Vấn đề cái chết trong thơ Xuân Quỳnh
Nếu như những sáng tác của Xuân Quỳnh thường được giới nghiên cứu nhìn nhận và tìm
hiểu trên phương diện thơ tình nồng cháy thì ở bài nghiên cứu này, người viết muốn đi
vào một phương diện khác mới mẻ hơn, ít được quan tâm đến, đó là Vấn đề cái chết trong
thơ Xuân Quỳnh.
MỞ ĐẦU
Văn học Việt Nam thời kì chống Mỹ cứu nước (1964 -1975) đã phát triển mạnh mẽ và đạt
được những thành tựu nhất định trên nhiều thể loại (thơ ca, văn xuôi, kịch, tiểu luận, phê bình
văn học); hoàn thành sứ mệnh lịch sử của mình, viết nên cuốn “Biên niên văn học” về cuộc chiến
tranh ái quốc vĩ đại của dân tộc. Trong sự phát triển chung đó, có một dòng thơ mới ra đời, đó là
thơ của những nhà thơ trẻ, mà sau này chúng ta gọi là thế hệ thơ trẻ thời kì chống Mỹ. Họ viết
bằng sức trẻ và nguồn cảm hứng dồi dào của mình, góp phần làm nên diện mạo cho một giai
đoạn lớn trong lịch sử văn học dân tộc.
Trong dòng chảy chung ấy, khi hầu hết những nhà thơ đang hướng ngòi bút để khắc họa
cuộc chiến tranh hào hùng của dân tộc bằng giọng điệu ngợi ca hào sảng, bằng sự khích lệ động
viên của khuynh hướng sử thi và cảm hứng lãng mạn như những cây bút trong giai đoạn trước,
thì có một nhà thơ nổi lên như một hiện tượng dám nghĩ, dám làm, dám viết, dám sống với
những nhịp đập chân thành từ trái tim mình. Con người ấy cháy mãnh liệt trong tình yêu, yêu hết
mình nhưng bằng sự nhạy cảm của một trái tim nghệ sĩ, con người ấy cũng dự cảm được những
cô đơn, trắc trở trong tình yêu và hơn nữa là cả cái chết của đồng đội và bản thân mình. Đó là nữ
thi sĩ Xuân Quỳnh. Nếu như những sáng tác của Xuân Quỳnh thường được giới nghiên cứu nhìn
nhận và tìm hiểu trên phương diện thơ tình nồng cháy thì ở bài nghiên cứu này, người viết muốn
đi vào một phương diện khác mới mẻ hơn, ít được quan tâm đến, đó là Vấn đề cái chết trong
thơ Xuân Quỳnh.
NỘI DUNG
CHƯƠNG 1: VẤN ĐỀ CÁI CHẾT TRONG VĂN HỌC
1.1- Cái chết trong cuộc sống – cái chết sinh học
Theo Từ điển Tiếng Việt, chết là mất khả năng sống, không còn biểu hiện của sự sống.
Về hình thức diễn đạt, con người hoang sơ tiền cổ đã ghi lại cái chết qua các hình tượng
trên các giáp cốt hoặc tường đá, hang động. Về hình thức tống táng, các nền văn hóa văn minh
khác nhau đã có những nghi lễ khác nhau: hỏa táng rồi thủy táng tro ở sông Hằng, những xác
Đó có thể là cái chết Á Đông như trong những tác phẩm văn học trung đại viết về cái chết
theo quan niệm Đạo giáo, Nho giáo, Phật giáo (có thể kể đến những bài thơ của các Thiền sư,
các bài thơ của các Nho sĩ…). Hay cái chết vương vấn ám ảnh trong những sáng tác hoài cổ pha
không khí siêu thực của Xuân Thu Nhã Tập trong “Màu thời gian” của Đoàn Phú Tứ.
Hai cuộc chiến tranh chống Pháp và chống Mỹ 1945 - 1975 với hậu quả là những cảnh chết
chóc và những cái chết tàn bạo, bất ngờ; cái chết trong cuộc đời còn đa dạng và quá nhiều, hơn
cả tác phẩm của mọi thời đại văn học. Trong thế giới văn chương, dù đã rất hạn chế do chịu ảnh
hưởng của khuynh hướng sử thi và cảm hứng lãng mạn, nhưng chúng ta vẫn có những cái chết
kí sự và kinh qua của Thảo Trường (Vuốt Mắt - 1969), Thế Uyên (Những Hạt Cát - 1964, Ngoài
Đêm - 1965, Nỗi Chết Không Rời - 1966), Nguyên Vũ (Trở Về Từ Cõi Chết - 1967, Chết Không
Nhắm Mắt - 1968), Nguyễn Minh Nữu (Những Giọt Máu Giăng Ngang)…
Đó có thể là cái chết kinh dị, trinh thám xuất hiện trong những truyện kinh dị, truyện/ tiểu
thuyết trinh thám với những đề tài khủng khiếp và những cái chết tưởng như ngẫu nhiên đã
được sắp đặt trước. Những cái chết theo kiểu này thường xuất hiện trong các sáng tác được
chuyển thể thành phim kinh dị, phim trinh thám.
