.
E 3
1.2.3.2. Trong văn chính luận 24
1.2.3.3. Trong thơ văn nghệ thuật 25
TIỂU KẾT CHƯƠNG 1 26
Chương 2: ẨN DỤ TU TỪ TRONG THƠ XUÂN QUỲNH 27
2.1. Thống kê phân loại 27
2.1.1. Tư liệu thống kê 27
2.1.2. Mục đích thống kê 27
2.1.3. Kết quả thống kê. 27
2.1.3.1. Bảng thống kê về ẩn dụ tu từ trong thơ của Xuân Quỳnh 27
2.1.3.2. Nhận xét 29
2. Giá trị ẩn dụ tu từ trong thơ Xuân Quỳnh 30
2.1. Ẩn dụ tu từ biểu thị cho phong cách thơ Xuân Quỳnh 30
2.2. Giá trị biểu cảm của ẩn dụ tu từ trong thơ Xuân Quỳnh 35
2.3 Phân tích bài thơ “Tiếng gà trưa” 45
TIỂU KẾT CHƯƠNG 2 49
KẾT LUẬN 50
TÀI LIỆU THAM KHẢO 52
1
1.
Trong nền văn học Việt Nam hiện đại, Xuân Quỳnh là một tác giả nữ có
phong cách và bản sắc riêng khá rõ nét. Trải qua năm tháng sống và viết, yêu
thương và lao động nghệ thuật hết mình, Xuân Quỳnh đã để lại cho đời một di
sản văn học thật đáng quý. Ngòi bút của chị đã được thử thách qua thời gian và
nhiều loại chủ đề khác nhau. Trong đó có những bài thơ tình yêu đã đạt tới đỉnh
cao. Dù đi vào những vấn đề lớn của đất nước hay trở về với những tình cảm
riêng tư, thơ Xuân Quỳnh bao giờ cũng là tiếng nói rất riêng của một tâm hồn
phụ nữ thông minh, sắc sảo, đầy nữ tính. Đọc những tác phẩm của Xuân Quỳnh,
chúng ta gần như hình dung được chị đã sống ra sao, đã yêu thương day dứt
truyền thống, phương pháp dạy tích hợp giữa ba môn tiếng Việt, làm văn, Đọc
văn trong chương trình Ngữ Văn ngày càng được chú trọng, được quan tâm từ
phía giáo viên giảng dạy.
Nhưng thực tế hiện nay trong nhà trường phổ thông cho thấy những
phương tiện , biện pháp tu từ xuất hiện trong tác phẩm ít được giáo viên và học
sinh phân tích kĩ lưỡng, tỉ mỉ. Giáo viên chỉ định hướng khái quát cho học sinh.
Họ chưa coi đây là một phương pháp có hiệu quả rất lớn để đi vào chiều sâu nội
dung, tư tưởng bài thơ. Chính vì vậy mà khi phân tích Xuân Quỳnh, giáo viên
chưa giúp học sinh cảm nhận thật sâu sắc cái hay, cái đẹp của các phương tiện
và biện pháp tu từ, trong đó có ẩn dụ tu từ mang lại. Để góp một phần nhỏ vào
việc khắc phục tình trạng trên, chúng tôi đã lựa chọn tìm hiểu nghiên cứu về “Sự
thể hiện của ẩn dụ tu từ trong thơ Xuân Quỳnh”. Thiết nghĩ đây là việc làm cần
thiết với những ai yêu thích, có mối quan tâm sâu sắc đến thơ của chị.
2.
Việc tìm hiểu phương thức ẩn dụ đã từ lâu được các nhà nghiên cứu quan
tâm. Trong các giáo trình về từ vựng học tiếng Việt: Nguyễn Văn Tu, Đỗ Hữu
Châu, Nguyễn Thiện Giáp đều nói đến hiện tượng chuyển nghĩa nói chung và
phương thức ẩn dụ nói riêng
Bên cạnh đó, các tác giả viết về phong cách học như: Đinh Trọng Lạc, Cù
Đình Tú, Nguyễn Thái Hòa, Hữu Đạt cho rằng ẩn dụ là một phép tu từ dùng
để trang trí, góp phần làm giàu hình tượng, cảm xúc tiếng Việt. Song ở mỗi tác
giả, ở mỗi thời điểm lại có cách gọi và phân loại khác nhau.
