vấn đề tương tư trong thơ Tản Đà - Pdf 22

MỞ ĐẦU
1. LÍ DO CHỌN ĐỀ TÀI:
- Tản Đà- một nhà thơ tiêu biểu của giai đoạn giao thời Á- Âu, giao thời
giữa hai thi pháp văn chương thế kỉ XIX và thế kỉ XX, nên Tản Đà biểu hiện
đầy đủ sự chuyển giao thời đại giữa cũ sang mới, biểu hiện một bản lĩnh của
sự cách tân, chống lại cái cũ trong mình nhưng lại nhanh chóng bị vượt qua, bị
lạc lòng giữa thời đại mới trong thi ca. Hơn 80 năm , kể từ khi thơ Tản Đà
xuất hiện trên văn đàn, xã hội Việt Nam đã có rất nhiều biến đổi, biến chuyển
và theo nó là tâm thức tiếp nhận cũng thay đổi. Trong dòng chuyển lưu đó,
đánh giá thơ Tản Đà là một việc cần thiết trong sự ba động của vấn đề cảm
thụ và những vấn đề khác.
- Là sinh viên ngành sư phạm Ngữ văn, nghiên cứu về tác giả Tản đà là
một việc làm cần thiết, không chỉ rèn luyện cho mình kĩ năng viết tiểu luận
mà nghiên cứu vấn đề còn giúp bản thân tôi hiểu sâu sắc hơn về tác giả này
cũng như có được một hệ thống kiến thức để làm tư liệu cho quá trình giảng
dạy sau này.
Ví những lí do trên mà tôi đã chọn đề tài: Vấn đề “tương tư” trong thơ Tản Đà
để nghiên cứu.
2. NHIỆM VỤ NGHIÊN CỨU:
- Trình bày những nét cơ bản về cuộc đời và sự nghiệp thơ văn của tác
giả Tản Đà.
- Phân tích, làm rõ vấn đề tương tư trong thơ Tản Đà.
1
3. TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU:
Nếu tính về mặt thời gian, có thể nói từ khi Tản Đà xuất hiện đến khi
ông mất một thời gian dài vẫn chưa có một công trình nghiên cứu cụ thể, toàn
diện về một phương diện nào đó của thơ văn ông. Việc hướng tới nghiên cứu
toàn diện về Tản Đà thì mãi sau này mới thực hiện cuốn “Tản Đà- Khối mâu
thuẫn lớn” của Tầm Dương( NXB Khoa học Hà Nội, 1964).Đa phần Tản Đà
được đề cập đến trong một số quyển sách như cuốn “Nhà văn hiện đại”
(Thăng Long tái bản, Hà Nội, 1960) hay “Việt Nam- Văn học bình

3
trường Hậu bổ vì trượt thi môn vấn đáp tiếng Pháp. Thất bại trong thi cử gắn
liền với đổ vỡ tình duyên đã khiến cuộc đời Tản Đà rẽ sang một ngã khác.
Năm 1915, Tản Đà có tác phẩm đăng trên Đông Dương tạp chí của
Nguyễn Văn Vĩnh và nhanh chóng tạo được tiếng vang trên văn đàn.
Năm 1916, ông lấy bút danh Tản Đà và chính thức chọn con đường của
một người viết văn, làm báo chuyên nghiệp:
“Nước dợn sông Đà con cá nhảy,
Mây trùm non Tản cánh diều bay!”
Từ năm 1916 đến năm 1926 là những năm tháng đắc ý nhất của Tản
Đà.
Cũng vì kế sinh nhai mà Tản Đà phải trôi dạt nhiều nơi: vào Nam, ra
Hà Nội, về quê, ra Quảng Yên rồi về Hà Đông.
Ông mất ở Ngã tư Sở ngày 7 tháng 6 năm 1939 trong cảnh bần hàn, để
lại vợ và đàn con mà theo lời thuật của Nguyễn Tuân thì “vừa yếu lại vừa
đuối”.
Cuộc đời Tản Đà, như thế, dù có những năm tháng đắc ý nhưng nhìn
chung là bất như ý và nhiều đổ vỡ. điều này khiến Tản Đà vốn là một người
đầy tự tin và ngông nghênh phải đối diện với một cảm nhận không ít mệt mỏi,
chua xót: “ Mỗi một phen ra đời là mỗi một phen thất bại; mỗi một phen thất
bại, đầu tóc lại bạc thêm” (Giấc mộng lớn). Nỗi sầu bàng bạc trong thơ văn
Tản Đà một phần đến từ những trải nghiệm rất thực này.
Tuy nhiên, dù phân nửa cuộc đời sau này gắn bó với môi trường đô thị
và tập nhiễm không ít lối sống thị dân thì về cơ bản cốt cách của một nhà Nho
tài tử vẫn rất đậm nét trong con người Tản Đà. Trong một xã hội mà người ta
đã học và làm quen được với sự sùng bái đồng tiền thì Tản Đà trước sau vẫn
4
chọn lối ứng xử của một khách chơi, một bậc trượng phu đầy hào sảng, phóng
túng:
“Thơ lưng chất nặng, tay buồn rỗi