Tiểu kết: Như vậy, cái chết không phải đề tài xa lạ gì với văn học. Song như đã nói, mỗi giai
đoạn lịch sử lại có những nội dung và hình thức biểu hiện riêng. Trong giai đoạn kháng chiến
chống Mỹ cứu nước của dân tộc, khi cả nước đang hăng hái chiến đấu, khi khuynh hướng sử thi
và cảm hứng lãng mạn đang bao trùm bầu trời văn học thì việc cái chết xuất hiện trong văn
chương trở thành điều hiếm hoi.
CHƯƠNG 2: NHỮNG CÁI CHẾT TRONG THƠ XUÂN QUỲNH
2.1- Thống kê tần số xuất hiện cái chết trong thơ Xuân Quỳnh
Danh ngôn thế giới có câu: “Sự chết là con lạc đà đen quỳ đợi ngay trước cổng nhà của tất
cả mọi người.” (Abe- el -Kader)
Sinh, lão, bệnh, tử là quy luật của tự nhiên. Không ai tránh khỏi cái chết giống như không ai
đi ngược lại được với quy luật của tự nhiên, bởi vậy không ai là không nghĩ đến nó. Nhưng vấn
đề là người ta quan tâm đến nó nhiều hay ít và bộc lộ sự ám ảnh đó dưới hình thức nào. Đối với
nhiều văn nghệ sĩ, tác phẩm nghệ thuật là nơi thăng hoa và giải thoát thích hợp nhất cho những
dự cảm và triết lý của họ về cái chết. Xuân Quỳnh cũng vậy, những dự cảm về sự chia lìa, tan
tác, chết chóc xuất hiện rất nhiều trong sáng tác của bà, đặc biệt là trong thơ. Cho dù nổi lên là
sắc. Với lòng căm thù ấy, có gì hơn là cầm súng chiến đấu để trả thù cho những đồng bào vô tội
đã hi sinh? Bởi thế, đâu phải cứ viết về cái chết là làm nhụt chí chiến đấu! Dành hết trí lực để
quan tâm nhiều đến cái chết của đồng bào cho nên đã có những lúc bà sẵn sàng xoá tên người
yêu ra khỏi bộ nhớ của mình:
Dẫu trong em một tình yêu đã mất
Em không còn đủ sức nghĩ về anh.
(Mười hai ngày)
Song riêng “Vết đạn trên tường” thì cứ ám ảnh bà, bởi nó là hiện thân của sự chết chóc :
Nhiều việc quá, khó ai mà nhớ hết
Riêng vết đạn trên tường không dễ nào quên.
Không riêng gì Xuân Quỳnh mà bất cứ ai thời đó cũng bị ám ảnh bởi cái chết, bởi “Các bãi
sông đầy bom nổ chậm”, “Mọi con đường mang nỗi đau đạn lửa”… đang ngày đêm đe dọa sự
sống còn của con người. Sự hiểm nguy và chết chóc đã trở nên quá quen thuộc với con người
thời đó – những con người “đã quen nhiều gian khổ/ đã quen nhiều hy sinh”. Trong “ngàn cái
chết” mà Xuân Quỳnh gặp, có nhiều đồng đội vừa mới kề vai sát cánh với bà:
Các anh nằm bên những ngã ba
Nơi bom dội không còn ngọn cỏ.
Hay:
Dòng nước lợ mang máu anh về bể
… Máu của cô nhuộm đỏ bờ lau …
Viết về chiến tranh, viết về cái chết, Xuân Quỳnh không dùng cách nói giảm nói tránh như
những nhà thơ cùng thời, bà dám nhìn thẳng vào sự thật để nói, để viết. Bà cứ nói thật những
nỗi đau mà chính bà cũng đã từng trải, từng đau; cứ viết về máu đồng đội, máu mình từng chảy:
Máu đồng đội và máu tôi đã đổ
Trên cát này mà gió quạt vừa se.