Nguyễn Thái Hòa, gọi ẩn dụ là phương thức chuyển nghĩa, có khả năng gợi
hình, gợi cảm. Về mặt ý nghĩa, tác giả phân ẩn dụ ra làm ba loại: “Từ cụ thể đến
cụ thể, từ cụ thể đến trừu tượng và từ trừu tượng đến cụ thể”. Cách phân loại này
dựa vào tính cụ thể của đối tượng chọn làm ẩn dụ. Với cách phân chia này, mối
quan hệ tương đồng giữa hai sự vật, hai hiện tượng chưa được thể hiện rõ nét và
cũng chưa thấy được tính đa dạng, phong phú của ẩn dụ tu từ.
Cù Đình Tú, xem ẩn dụ “là cách cá nhân lâm thời lấy tên gọi biểu thị đối
tượng này dùng để biểu thị đối tượng kia dựa trên cơ sở của mối liên tưởng về
chọn, nhà xuất bản phụ nữ)
- Bài viết Con người và nhà thơ của Lại Nguyên Ân (Hội nhà văn Việt
Nam – Báo văn học tuổi trẻ, tháng 6 năm 1995)
Nghiên cứu về thơ Xuân Quỳnh chưa nhiều song phần lớn các ý kiến đều
đánh giá khá cao thơ chị.
Trong: Nữ sĩ Xuân Quỳnh – cuộc đời để lại bài viết “ Cảm nhận về thơ
Xuân Quỳnh” Lưu Khánh Thơ có viết: Từ lúc xuất hiện cho đến khi vĩnh biệt
cuộc đời, quá trình sáng tác thơ của Xuân Quỳnh là một chặng đường đi lên
không hề đứt đoạn. Hồn thơ của chị ngày càng đa dạng và không ngừng được
4
mở ra. Ngòi bút của Xuân Quỳnh đã được thử thách qua thời gian, với nhiều
loại chủ đề khác nhau [8].
Bên cạnh đó, Lại Nguyên Ân thì cho rằng: Xuân Quỳnh là hiện tượng rất
quan trọng của nền thơ chúng ta. Có lẽ là từ Hồ Xuân Hương, qua các chặng
phát triển, phải đến Xuân Quỳnh, nền thơ ấy mới thấy lại một nữ thi sĩ mà tài
năng và sự đa dạng của tâm hồn được thể hiện một tầm cỡ đáng kể như vậy, dồi
dào phong phú như vậy[8].
Hay như Mai Quốc Liên đã có lần nhận xét: Chưa có ai đã biểu hiện sự
thương yêu sâu xa, đằm thắm đến thế trong thơ tình Việt Nam như Xuân Quỳnh.
Chu Văn Nga trong bài viết: Xuân Quỳnh – một chồi thơ sắc biếc cũng đã
nhận xét rất chân thật dòng cảm xúc của mình về thơ Xuân Quỳnh: Tôi yêu thơ
Xuân Quỳnh trước tiên vì nét trẻ trung, tươi tắn cái vẻ hồn nhiên cởi mở của
người làm thơ, yêu cách viết nghịch ngợm, dí dỏm, không cần làm duyên nhưng
vẫn có cái duyên của người cầm bút[8].
Khi nhận xét về nghệ thuật trong thơ Xuân Quỳnh, đặc biệt là về giọng thơ,
Nguyễn Thị Minh Thái đã nói: Những câu thơ ấy giống hệt những giọt nước sau
cơn mưa còn đọng lại trên lá cây. Chỉ cần một làn cảm xúc chợt đến khi chạm
vào lá, là những câu thơ ấy sẽ rơi rụng ngay xuống một vùng tâm thức mồn một
hiện lên giữa lòng ta[8].
Khóa luận nghiên cứu thành công chính là tài liệu tham khảo cho những ai
yêu mến, thích thú, quan tâm tới thơ Xuân Quỳnh nói chung và các bạn sinh
viên ngành Ngữ Văn nói riêng trong học tập, nghiên cứu và giảng dạy.