Vấn đề “tương tư” trong thơ Tản Đà
2.1Tình cảm lãng mạn trong thơ Tản Đà:
Trong thơ Tản Đà ta cũng thấy có rất nhiều đề tài như trong thơ Nôm
xưa. Cũng nhàn lạc, tình ái, sầu não, thiên nhiên… nhưng màu sắc lãng mạn
của thơ ông có nhiều biệt thái.
Xét kĩ thì ta thấy ở tình cảm Tản đà một biệt thái này. Đó là khuynh
hướng thoát li. Nếu lãng mạn là một cơn khủng hoảng tinh thần thì quả thật
tới đây người Việt Nam mình mới biết lãng mạn. Đất nước bại vong, xã hội
đổ vỡ, mọi tin tưởng cũng sụp đổ theo. Tản đà tuy hô hào cương thường đạo
nghĩa, song ông không giấu nổi ngay nơi mình nỗi hoài nghi chua chat đối với
những giá trị cũ. Buồn nhân sinh, buồn thế hệ, buồn việc lớn không thành,
buồn chuyện riêng chẳng đẹp, tất cả dồn lại sâu lắng trong tâm hồn và thoát ra
man mác trong thi ca Tản Đà. Nhất là xui tác giả đi tìm cách thoát li thực tại,
tìm quên lãng trong rượu, thơ, trong một vị ăn, một câu nói ngông, một cuộc
phiếm du, một cuộc gặp gỡ trong mộng và nói chung là trong cách sống
phóng túng mà sau năm 1932, thế hệ trẻ sẵn sàng gọi là họ là nghệ sĩ.
Tản Đà là một người đa tình, nhưng không phải là người may mắn
trong tình duyên. Ông là người hay nói về mình, nhưng ta biết những thiên
tình sử của ông thì không có gì gọi là li kì, hấp dẫn. Nhưng cái không dược
thỏa mãn trong thực tế lại được Tản Đà mang vào văn chương, thành những
giấc mơ yêu đương, những lần tương tư. Qua đó, ta biết dược những quan
niệm của ông về tình yêu.
Trước sự thay đổi của thời đại, nhà Nho Tản Đà hay nói về tình yêu,
đem bản thân mình ra làm vật si tình, bộc lộ những khát khao, say mê của tình
7
yêu. Tuy tình yêu của ông có pha lễ giáo, có mang màu sắc cá nhân tư sản,
vẫn không khỏi khuôn khổ tài tử, giai nhân. Nó không đưa đến chống lễ giáo
phong kiến, mà cũng không đòi hỏi giải phóng phụ nữ.
“ Sự nghiệp ngàn năm xa vút mất,
Tài tình một gánh nặng trên vai”

