chất trữ tình và chất trí tuệ trong thơ xuân quỳnh - Pdf 23


BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƢỜNG ĐẠI HỌC TÂY BẮC

NGUYỄN THỊ HỒNG KHANH

CHẤT TRỮ TÌNH VÀ CHẤT TRÍ TUỆ
TRONG THƠ XUÂN QUỲNH KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC SƠN LA, NĂM 2014

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƢỜNG ĐẠI HỌC TÂY BẮC
Sơn La, tháng 5 năm 2014
Sinh viên Nguyễn Thị Hồng Khanh
MỤC LỤC

MỞ ĐẦU 1
1. Lý do chọn đề tài 1
2. Lịch sử vấn đề 2
3. Đối tƣợng, mục đích, phạm vi nghiên cứu 4
4. Phƣơng pháp nghiên cứu 4
5. Cấu trúc khóa luận 5
NỘI DUNG 6
CHƢƠNG 1. XUÂN QUỲNH – NỮ THI SĨ TÀI HOA, ĐẰM THẮM 6
1. Thi sĩ – nghệ sĩ, tƣ chất nghệ sĩ 6
2. Xuân Quỳnh – Cây xƣơng rồng trên cát 9
3. Những chùm hoa độc đáo 12
3.1. Quá trình sáng tác 12
3.2. Những tác phẩm tiêu biểu 15
Tiểu kết 16
CHƢƠNG 2. THƠ XUÂN QUỲNH – GIÀU CHẤT TRỮ TÌNH 17
2.1.Trữ tình là gì? 17
2.2. Thơ trữ tình 17
2.2.1. Thơ 17
2.2.2. Thơ trữ tình 19
2.3. Biểu hiện của thơ Xuân Quỳnh giàu chất trữ tình 21
2.3.1. Chất trữ tình trong thơ Xuân Quỳnh được thể hiện qua nội dung: tình yêu
21
2.3.1.1. Tình yêu cuộc sống – thời đại 21

1
MỞ ĐẦU
1. Lý do chọn đề tài
Lịch sử Việt Nam được bạn bè trong nước và ngoài nước biết tới như một lịch
sử đầy oanh liệt với những chiến công chói lọi. Lịch sử đó đã trải qua biết bao
nhiêu trận chiến đấu và chiến thắng kẻ thù xâm lược đem lại bình yên cho nước
nhà. Một cuộc Cách mạng Tháng Tám đầy gian nan, kháng chiến chống Pháp đầy
vất vả song rất đáng tự hào. Đặc biệt là cuộc kháng chiến chống Mỹ giành thắng lợi
đã không chỉ đem lại cho Việt Nam một nền độc lập vững bền mà còn tạo sự tích
cực trên thế giới.
Làm nên kì tích đó phải kể đến những đóng góp không nhỏ của sức mạnh
tổng hợp toàn dân tộc trong đó có văn học nghệ thuật. Văn học nghệ thuật thời
chống Mỹ không chỉ cổ vũ tinh thần yêu nước mà còn thể hiện được tình yêu gia
đình, yêu lẽ phải, công bằng, yêu cuộc sống. Trong đó đã có biết bao nhà thơ
trưởng thành từ hai cuộc kháng chiến của dân tộc. Trong số đó phải kể đến nhà
thơ Xuân Quỳnh – một nữ thi sĩ tài hoa, đằm thắm. Thơ chị là tiếng nói của một
tâm hồn giàu lòng yêu thương, chứa đựng những cảm xúc, tâm tình vừa sâu kín
lại vừa bộc bạch của chính bản thân; vừa là tiếng nói của một trí tuệ sắc sảo,
thông minh, nhạy bén trước thời cuộc…Thơ Xuân Quỳnh chính là một biểu
tượng cả về trí tuệ lẫn tình cảm mà bạn đọc ai cũng biết đến. Lermontov – văn
hào Nga thế kỉ XIX đã hóm hỉnh chia đàn bà thành hai hạng: một đó là hạng hồn
nhiên, chỉ có tình cảm mà thiếu hụt về trí tuệ; còn một hạng đàn bà trí tuệ nhưng
lại thiếu hụt về tình cảm. Ông đã thất vọng vì không kiếm đâu ra một người đạt
được sự toàn vẹn, đầy đủ cả hai yếu tố đó. Và khi đã tiếp cận với thơ Xuân
Quỳnh tôi đã tìm ra đáp án cho mình. Xuân Quỳnh chính là lời giải đáp ấy.
Thơ Xuân Quỳnh có lẽ vì vậy mà được rất nhiều người yêu thích, nhiều
thế hệ mến mộ và nó đã từng trở thành những cuốn sách gối đầu giường của
biết bao độc giả.
Thơ chị được đưa vào chương trình sách giáo khoa các cấp học làm cho thế
hệ học sinh hiểu thêm hơn về sự đặc sắc, vẻ đẹp của thơ cũng như vẻ đẹp trong