Khi nghiên cứu khóa luận này, chúng tôi tiến hành các bước sau:
Thứ nhất: Tìm hiểu chung về phương tiện tu từ, biện pháp tu từ và phương
tiện tu từ ngữ nghĩa: Ẩn dụ tu từ, làm cơ sở vững chắc để soi rọi vào trong thơ
ca Xuân Quỳnh nhằm tìm ra những biện pháp, phương tiện tu từ này một cách
khoa học, chính xác và khách quan.
Thứ hai: Tiến hành khảo sát thơ ca Xuân Quỳnh, tìm ra những bài thơ, câu thơ
có sử dụng ẩn dụ tu từ để từ đó rút ra nhận xét, đánh giá khái quát về phong cách sử
dụng các phương tiện và biện pháp tu từ trong thơ của Xuân Quỳnh.
Thứ ba: Phân tích giá trị nghệ thuật của phương tiện và biện pháp tu từ ẩn
dụ trong việc biểu đạt nội dung, ý nghĩa, tư tưởng, tình cảm của tác phẩm thơ
Xuân Quỳnh. Liền với đó là đi sâu vào phân tích giá trị cụ thể của ẩn dụ tu từ
trong bài thơ “Tiếng gà trưa” được đưa vào giảng dạy trong sách giáo khoa của
chương trình trung học cơ sở (lớp 7).
Thông qua đó, đề xuất một số cách cảm thụ, phân tích, tiếp cận khác khi
giảng dạy và học tập thơ Xuân Quỳnh, thấy được bút pháp miêu tả, sử dụng
ngôn ngữ tinh tế của tác giả.
Xuân quỳnh sử dụng nhiều phương tiện và biện pháp tu từ trong các tác
phẩm thơ của mình. Trong tập thơ “ Thơ tình Xuân Quỳnh – Lưu Quang Vũ”,
6
các sáng tác của Xuân Quỳnh đã sử dụng những phương tiện và biện pháp tu từ
như: Dùng từ láy, phép điệp cấu trúc, ẩn dụ để thể hiện sự tinh tế, sắc sảo trong
nghệ thuật thơ Xuân Quỳnh.
Xuân Quỳnh đã sự dụng nhiều phương tiện và biện pháp tu từ nhưng ở
khóa luận này chúng tôi chỉ đi sâu vào nghiên cứu sự thể hiện của ẩn dụ tu từ
trong những bài thơ của tác giả trong tập thơ “Thơ tình Xuân Quỳnh – Lưu
Phương pháp phân tích tu từ học là phương pháp quan trọng và chính yếu
bởi nó có thể giúp ta giải mã một cách đầy đủ hơn sự độc đáo trong sử dụng
ngôn ngữ lựa chọn hình ảnh, tư duy nghệ thuật độc đáo của tác giả trong việc
làm nên sự biến đổi phong cách thể loại trong văn học.
Khi sử dụng phương pháp này vào phân tích các phương tiện, biện pháp nghệ
thuật trong thơ Xuân Quỳnh cần chú ý tới các thao tác phân tích tu từ học sau:
- Xác định thành phần thông tin cơ bản của văn bản ngôn từ.
- Tìm ra những hình thức biểu đạt gần nghĩa hoặc đồng nghĩa của biểu đạt
lựa chọn. Tiến hành so sánh, đối chiếu dựa trên những mối quan hệ của ngữ
cảnh tư từ để thấy được những đặc điểm đồng nhất và đối lập của từng yếu tố.
- Đưa ra những phán đoán về giá trị, hiệu quả của hình thức nghệ thuật
được lựa chọn trong việc biểu đạt nội dung.
Tuy nhiên, sự phân tích tu từ học chỉ là chất xúc tác cho tác động của nghệ
thuật về tư tưởng và cảm xúc thẩm mĩ. Sự phân tích này không thể tách rời quá
trình tổng hợp để khôi phục tính chỉnh thể của tác phẩm văn học, nhằm xác định
rõ giá trị của mỗi yếu tố, mỗi phương tiện, biện pháp tu từ trong cái toàn thể đó
là tác phẩm.