(Gió Lào cát trắng)
Máu của em, máu của anh
Thấm bên góc phố, chân thành ngày xưa.
(Lai lịch một tình yêu)
Thơ Xuân Quỳnh đề cập quá nhiều đến cái chết, mặc dù bà vẫn biết rằng “Người chết sẽ
Anh, con đường xa ngái
Anh, bức vẽ không màu
Anh, ngàn nỗi lo âu
Anh, câu thơ nổi gió…
Mà em người đời thường
Biết là anh có ở!
(Anh)
Thần Chết thường là bạn đồng hành với Thời Gian. Những người đa tình, ham sống
thường rất ghét Thời Gian. Nữ sĩ Xuân Hương than thở “Ngán nỗi xuân đi, xuân lại lại” (Tự tình
II); Xuân Diệu cũng chua chát thốt lên : “Mà xuân hết nghĩa là tôi cũng mất” (Vội vàng). Phải
chăng vì cũng mang trong mình chữ “Xuân” nên Xuân Quỳnh cũng không khỏi lo âu và tự hỏi
“Mùa xuân sẽ về đâu/ Khi nơi này xuân hết?” (Mười bảy tuổi) (?). Là một người nhạy cảm, Xuân
Quỳnh rất lo sợ cho thân phận tình yêu :
Em đâu dám nghĩ là vĩnh viễn
Hôm nay yêu, mai có thể xa rồi
Niềm đau đớn tưởng như vô tận.
(Nói cùng anh).
Yêu nhiều và lo lắng quá nhiều thứ trong cuộc sống đời thường như vậy đã làm cho con
tim Xuân Quỳnh mệt mỏi. Bà đã cảm nhận điều đó trong bài “Tự hát”:
Em lo âu trước xa tắp đường mình
Trái tim đập những điều không thể nói
Trái tim đập cồn cào cơn đói
Ngọn lửa nào le lói giữa cô đơn.
Bà đã biết trước đời mình như một ngọn đèn le lói sắp tắt. Tháng 6/1988, Xuân Quỳnh bị
đau tim nặng phải vào bệnh viện. Trên giường bệnh, bà làm bài thơ “Thời gian trắng” thể hiện rõ
sự ám ảnh về cái chết :
Em ở đây không sớm không chiều
Thời gian trắng, không gian toàn màu trắng
Trái tim đập sau làn áo mỏng
Từng đập vì anh, vì những trang thơ
một nỗ lực thoát khỏi chơ vơ định mệnh (…) và phải đến khi tai nạn phũ phàng ập xuống quá bất
ngờ, người đời mới thấy rằng những dự cảm lo âu suốt một đời người, một đời thơ ấy sao mà linh
nghiệm”. Có lẽ số phận đã để cho Xuân Quỳnh nhìn thấy trước được tương lai để nỗ lực vượt
thoát, nhưng cuối cùng sự nghiệt ngã vẫn đổ ập lên đầu người đàn bà xấu số. Lưu Khánh Thơ
cũng nhận định: “Có cái gì như là định mệnh khi chị kết thúc cuộc đời cùng chồng con vào một
ngày tháng 8 đau xót. Chị vĩnh biệt chúng ta vào mùa thu. Những bông hoa cúc vàng mà chị đã
từng yêu, từng nói đến trong các bài thơ đã phủ kín ngôi mộ. Những bông hoa phúng điếu, tưởng
niệm rồi sẽ tàn.”
Có người đã “xem tướng số” qua đôi mắt và giọng nói của Xuân Quỳnh như sau: Đôi mắt
“Vừa chăm chắm, vừa phiền muộn và đâu đó hình như có những giọt nước mắt ngấp nghé chỉ
muốn trào qua bờ mi. Đặc biệt nhất là giọng nói, bao giờ giọng nói của Quỳnh cũng run rẩy
nghẹn ngào như có tiếng khóc ở bên trong. Bằng vào hai thông số đặc biệt ấy của chân dung,
người ta không thể đoán định một số phận tốt hơn cho Xuân Quỳnh.” (Nguyễn Thị Minh Thái –
“Một giọng thơ tình ám ảnh”). Có lẽ ở Xuân Quỳnh có một sự sắp đặt sẵn nào đó của tạo hóa,
cho bà một tài năng xuất chúng, một nhan sắc hiếm có và cũng “cho” bà một cuộc đời không
kém phần bất hạnh.