tương tư của người nghệ sĩ mới day dứt, u hoài ra sao. Vì thế nào đi nữa,
tương tư cũng chỉ bộc lộ của cái tình.
2.2 Nỗi tương tư day dứt trong thơ Tản Đà:
Nỗi tương tư của người thi sĩ có lẽ thể hiện rõ nhất ở hai bài “Tương tư”
của ông:
“Quái lạ! Làm sao cứ nhớ nhau,
Nhớ nhau đằng đẵng suốt đêm thâu
Bốn phương mây nước, người đôi ngả,
Hai chữ tương tư một gánh sầu.”
(Tương tư)
Trước hết, tôi xin làm rõ ý nghĩa hai chữ tương tư. “Tương tư”, theo
Hán việt có nghĩa là trai gái thương nhớ nhau. Trong đời sống thường nhật,
tương tư dung để chỉ nỗi nhớ thương đơn phương, u kín trong lòng chàng trai,
cô gái hay một người nào đó. Tương tư đã xuất hiện rất nhiều trong thơ ca dân
gian:
“Mình ơi mình ở đừng đi
Đi thì ta nhớ, ở thì ta thương
9
Phân li cách trở đoạn trường
Con sông nho nhỏ, con đường cát bay”
Hay:
“Ba cô yếm đỏ lên chùa
Một cô yếm đỏ bỏ bùa cho sư
Sư về sư ốm tương tư
Ốm lăn ốm lóc cho sư chọc đầu”
Có thể nói trong những trạng thái của tình cảm thì tương tư là trạng thái
day dứt nhất. Trở lại bài thơ tương tư của Tản Đà, bài thơ chỉ có bảy câu,
nhưng hai mươi từ ấy đã đủ để miêu tả diễn biến tâm trạng tương tư của nhà
thơ một cách phong phú: nhớ nhung, băn khoăn, than thở, mong mỏi…Mở
đầu bài thơ là một câu hỏi bất thình lình:

Nay lại tương tư lại nhớ ai!
Cái giống đa tình ta có một,
Mà người tri kỉ đấy không hai.
Đêm xuân những não tơ tằm rối,
Ngày hạ them thương tiếng cuốc dài.
Vắn vủn đời người thương, não, nhớ,
Đầu ai sao trách ruộm hoa mai”
(Lại tương tư)
“Tương tư” trong thơ Tản Đà rất kín đáo, dè dặt và rất Á Đông, không
chút ầm ĩ mà lại ngân vang lạ. Tản Đà tự nhận mình là “cái giống đa tình”, mà
11
thường đã đa tình thì đường tình duyên hay lận đận. Đường tình duyên lận
đận ắt là hậu quả của sự đa tình. Mặc dù lần này, tương tư trong lòng nhà thơ
đã nồng nhiệt, cao trào hơn ( đến nỗi phạm vi bốn câu thơ đã không thể chứa
đựng nổi), tác giả đã không loanh hoanh nữa mà nói thẳng lòng mình ra, rằng
mình: thương, não, nhớ…nhưng vẫn giữ được nét Á Đông kín đáo: “não” là
“não tơ tằm rối”, “thương” là “thương tiếng cuốc dài”. Kín đáo, dè dặt là thế
nhưng người đọc vẫn hiểu được tâm trạng rối như tơ, ão não như tiếng cuốc
lúc bây giờ của ông. Đọc câu thơ cuối cùng, bất giác tôi chợt nhớ đến hai câu
thơ của Nữ sĩ Xuân Hương:
“Ngán nỗi xuân đi xuân lại lại
Mảnh tình san sẻ tí con con”
Phải chăng giờ đây Tản Đà cũng mang tâm sự như Xuân Hương thuở
trước. Đời người trôi qua nhanh đến mức làm người ta ngao ngán. Nếu khi
xưa Xuân Hương tiếc cho tuổi xuân của mình thì giờ đây Tản Đà vì cái
“thương, não, nhớ” làm cho mình già đi mau chóng “Đầu ai sao trách ruộm
hoa mai”. Đây là sự luyến tiếc đến từ hai tâm hồn đồng điệu.
Hay trong bài Ngày xuân tương tư:
“Trách cái tầm xuân nhả mối tơ,
Làm cho bối rối cái tương tư.