Ngoài bao phương pháp trên, chúng tôi còn nghiên cứu các tài liệu khoa
học để bổ sung kiến thức, hoàn thiện khóa luận một cách đầy đủ hơn.
5.
Xuân quỳnh là một nhà thơ lớn, có nhiều đóng góp cho nền văn học Việt
Nam. Đặc biệt tác phẩm của bà được chọn giảng dạy trong nhà trường trung học
cơ sở, trung học phổ thông đã chứng tỏ bà là một nhà thơ lớn và có vị trí quan
trọng trong nền văn học của nước nhà.
Vì vậy, sự thành công của khóa luận sẽ là một trong những tài liệu tham
khảo tìm hiểu về thơ Xuân Quỳnh, về sự thể hiện “sức sống” của ẩn dụ tu từ
trong tác phẩm nghệ thuật.
6.
Ngoài phần mở đầu và phần kết luận, khóa luận gồm 2 chương
tu từ”.
Như vây, hình thức và nội dung có quan hệ hữu cơ, quan hệ biện chứng với
nhau. Vì vậy, khi đi sâu vào nghiên cứu tìm hiểu thơ Xuân Quỳnh, chúng tôi chú
trọng nhiều đến hình thức diễn đạt, đặc biệt là phương tiện ẩn dụ tu từ trong thơ
của Xuân Quỳnh.
Chương này chúng tôi sẽ tìm hiểu cơ sở lí thuyết của phương tiện tu từ,
biện pháp tu từ để làm tiền đề cho chương sau (Chương 2).
1.1.
1.1.1.
Đinh Trọng Lạc [16] khẳng định rằng “phương tiện ngôn ngữ ngoài ý nghĩa
cơ bản (ý nghĩa sự vật – lôgic) ra còn có ý nghĩa bổ sung” mà tu từ học còn gọi
là màu sắc tu từ.
Màu sắc tu từ là khái niệm phong cách học chỉ phần thông tin có tính chất
bổ sung bên cạnh phần thông tin cơ bản của một thực từ. Nói cách khác, màu
sắc tu từ là khía cạnh biểu cảm – cảm xúc của ý nghĩa thuộc từ (diễn đạt những
tình cảm, những đánh giá, những ý định …) bên cạnh sự vật – logic của ý nghĩa.
Ví dụ: Các từ: Ăn, nhậu, tọng, hốc, đớp, xơi… là những từ đồng nghĩa
nhưng khác nhau về sắc thái biểu cảm. 10
Cụ thể:
Ăn là dùng tay, thìa, đũa đưa thức ăn vào miệng, miệng kết hợp các cử
động nhai, đảo, nuốt… mang màu sắc trung hòa.
Tọng, hốc, đớp là nói đến cách dùng bữa của những người bất lịch sự, hạn
chế về văn hóa ẩm thực, văn hóa sinh hoạt của người Việt, mang màu sắc khinh
thường, rẻ rúm.
Xơi là nói đến cách dùng thức ăn của người có văn hóa, lịch sự, điềm đạm,
mang màu sắc tôn trọng, lịch sự.
Chẳng hạn khi nói:
(ý nghĩa sự vật – lôgic) ra, chúng còn mang ý nghĩa bổ sung, còn có màu sắc tu từ.
Màu sắc tu từ nhiều khi được gọi là sắc thái tu từ (cốt để nhấn mạnh sự đối lập giữa
phần nghĩa cơ bản và phần nghĩa bổ sung) nhưng, từ “sắc thái” nên dùng để chỉ
những sắc thái nhỏ bé, tinh tế, đậm nhạt khác nhau của màu sắc. Ví như màu sắc
cảm xúc có những sắc thái: hống hách, hách dịch, quan liêu, gia trưởng…
Các phương tiện tu từ cần được định nghĩa một cách khái quát và nhất quán
ở mọi cấp độ. Phương tiện tu từ gồm có:
- Phương tiện tu từ từ vựng.
- Phương tiện tu từ ngữ nghĩa.
- Phương tiện tu từ cú pháp.
- Phương tiện tu từ văn bản.
Phương tiện tu từ tiếng Việt rất đa dạng và phong phú, ở mỗi cấp độ
phương tiện tu từ có những đặc điểm, đặc trưng và nét khu biệt riêng.