2.4.2- Nguyên nhân chủ quan
Từ ngàn xưa, con người đã lo nghĩ về cái chết, về sự chia lìa, như một nhà nghiên cứu
văn học đã nhận định: “Nỗi day dứt vào bậc nhất trong suy cảm trữ tình của con người bao đời
nay là day dứt về chuyện CÒN – MẤT của những gì với mình là quý giá thiêng liêng. Người càng
giàu tiên cảm, giàu dự cảm lo âu về mất mát rủi ro, thì day dứt càng ám ảnh hơn” . Thơ Xuân
Quỳnh tràn ngập những suy tư, trăn trở về việc sống – chết. Vì sao mà hình thành một cái Tôi
Xuân Quỳnh mang nhiều ám ảnh về cái chết như vậy? Nguyên nhân chủ quan dẫn đến điều này
là do tuổi thơ Xuân Quỳnh và bản thân con người bà.
Mẹ Xuân Quỳnh mất khi bà còn quá nhỏ, cha thường xuyên đi làm xa và sau này lấy vợ
khác rồi vào Nam sinh sống, Xuân Quỳnh sống chủ yếu với bà nội. Suốt đời Xuân Quỳnh sống
thiếu thốn tình cảm của cha mẹ. Theo lời Đông Mai (Chị ruột Xuân Quỳnh) “Nỗi đau mất mẹ đã
ám ảnh suốt một đời Quỳnh”. Bà đã sớm hình thành nỗi đau của một đứa trẻ bơ vơ côi cút giữa
dòng đời: “Tuổi thơ tôi lạc lõng giữa đời/ Như một cánh chim bơ vơ mất tổ” (Tiếng mẹ). Có lẽ vì
thiếu thốn tình thương nên Xuân Quỳnh luôn lo sợ sự yêu thương mong manh sẽ rời bỏ bà mà đi
Lối nói nửa trực tiếp, nửa gián tiếp này của Xuân Quỳnh tạo ra một hiệu ứng rất
mạnh. “Những đám mây mang hình nấm giết người” kia phải chăng vốn chẳng ghê sợ đến thế,
nhưng cái chết chóc của hiện thực trên mặt đất chiến tranh đã bốc lên, nhuốm lấy, nhuộm vào và
nhào nặn nó thành hình hài của cái chết?
3.2- Biểu hiện gián tiếp
Khi viết về tình yêu, đặc biệt là nhắc đến cái chết, sự chia li, tàn tạ, Xuân Quỳnh tuyệt đại đa
số né tránh những từ ngữ chết chóc. Cùng thể hiện nội dung chết chóc, bi thương, song với
mảng đề tài này, Xuân Quỳnh lại lựa chọn lối biểu hiện gián tiếp qua các hình ảnh thơ lấy từ thiên
nhiên hay cuộc sống con người làm biểu tượng ẩn dụ. Bởi lẽ con người yêu thương, khát khao
cháy bỏng ấy muốn yêu và được yêu hơn bao giờ hết; dù có những dự cảm, song đấy không
phải điều Xuân Quỳnh mong muốn, vì vậy bà phải nói tránh đi, khác đi.
Chỉ chút thời gian từng phút từng giờ
Như kẻ khó tính từng hào keo kiệt
Tôi biết chắc mùa xuân rồi sẽ hết
Hôm nay non, mai cỏ sẽ già.
(Có một thời như thế)
Cách nói “Hôm nay non, mai cỏ sẽ già” của Xuân Quỳnh có khác gì Xuân Diệu “Xuân đương
tới nghĩa là xuân đương qua/ Xuân còn non nghĩa là xuân sẽ già”? Dùng sự tàn phai nhanh
chóng của cỏ cây để nói về sự tàn phai nhanh chóng của tình yêu, Xuân Quỳnh quả thực tinh tế
biết bao. Hay cho cái tâm hồn nhạy cảm kia đang run lên từng hồi bởi lo sợ, bởi những dự cảm
không lành cho một tình yêu “chưa tìm thấy”.
Xuân Quỳnh như cánh chuồn báo bão bé nhỏ, mỏng manh, cô đơn, lạc lõng trước sóng
gió cuộc đời. Cánh chuồn ấy mỏng manh báo tin bão tới, rồi chao đi chao lại tìm kiếm một chốn
yên lành cho mình trong sự khắc nghiệt của bão tố cuộc đời mà chẳng thấy:
Và mây, mây khắp chốn lang thang
Chặn bốn phía những cỏ cây tội nghiệp
Cho cơn lốc dữ tợn về bẻ nát
Trái đất này sẽ nhận chìm trong mưa
Không tìm đâu một chỗ nương nhờ!
Mỏng manh thế làm sao chịu nổi