làm cho nhà thơ vơi bớt nỗi lòng mà luống thẩn thơ hơn. Một lần nữa hình
ảnh tằm nhả tơ lại xuất hiện trong thơ ông.
13
Nỗi nhớ của ông nhiều khi thật ai oán, nó làm cho lòng ông nổi lên lắm
điệu sầu thảm, như vượn hót đầu ghềnh, như chim kêu hốc đá, thật là vô cùng
cảm động:
“Suối tuôn róc rách ngang đèo,
Gió thu bay lá, bóng chiều vế tây.
Chung quanh những đá cùng cây,
Biết người tri kỷ đâu đây mà tìm?
Hỏi thăm những cá cùng chim,
Chim bay xa bóng, cá chìm mất tăm!
Bây giờ vắng mặt tri âm,
Lấy ai là kẻ đồng tâm với mình!
Nước non vắng khách hữu tình,
Non xanh nước biếc cho mình nhớ ai!”
Tương tư bây giờ đã được ngoại cảnh làm cho mãnh liệt. Cảnh đẹp và
lãng mạn vậy, thế nhưng người tri kỷ đả đi đâu mất tăm, xa bóng. Nước non
đẹp vẫn không làm ta nguôi thương nhớ mà giờ đây cảnh đẹp đã không đủ sức
để lọt vào tầm mắt người thi sĩ nữa. Đôi mắt ấy đăm đăm nhìn và kiếm tìm rồi
lại thất vọng biết bao. “Non xanh nước biếc” càng làm cho mình nhớ ai đó
nhiều hơn nữa. Tản Đà lại lần nữa đặt ra câu hỏi:
“Ai đi đường ấy cùng mình
Mình đi để lại khối tình ngổn ngang”
(Khối tình con I)
Nhưng dù sao thì thi sĩ cũng phải thất vọng về tình, vì những điều
thương nhớ của tác giả đều là những thương nhớ hão:
“Bềnh bồng mặt nước chân mây,
Đêm đêm sương tuyết, ngày ngày nắng mưa.
14

“Thôn Đoài ngồi nhớ thôn Đông,
Một người chín nhớ mười mong một người.
Gió mưa là bệnh của trời,
Tương tư là bệnh của tôi yêu nàng.
Hai thôn chung lại một làng,
Cớ sao bên ấy chẳng sang bên này?
Ngày qua ngày lại qua ngày,
Lá xanh nhuộm đỏ thành cây lá vàng.
Bảo rằng cách trở đò giang,
Không sang là chẳng đường sang đã đành;
Nhưng đây cách một đầu đình,
Có xa xôi mấy mà tình xa xôi.
Tương tư thức mấy đêm rồi,
Biết cho ai biết, ai người biết cho.
Bao giờ bến mới gặp đò,
Hoa khuê các, bướm giang hồ gặp nhau.
Nhà em có một giàn giầu,
Nhà anh có một hàng cau liên phòng.
Thôn Đoài thì nhớ thôn Đông,
Cau thôn Đoài nhớ giầu không thôn nào?”
16
Trong bài thơ, Nguyễn Bính đã diễn tả được trạng thái tương tư và nỗi
nhớ khi tuổi trẻ làng quê đã bước vào chuyện yêu đương. Ở đây là tam lí tình
cảm hướng ngoại còn với Tàn Đà là tình cảm hướng vào bên trong tâm hồn
mình. Tương tư trong thơ Nguyễn Bính có không gian, bối cảnh nhất định còn
tương tư trong thơ Tản Đà bất thình lình, có thể chỉ là một phút giây tự hỏi:
“ Quái lạ! Làm sao cứ nhớ nhau”
Tương tư trong thơ Nguyễn Bính đó là cả một quá trình chuyển biến
của tâm trạng còn với Tản Đà, tương tư là vòng lẩn quẩn từ bài thơ này
chuyển tiếp sang bài thơ khác. Nguyễn Bính e dè trong cái vẻ chân quê đằm