1
Theo Đinh Trọng Lạc [17], biện pháp tu từ, định nghĩa một cách khái quát
nhất, đó là những cách phối hợp sử dụng trong hoạt động lời nói. Đó là những
cách phối hợp sử dụng trong hoạt động lời nói các phương tiện ngôn ngữ (không
kể là trung hòa hay diễn cảm) để tạo ra hiệu quả tu từ (tác dụng gợi hình gợi
cảm, nhấn mạnh làm nổi bật…) do sự tác động qua lại giữa các yếu tố trong ngữ
cảnh rộng.
Biện pháp tu từ còn là những cách diễn đạt mới mẻ trong những ngữ cảnh
cụ thể bên cạnh những cạnh những cách diễn đạt bình thường quen thuộc mọi
ngữ cảnh.
Ví dụ: Trong câu thơ: Anh yêu em như yêu đất nước của Nguyễn Đình Thi
đã so sánh “yêu em” như “yêu đất nước” trở thành một biện pháp tu từ, nhờ việc
so sánh đó mà diễn đạt được tình yêu đôi lứa đặt sóng đôi, ngang bằng với tình
yêu đất nước.
Chính các biện pháp tu từ đã làm nên những câu văn hay, những câu thơ
đẹp, những tác phẩm đặc sắc. Bởi cái hay, cái đẹp, cái đặc sắc không chỉ do nội
dung hay mà còn do hình thức hay, hình thức diễn đạt ngôn ngữ mới mẻ, độc
Từ “đứa trẻ” là phương tiện từ vựng trung hòa thì các từ sau đây là những
phương tiện tu từ:
“Cún con”, “em bé” là cách gọi âu yếm, yêu thương.
“Đồ trẻ con”, “đồ con nít” tỏ thái độ khinh thường, ghét bỏ.
13
Căn cứ vào phạm vi được sử dụng những từ ngữ đồng nghĩa tu từ được
chia ra như sau:
Những từ ngữ có điệu tính tu từ cao: Là những từ gọt giũa được ưu tiên sử
dụng trong lời nói sách vở, văn hóa. Đó là những từ ngữ mang màu sắc cao quý,
bác học và thường bắt nguồn từ các lớp từ như: Từ thi ca, từ cũ, từ Hán – Việt.
Những từ ngữ có điệu tính tu từ thấp: Là những từ ngữ được ưu tiên sử
dụng trong lời nói đối thoại, tự nhiên trong sinh hoạt hàng ngày. Đó là những từ
mộc mạc, bình dị, bắt nguồn từ các lớp từ như: Khẩu ngữ, từ lóng, từ nghề
nghiệp, từ địa phương. Còn những từ ngữ không có nghĩa tương liên, từ không
nằm trong dãy đồng nghĩa, không đi vào hệ hình từ vựng tu từ. Tuy không phải
là những phương tiện tu từ ở cấp độ thấp từ vựng, nhưng chúng ta có thể sử
dụng để tạo ra các biện pháp tu từ ở các lớp như: Thuật ngữ từ trong danh mục,
từ lịch sự, từ ngoại lai.
Các biện pháp tu từ từ vựng là một cách phối hợp sử dụng các đơn vị từ
vựng trong phạm vi của một đơn vị khác thuộc bậc cao hơn (trong câu, trong
chỉnh thể câu) có khả năng đem lại hiệu quả tu từ do mối quan hệ giữa các đơn
vị trong ngữ cảnh. Mối quan hệ có tính chất cú đoạn này đứng ở góc độ tu từ
học thì rất phong phú và đa dạng. Song nếu sử dụng cách phân loại chức năng
do L.Hjelms Lev đưa ra thì có thể tách ra làm ba dạng chính: Quan hệ quy định,
quan hệ hòa hợp và quan hệ tương phản.
Trong quan hệ quy định: Yếu tố được đánh dấu về tu từ học ở điệu tính cao
hay điệu tính thấp được sử dụng trên cái nền của các đơn vị trung hòa về tu từ
học đã quy định màu sắc tu từ của toàn bộ phát ngôn.
