, với cha mẹ, họ hàng thân
thích; cả những khát khao âm thầm, những ưu sầu nặng lẽ đang diễn ra trong chính bản
thân nhà thơ. Ở giai đoạn lịch sử mà văn học còn chịu sự ngự trị của những tư tưởng
chuẩn mực, những mẫu hình lý tưởng, văn chương quan phương cung đình giàu ý
nghĩa tụng ca vương triều, tụng ca thánh đế thì sự xuất hiện chủ đề đời tư trong thơ
Nguyễn Trãi có ý nghĩa như là “những sáng tạo đột xuất, vượt qua thông lệ, vượt
qua mọi ràng buộc ” [26, tr. 20]. Nguyễn Trãi vừa là tư cách một con người xã
hội, vừa “thấy sự bung tỏa, thấy những lực ly tâm của sự sáng tạo thơ ca ra xa quỹ
đạo quan phương chính thống” [26, tr. 20]. Điều này càng làm tăng thêm vẻ đẹp tài
năng, trí tuệ tâm hồn Nguyễn trãi, tăng thêm nhân cách của một nhà thơ lỗi lạc.
Chủ đề đời tư trong thơ Nguyễn Trãi trước hết được biểu hiện ở mối quan hệ
riêng tư. Đó là tình cảm của nhà thơ đối với cha mẹ, với vợ con, bạn bè, mối quan hệ
trong tình yêu nam nữ và ngay cả với chính bản thân mình.
Cuộc đời Nguyễn Trãi trải qua nhiều biến cố thăng trầm, trong một thời gian dài
phải sống xa quê hương, nỗi nhớ cha mẹ già, nỗi nhớ người thân, hình ảnh quê hương
lối cũ trở đi trở lại day dứt qua những vần thơ:
Non quê ngày nọ chiêm bao thấy,
Viên hạc chăng hờn lại những thương.
(Tự thán 1)
Trái tim nhạy cảm với cội với nguồn ấy không chỉ đập ngày một ngày hai mà trải
dài theo năm tháng:
phú trong những sáng tác của ông.
Hình ảnh một ông già tuổi cao, đầu bạc, đôi mắt lòa, ăn mặc giản dị là hình
ảnh Nguyễn Trãi tự họa mình trong thơ:
Lưỡng nhãn hôn hoa đầu cánh bạch,
Quyên ai hà dĩ đáp quân ân.
(Thứ Cúc Pha tặng phi )
Dịch: Hai mắt đã lòa đầu lại bạc,
Ơn vua chưa đáp, dạ đâu đành.
(Hoạ thơ của Cúc Pha tặng)
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên
16
Hay : Bít bả hài gai khăn cóc
Xềnh xoàng làm mấy đứa thôn nhân
(Mạn thuật 11)
Rồi cuộc sống cần kiệm, thanh đạm mà đầy vui thú, hòa đồng cùng cỏ cây, hoa
lá chim muông, cùng cuộc sống lao động nghèo nơi thôn dã. Đó chính là nơi mà
Nguyễn Trãi tìm lại được sự cân bằng cho tâm hồn bên chốn quan trường ồn ào với
những ganh đua chật hẹp:
Núi láng giềng, chim bầu bạn
Mây khách khứa, nguyệt anh tam.
(Thuật hứng 19)
Cò nằm hạc lặn nên bầu bạn
Ấp ủ cùng ta làm cái con.
(Ngôn chí 20)
Thời Nguyễn Trãi, Nho giáo đang thịnh hành, mọi giá trị văn thơ phải được thể
hiện bằng sự cao quý, trang nhã. Với những vần thơ chân thực, giản dị viết về mình
người. Chất triết luận hài hòa với chất thơ đã tạo ra nét đặc sắc cho thơ trữ tình,
càng hiện rõ hơn trái tim giàu cảm xúc của nhà thơ.
Đây là chút nỗi niềm xốn xang những lúc thu về:
Đêm qua một trận gió vàng,
Nhớ thu sân vắng bàng hoàng lòng ta.
(Thu thanh 1)
Nguyễn Bỉnh Khiêm đã hoàn toàn sống với cõi riêng tư của mình, để mà mơ
màng, nhung nhớ, để vượt lên trên cái hiện thực thối nát của xã hội mà ông đã
không hề sợ sệt dám vạch trần, tố cáo. Con người tràn đầy nhiệt huyết vì nước vì
dân ấy cũng có lúc:
Đêm đợi trăng lồng bóng trúc,
Ngày chờ gió thổi tim hoa.
(Bài 19)
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên
18
Và cũng bao lần:
Nương song ngày trước mùi hương lọt
Thỏa chén, đêm âu, bóng quế tan
(Bài 26)
Vui cùng cảnh lại nhớ người, hình ảnh ánh trăng đêm gợi lại những kỉ niệm
gắn bó son sắt giữa bạn và ta xưa. Tình cảm đậm đà luyến nhớ dâng ngập tâm hồn:
Sơ giao bạn cũ cách xa,
Tấm son biết có đậm đà nữa thôi?
Đau lòng vô cớ lệ rơi,
Nhớ ai luống những bồi hồi xiết đau!
( Cảm cựu 1)
ông. “Nhàn” là biểu hiện của sự “lánh đục về trong”, không ràng buộc bởi vinh hoa
phú quý, không khuất phục bởi thế lực gian tà. “Nhàn” cũng là thái độ tôn trọng tự
do, tự tại, là giải phóng con người cá nhân, nhà thơ được sống với những nhu cầu,
khát vọng riêng của mình. Sau Nguyễn Trãi, Nguyễn Bỉnh Khiêm được coi là tiêu
biểu cho tư tưởng tự do, khát vọng nhàn tản. Ông từng nói:
Trong sạch ai là thiên hạ sĩ,
An nhàn ta chính địa trung tiên.
(Ngụ hứng 25)
Tiên là hình tượng đẹp nhất, quý nhất đối với người trần nhưng tiên phải huyền
thoại, còn đây ông thành tiên giữa chính cõi trần. Đó là khi con người “vô sự”, khi
“danh, lợi lâng lâng gió thổi hoa”:
Thấy đám thanh vân bước ngại chen,
Được nhàn ta xá dưỡng thân nhàn. (Bài 08)
Dửng dưng mọi sự đà ngoài hết,
Nhàn một ngày là tiên một ngày. (Bài
10)
Rồi ông tìm cho mình một cái thú “một mai, một quốc, một cần câu” để sống
trọn niềm vui giữa cuộc đời thanh bần đạm bạc – cuộc đời của những người lao
động thôn quê nghèo khổ.
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên
20
Cũng như Nguyễn Trãi, chủ đề đời tư cũng đã biểu hiện khá sâu sắc trong thơ
Nguyễn Bỉnh Khiêm. Đọc thơ ông chúng ta hiểu thêm về đời sống tình cảm, tâm tư
khát vọng riêng của một con người chỉ biết thuyết minh bằng trí tuệ mà cũng lắng
sâu tình cảm, có sức lay động lòng người.
1.2.2.3. Chủ đề đời tư trong thơ Nguyễn Công Trứ