Đủng đỉnh ghe nan dòng Hát thủy,
Phất phơ tà áo ngọn đông phong.
(Xem cô chài đánh cá)
Lại đâm ra nhớ chị hàng cau:
“ Ngồi buồn đâm nhớp chị hàng cau,
Khoảng mấy năm trời ở những đâu…
Bèo nước hợp tan người một nẻo,
Cậy ai mà nhắn một đôi câu…”
Ông cũng không ngần ngại nhắn gửi với chị Hằng:
“Hạc kia bay bổng tuyệt vời
Hỏi thăm cung Nguyệt cho người trọ không?”
18
(Bài Trông hạc bay)
Tình yêu của ông đôi khi lại không có chủ đích, không có đối tượng.
Không những tương tư người tình quen biết mà ông còn tương tư với cả người
tình không quen biết. Ông còn viết thư thăm hỏi:
“Ngồi buồn lấy giấy viết thư chơi,
Viết bức thư này gửi đến ai?
Non nước xa khơi tình bỡ ngỡ,
Ai tri âm đó nhận mà coi.

Lòng kia hỡi có tin lòng
Nước non xa cách nghìn trùng chưa xa.”
(Thư gửi người tình nhân không quen biết)
Rồi khi người tình nhân ấy hững hờ không hồi âm cho mình, Tản Đà đã
viết tiếp hai bức thư để mà trách móc:
“ Ngồi buồn lại viết thư chơi,
Viết bức thư này gửi trách ai.
Non nước bấy lâu lòng tưởng nhớ,
Mà ai tri kỉ vắng tăm hơi.

túy chỉ là sự tưởng tượng của nhà thơ. Nhà thơ sáng tạo nên tình cảm và cả
đối tượng tình cảm của mình.Người “tình nhân không quen biết” của Tản Đà
là hình ảnh xa lạ vô phương đến gần hay chạm mặt, đồng thời lại hiện hữu
ngay trong mộng tưởng của thi sĩ.
20
Và điều quan trọng “người tình nhân” đó cũng như những tình cảm nhớ
mong, trách móc gửi đến nàng, tất cả chỉ là sản phẩm của trí tưởng tượng làm
nên cơn rung động say sưa và xuất thần của thi sĩ, tất cả chỉ là một trò chơi kì
diệu của trí tưởng tượng. Nhưng Tản Đà đã sống thật và sống trọn vẹn đến nỗi
người ta có thể lầm tưởng trò chơi đó chính là sự thật của cuộc đời.
Tưởng tượng “người tình nhân không quen biết” kia là một hình bóng
thấp thoáng ẩn hiện một nơi nào đó trong một khoảng cách vừa đủ để thi sĩ
được quyến luyến, nhớ nhung. Tưởng tượng thi sĩ đã kinh nghiệm, đã sống
tình cảm lãng mạn kia ngay trong da thịt và tâm hồn mình. Nếu đối với những
người khác, nếu đề một bài thơ như vậy có lẽ là chuyện bất thường, còn đối
với Tản Đà đây là chuyện bình thường. Bình thường bởi vì ông đã từng “nói
chuyện với ảnh”, “đề ảnh mĩ nhân”, “ghẹo người vu vơ”, “nói chuyện với
bóng”… Trong mối tương tư của Tản Đà, rốt cuộc chỉ còn lại Tản Đà. Chỉ
còn lại trời thơ và mộng thơ bát ngát đang chắp cánh bay cao đến những vòm
trời ảo diệu nhất. Những tình cảm của Tản Đà dù thắm đẫm chất đam mê, lãng
mạn hy cao thượng, nhẹ nhàng, phải chăng tất cả chỉ đều là thể hiện một tâm
hồn thanh thoát, không vướng bận, sẵn sàng quay lưng trước thực tế, để được
sống trọn cho thế giới ảo tưỏng của mình. Tác giả “tương tư” ai? Có lẽ điều
này không còn là đáng kể nữa. Đáng kể chăng là mối tương tư của thi sĩ, mối
tương tư như động lực căn bản thúc đẩy chữ nghĩa tuôn trào dưới ngòi bút thi
sĩ. Đối tượng tương tư: một kẻ nào đó không tên tuổi, không hình hài, không
lí lịch…Một kẻ nò đó tức là không một kẻ nào, không một ai. Vậy thì tương
tư kẻ nào đó, điều này cũng có ý nghĩa là tương tư chính mối tương của mình.
“Tương tư một gánh hai người biết,
Ai đọc thơ này đã biết chưa?”


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status