Trong quan hệ hòa hợp: Những đơn vị được đánh dấu về tu từ học trong
Ví dụ:
Tố Hữu đã sử dụng lối so sánh trong câu thơ sau:
Sống trong cát, chết vùi trong cát
Những trái tim như ngọc sáng ngời
[12]
Trong hai câu thơ trên, Tố Hữu đã sử dụng lối so sánh giữa “trái tim” (cái
so sánh) với tính chất “sáng ngời” (cơ sở so sánh) qua (từ so sánh) là “như”. Do
đó, ta thấy được trái tim – tình yêu thương của người mẹ bao la biển trời được ví
như ngọc sáng ngời.
1.1.4.3. Cấp độ cú pháp
Các phương tiện tu từ cú pháp là những kiểu câu mang màu sắc tu từ do
được cải biến từ những kiểu câu cơ bản (chủ - vị) như kiểu câu rút gọn, mở rộng
thành phần hay đảo trật tự.
Ví dụ: Kiểu câu đảo trật tự.
Đó là một con dao nhỏ nhưng rất sắc
[26]
15
Nếu đảo trật tự thành: Đó là một con dao rất sắc nhưng nhỏ thì giá trị biểu
cảm về con dao sắc sẽ giảm đi.
Các biện pháp tu từ cú pháp là những cách phối hợp sử dụng các kiểu câu
để được hiệu quả tu từ trong phạm vi của một đơn vị thuộc bậc cao hơn (trong
chỉnh thể trên câu, trong đoạn văn, trong cả văn bản) như sóng đôi, đảo, đối, lặp
đầu, lặp cuối, câu hỏi tu từ, tách biệt liên kết tu từ học.
Ví dụ: Phép điệp ngữ được dùng để cấu tạo những câu thơ sau:
Buồn trông cửa bể chiều hôm
Thuyền ai thấp thoáng cánh buồm xa xa
Buồn trông ngọn nước mới xa
Hoa trôi man mác biết là về đâu
Buồn trông nội cỏ dầu dầu
Mặc dù giữa các phương tiện tu từ và biện pháp tu từ có những đặc điểm
khác nhau như vậy nhưng giữa chúng vẫn có mối quan hệ biện chứng. Một mặt,
việc sử dụng các phương tiện tu từ sẽ tạo ra biện pháp tu từ. Mặt khác, việc sử
dụng một số biện pháp tu từ nào đó trong lời nói cũng có thể chuyển hóa nó
thành một phương tiện tu từ. Đây chính là trường hợp của những cái gọi là so
sánh phóng đại đã mòn đi trong thời gian. Hơn nữa cùng một phương tiện tu từ
có thể được dùng để xây dựng nên những biện pháp tu từ rất khác nhau. Và
ngược lại, những phương tiện tu từ khác nhau có thể cũng tham gia vào việc xây
dựng một biện pháp tu từ duy nhất.
Việc xác định, phân loại và miêu tả các phương tiện tu từ, cũng như các
biện pháp tu từ đạt được những hệ thống nhất quán trong tất cả các hệ thống
ngôn ngữ sẽ giúp chúng ta ý thức được sự tồn tại của những phương tiện tu từ
trong thể đối lập (tu từ học) với những phương tiện trung hòa, đồng thời còn
giúp chúng ta thấy được tầm quan trọng nổi bật của sự đối lập, quen thuộc, mới
mẻ của những biện pháp thông thường và biện pháp đặc biệt (tức biện pháp tu
từ). Lẽ tất nhiên, sự lựa chọn sử dụng các phương tiện tu từ và các biện pháp tu
từ ở người sử dụng ngôn ngữ (nhất là các nhà thơ, nhà văn) luôn luôn là sự sáng
tạo không ngừng. Song, cũng không nên nghĩ rằng phải luôn luôn dùng những
hình thức bóng bẩy, gợi cảm mới hay, là độc đáo, là ấn tượng… Bởi vì, trình độ
cao trong việc sử dụng ngôn ngữ không phải chỉ biểu hiện ở chỗ biết nhiều,
dùng nhiều phương tiện tu từ, biện pháp tu từ chủ yếu là tỏ rõ khả năng sử dụng
lựa chọn các phương tiện tu từ, biện pháp tu từ, phương tiện ngôn ngữ phù hợp
với đặc trưng của từng phong cách chức năng. Dễ thấy điều này trong các tác
phẩm văn chương của các nhà thơ, nhà văn. Có những tác giả sử dụng nhiều các
phương tiện tu từ, biện pháp tu từ trong tác phẩm để làm tăng giá trị cho tác
phẩm cả về mặt nội dung cũng như hình thức như: Nguyễn Tuân, Hồ Xuân
Hương, Xuân Quỳnh, Huy Cận, Xuân Diệu…
17
Bên cạnh đó, có những tác phẩm chỉ sử dụng phương tiện tu từ như “đòn
Nếu dân đói là Đảng và Chính phủ có lỗi; nếu dân rét là Đảng và Chính
phủ có lỗi; nếu dân dốt là Đảng và Chính phủ có lỗi; nếu dân ốm là Đảng và
Chính phủ có lỗi.