hồn riêng thì lo âu đó mới thực là điệu hồn Xuân Quỳnh, điệu hồn ấy Xuân
Quỳnh đã phổ trọn vẹn vào nước tiếng thơ da diết nhất của mình” [7, 171].
Còn Lại Nguyên Ân thì cho rằng: “Xuân Quỳnh không chỉ là xuất chúng
trong “giới thơ phụ nữ”. Hai chục năm nay thơ Xuân Quỳnh đã đi vào người
đọc trở thành tiếng nói tâm tình về những ngọt bùi, cay đắng ở đời. Tiếng nói
của tình yêu, tình mẫu tử - một tiếng nói hồn hậu, dung dị chứa đựng những sự

3
sống đương thời mà cũng in dấu nếp nghĩ nếp cảm của tâm hồn người Việt tự xa
xưa” [7, 259 -260].
Hay như Mai Quốc Liên có lần đã nhận xét: “Chưa có ai đã biểu hiện sự
thương yêu sâu xa, đằm thắm đến thế trong thơ tình Việt Nam như Xuân Quỳnh”
[1, 35].
Chu Nga trong bài viết: “Xuân Quỳnh – một chồi thơ xanh biếc” cũng đã
bật lên những dòng cảm xúc rất thật của mình về thơ Xuân Quỳnh: “Tôi yêu thơ
Xuân Quỳnh trước tiên vì nét trẻ trung, tươi tắn, cái vẻ hồn nhiên cởi mở của
người làm thơ, yêu cách viết nghịch ngợm, dí dỏm, không cần làm duyên mà vẫn
có duyên của người cầm bút” [6, 493].
Nguyễn Minh Thái bàn về nghệ thuật thơ Xuân Quỳnh thì cho rằng: “Những
câu thơ ấy giống hệt những giọt nước sau cơn mưa còn đọng lại trên lá cây. Chỉ
cần một làn cảm xúc chợt đến khi chạm vào lá là những câu thơ ấy sẽ rơi rụng
ngay xuống một vùng tâm thức, mồn một hiện lên giữa lòng ta” [7, 121].
Có thể thấy rằng, việc nghiên cứu về thơ Xuân Quỳnh ở hai đặc điểm chất
trữ tình và chất trí tuệ chưa được nổi bật. Điểm thoáng qua ta có thể nhận biết rõ
ràng một vài đánh giá về những đặc điểm đó:
Trong: “Nữ sĩ Xuân Quỳnh – cuộc đời để lại”, bài viết “Cảm nhận về thơ
Xuân Quỳnh”, Lưu Khánh Thơ có viết: “Xuân Quỳnh là một tác giả có bản sắc
tương đối rõ nét. Bản sắc ấy ngày càng được khẳng định và được biểu hiện
nhiều sắc thái qua mỗi tập thơ…Thơ Xuân Quỳnh bao giờ cũng là tiếng nói rất
riêng của một tâm hồn phụ nữ thông minh, sắc sảo, giàu yêu thương” [7, 9].

chất trữ tình, chất trí tuệ trong thơ Xuân Quỳnh đề tài góp phần làm rõ hơn hai
đặc điểm đó trong thơ chị.
4. Phƣơng pháp nghiên cứu
Khóa luận sử dụng tổng hợp các phương pháp để nghiên cứu: phương pháp
phân tích, phương pháp thống kê, phương pháp đánh giá.
- Phương pháp phân tích:
Đây là phương pháp cơ bản, được sử dụng thường xuyên trong quá trình
nghiên cứu. Một số tác phẩm thơ sẽ được phân tích toàn bộ và kĩ lưỡng để nêu
bật được chất trữ tình và chất trí tuệ trong thơ Xuân Quỳnh. Một số tác phẩm
khác chỉ xoay quanh một khía cạnh, vấn đề nào đó.
- Phương pháp thống kê:

5
Đây là phương pháp cơ bản, đưa vào những khảo sát cụ thể để chứng minh
cho những nhận định, đánh giá. Phương pháp này giúp người nghiên cứu có thể
lựa chọn được những tác phẩm tiêu biểu trong thơ Xuân Quỳnh.
- Phương pháp đánh giá:
Phương pháp quan trọng đóng vai trò đánh giá, khẳng định những thành
công của nhà thơ. Cần phải đánh giá được cái hay, độc đáo, đặc sắc trong tác
phẩm thơ Xuân Quỳnh để tăng tính thuyết phục cho vấn đề mà đề tài nói tới.
5. Cấu trúc khóa luận
Ngoài phần mở đầu và phần kết luận, khóa luận gồm có ba chương:
Chương 1: Xuân Quỳnh – Nữ thi sĩ tài hoa, đằm thắm
Chương 2: Thơ Xuân Quỳnh - giàu chất trữ tình

Chương 3: Thơ Xuân Quỳnh - đậm chất trí tuệ

6
NỘI DUNG
CHƢƠNG 1. XUÂN QUỲNH – NỮ THI SĨ TÀI HOA, ĐẰM THẮM

năm trước.

7
Văn học có thể xem như một cuốn bách khoa toàn thư về cuộc sống. Đọc
tác phẩm văn học ta có thể tìm thấy trong đó những cảm xúc của chính mình, ta
có thể đồng cảm với chính tác giả. Do vậy, người nghệ sĩ phải quan sát, phải lựa
chọn tích lũy để đưa vào tác phẩm vốn kiến thức của cuộc sống. Phải có trí nhớ
tốt để lưu giữ và bảo tồn những kiến thức đó.
Tư chất nghệ sĩ rõ nhất ở mỗi nhà văn là một con người giàu tình cảm, dễ
xúc động và nhạy cảm. Trong khoa học, tình cảm chỉ nằm trong tiền đề sáng tạo.
Còn trong văn học tình cảm nằm ngay trong thành phẩm sáng tạo. Chính vì thế
mà nhà văn, chủ thể sáng tạo không thể chỉ có lí trí lạnh lùng đã đành, mà cũng
không chỉ có tình cảm thông thường, hời hợt. Yêu ghét, vui buồn, thương mến
hay căm giận… đến độ mãnh liệt ở nhà văn.
Như Lỗ Tấn đã từng nói: “Gặp những cái gì hay và đáng yêu thì họ ôm
choàng lấy, nếu gặp những điều trái, đáng giận thì họ sẽ bác bỏ” [10, 325].
Nguyễn Du khi đứng trước số phận nghiệt ngã của Thúy Kiều cũng thốt lên rằng:
“Đau đớn thay phận đàn bà
Lời rằng bạc mệnh cũng là lời chung”
Như vậy, nhà văn luôn luôn mang một tấm lòng rộng mở, thốt lên những
lời đau xót trước cuộc sống còn nhiều khó khăn. Họ biết ngạc nhiên dù là với
một vẻ đẹp bình dị, rất nhạy cảm với đổi thay xung quanh.
Hoạt động nghệ thuật là hoạt động thẩm mĩ, hoạt động sáng tạo ra cái đẹp.
Đối với người hoạt động trong lĩnh vực văn chương ngoài việc quan sát còn cần
có một năng lực cảm thụ thẩm mĩ. Nghệ sĩ quan sát, tích lũy để tìm ra đối tượng,
để xây dựng hình tượng. Đó không phải là những quy luật, những công thức
cứng nhắc như trong các ngành khoa học tự nhiên mà đó là một loại hình nghệ
thuật sử dụng ngôn từ. Người nghệ sĩ không phải là một viên đá trần trụi giữa
cuộc sống mà tâm hồn họ phải là một cây đàn muôn điệu để họ tự biến tấu lên
những khúc nhạc riêng của mình. Những âm thanh của cuộc sống, những hình

Có thể nói năng lực biểu hiện là một chất keo dính đặc biệt liên kết óc quan
sát trí nhớ, trí tưởng tượng thành một khối hoàn hảo, thành một công trình nghệ
thuật có giá trị. Nếu như thiếu một trong những yếu tố trên thì tác phẩm nghệ
thuật sẽ trở nên rời rạc, công sức của nhà văn sẽ trở nên vô nghĩa.
Người nghệ sĩ hòa mình với cuộc sống, ngâm mình trong những đợt sóng
ào ạt dội về từ cuộc sống đó, nhà văn phải mở lòng để đón nhận tất cả. Do đó, sự
hình thành nhân cách cũng như phong cách nghệ thuật của nhà văn có sự tác
động rất lớn của xã hội. Họ sẽ thực sự khẳng định được vị trí của mình khi biết
đón nhận những biến động của xã hội đó.