18
Có thể khẳng định chính kiểu lặp (điệp) cú pháp toàn phần (lặp kiểu câu
ghép, chỉ quan hệ giả thiết – kết quả) kết hợp với lặp từ vựng đã có tác dụng làm
nổi bật từng điểm chính của nội dung thông tin (đói, rét, dốt, ốm) giúp cho ý
nghĩa khẳng định thêm dứt khoát, mạnh mẽ, nói lên một cách cảm động, sâu sắc,
tấm lòng cao cả, mênh mông của Bác, trách nhiệm to lớn của Đảng và Chính
phủ là hết sức chăm lo, chăm sóc đến đời sống của nhân dân. Nội dung cảm xúc
này sẽ mất đi và chỉ còn nội dung thông tin lôgic bình thường nếu nói vắn tắt:
“Nếu dân đói, rét, dốt, ốm là Đảng và Chính phủ có lỗi”.
Còn đối với một đoạn văn, một khổ thơ của ngôn ngữ nghệ thuật thì sự
phân tích tu từ học lại đòi hỏi ở mức sâu, tinh tế hơn nhiều. Lúc này, sự phân tích
đó không phải là sự so sánh, đối chiếu với bất kì hình thức nào (nếu làm như vậy
tất sẽ không tránh khỏi sự thô kệch và giả tạo), mà đã trở thành một sự liên tưởng
sâu xa tới những hình tượng ngôn từ tương đồng vốn gợi ra nội dung bình giá
cảm xúc phong phú trong một hình thức diễn đạt văn học có điệu tính phù hợp.
Ví dụ: Khi đọc câu thơ:
Hoa ghen thua thắm liễu hờn kém xanh
[14]
Ta thấy hiện lên câu hỏi vì sao Nguyễn Du lại dùng hình ảnh “hoa” và
“liễu” chứ không phải hình ảnh khác. Nếu đặt câu hỏi này trong quan niệm về
giá trị thẩm mĩ của thời kì trung đại thì ta sẽ hiểu những quy chuẩn về cái đẹp
của người xưa. Thúy Kiều xinh đẹp, tài sắc được ví như hoa đỏ thắm, như liễu
xanh bên hồ. Cái vẻ thắm của hoa, cái màu xanh của liễu như là một chọn lọc tự
nhiên, như biểu tượng về cái đẹp. Vậy mà hoa và liễu cũng phải “hờn” phải
“ghen” với vẻ đẹp lộng lẫy của Kiều. Hai hình ảnh ấy, không chỉ làm tăng vẻ
đẹp của Kiều mà còn báo hiệu một con người có sắc đẹp như vậy trong cuộc
cảm tính, chủ quan thiếu cơ sở.
Mặt khác, ở mỗi đơn vị ngôn ngữ ngoài phần thông tin cơ bản làm nên ý
nghĩa sự vật còn chứa đựng các thông tin bổ sung làm cho nó khác đơn vị có
cùng ý nghĩa sự vật. Khi hoạt động, phần thông tin bổ sung có ý nghĩa quyết
định đối với từ ngữ nào (tương đương về thông tin cơ bản) lựa chọn để sử dụng
cho văn bản chính xác nhất, có hiệu quả thẩm mĩ cao nhất. Do đó việc phân tích
tu từ học cần được căn cứ trên cả mối quan hệ giữa thành phần thông tin cơ bản
và thành phần thông tin bổ sung của một ngôn từ. Muốn xác định giá trị một yếu
tố ngôn từ trước hết phải đặt đơn vị đó trong một chỉnh thể mối quan hệ với tác
phẩm để xác định rõ nội dung biểu đạt tương tự để tìm ra phần thông tin bổ
sung, thông tin hình tượng của hình thức biểu đạt thích hợp nhất trong trường
hợp có nhiều dị bản khác nhau.
Tóm lại: Phương pháp phân tích tu từ học là một công cụ quan trọng bước
đầu tiên trong quá trình giải mã ngôn ngữ nghệ thuật. Nó là chất lên men, là chất
dẫn, là ngòi nổ cho chất nổ, cho phản ứng của nghệ thuật về tư tưởng và cảm
xúc thẩm mĩ trong quá trình tiếp cận tác phẩm văn học. Bên cạnh đó, nó còn góp
phần khôi phục tính chỉnh thể của tác phẩm văn học, nhằm xác định rõ giá trị
20
của mỗi yếu tố trong cái toàn thể. Như vậy, chúng ta có thể khẳng định, phương
tiện tu từ và biện pháp tu từ có vai trò, tác dụng rất quan trọng trong quá trình
tìm hiểu, phân tích, cảm thụ tác phẩm văn chương – nghệ thuật.
Lênin khẳng định “Không có tư tưởng nào trần trụi cả, tác phẩm văn học
dù muốn hay không muốn đều phải khoác lên mình chiếc áo diêm dúa ngôn từ”.
Khẳng định trên đã cho thấy mối quan hệ hữu cơ giữa phương diện nội dung và
phương diện nghệ thuật.
Ẩn dụ là sự định danh thứ hai mang ý nghĩa hình tượng, dựa trên sự tương
đồng hay giống nhau (có tính chất hiện thực hay tưởng tượng ra) giữa khách thể
để cung cấp những tên gọi mới bằng vốn từ vựng cũ”.
Ví dụ: Chạy thận, chạy phần mềm, chân trong, chân ngoài…
* Ẩn dụ nhận thức: “Nảy sinh ra do việc làm biến chuyển khả năng kết hợp
của những từ chỉ dấu hiệu khi làm thay đổi ý nghĩa của chúng từ cụ thể đến trừu
tượng”.
Ví dụ: Những tính từ: “Nóng bỏng”, “thổn thức” vốn có ý nghĩa cụ thể và
có khả năng kết hợp với những danh từ: “Hòn than”, “người tình” để tạo thành:
- Hòn than nóng bỏng
- Người tình thổn thức
Nhưng khi kết hợp với những từ: “Tình yêu”, “suối nguồn” lại tạo thành:
Tình yêu + Nóng bỏng = Tình yêu nóng bỏng.
Suối nguồn + Thổn thức = Suối nguồn thổn thức.
Tức nó được ẩn dụ hóa, được dùng với ý nghĩa trừu tượng.
* Ẩn dụ hình tượng: Là nguồn sản sinh ra đồng nghĩa.
Ví dụ 1: Từ “xuân” chỉ người con gái đương tuổi thanh xuân.
Nghìn năm còn mãi cái xuân xanh
(Hồ Xuân Hương)
Ví dụ 2: từ “xuân” chỉ người con gái tình xuân hay xuân tình.
Chơi xuân có biết xuân chăng tá
Ví dụ 3: Từ “xuân” chỉ người con gái tuổi xuân đang đi qua.
Ngán nỗi xuân đi xuân lại lại
Ẩn dụ hình tượng là phương thức bình giá riêng của tác giả. Bằng những
sắc thái, bằng ý nghĩa hình tượng tìm kiếm được, ẩn dụ hình tượng tác động vào
trực giác của người nhận thức đem lại khả năng cảm thụ sáng tạo. 22
1.2.2.2. Các dạng ẩn dụ
Cũng theo Đinh Trọng Lạc thì có:
* Ẩn dụ bổ sung (ẩn dụ chuyển đổi cảm giác): “Là sự kết hợp của hai hay