9
2. Xuân Quỳnh – Cây xƣơng rồng trên cát
Xuân Quỳnh tên thật là Nguyễn Thị Xuân Quỳnh, sinh ngày 6 tháng 10
năm 1942 tại xã La Khê, huyện Hoài Đức, tỉnh Hà Tây (nay là làng La Khê, xã
Văn Khê, thị xã Hà Đông).
Xuân Quỳnh sinh ra và lớn lên ở mảnh đất giàu truyền thống văn hóa. Nơi
quê lụa Hà Đông đã có biết bao những anh hùng nổi danh như: Bố Cái Đại
Vương, Ngô Quyền…; có nhiều địa danh mang đầy chất thơ, sơn thủy hữu tình
như: chùa Tây Phương, Hương Sơn đệ nhất động… Đây còn là nơi khơi nguồn
cảm hứng của bài hát: Hà Tây – cửa ngõ thủ đô. Mảnh đất địa linh nhân kiệt này
đã nuôi nấng biết bao tâm hồn nhà văn, nhà thơ trong đó có Xuân Quỳnh.
Xuân Quỳnh được sinh ra trong một gia đình công chức. Cha Xuân Quỳnh
là Nguyễn Quang Thường (Nguyễn Quang Lục) được học chữ Hán và tiếng
Pháp nên ông uyên thâm cả về Hán học và Tây học. Ông đã từng viết báo, tiểu
thuyết, sách nghiên cứu, dịch sách và làm nhiều thơ. Mẹ Xuân Quỳnh là Nguyễn
Thị Trích (Thục Trinh) biết chút Hán học, sinh ra trong một gia đình giàu có
song vẫn cẩn miện trong Nha Phong, giữ gìn nền nếp khoa môn. Cha mẹ Xuân
Quỳnh đến với nhau từ khi còn rất trẻ (16, 17 tuổi), họ đã có được ba người con
trai song tất cả đều qua đời chỉ còn lại chị gái Đông Mai và Xuân Quỳnh. Tới
năm 31 tuổi, mẹ Xuân Quỳnh bị mắc bệnh lao và qua đời khi chị vẫn còn nhỏ,

vào cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước. Xuân Quỳnh học tập rất chăm chỉ,
chịu khó, kết quả cuối lớp học là tập thơ Tơ tằm, Chồi biếc của chị đã ra đời.
Học xong, Xuân Quỳnh về báo Văn nghệ thực tập một thời gian ngắn. Chị
không trở lại đoàn ca múa nhân dân Trung ương nữa mà quyết định đi theo con
đường văn nghiệp. Sau đó, báo Phụ nữ Việt Nam đã nhận chị về công tác, trong
hoàn cảnh miền Bắc xảy ra chiến tranh phá hoại leo thang của Mỹ, chị đã được
cử đi thực tế tại các cơ sở. Với một tấm lòng nhiệt tình, chị đã phục vụ đắc lực,
luôn hoàn thành nhiệm vụ được giao. Những năm tháng Mỹ bỏ bom miền Bắc,
Xuân Quỳnh theo cơ quan sơ tán với ý chí quyết tâm cao phục vụ kháng chiến.
Xuân Quỳnh đã từng đi dọc dãy Trường Sơn hòa nhập cùng những đơn vị bộ
đội. Đặc biệt ở vùng lửa Quảng Trị - Vĩnh Linh, chị đến với nhân dân ở đây
bằng lòng nhiệt huyết, trong lòng hào sụt lở. Người phụ nữ gan góc dũng cảm ấy
không hề sợ chết, chị luôn sẵn sàng cống hiến sức mình vì sự nghiệp chung. Chị
đã vượt qua bao nguy hiểm của vùng đất lửa để trở về với hơi thở của cuộc sống
hào hùng.
Xuân Quỳnh kết hôn với Lưu Tuấn – một nhạc công violon của đoàn văn
công nhân dân Trung ương. Song hạnh phúc gia đình không bền lâu bởi Xuân
Quỳnh tự nhận thấy tình yêu của Lưu Tuấn không đủ đáp ứng được sự tinh tế và
nhạy cảm của mình. Mặc dù đã có con song Xuân Quỳnh và Lưu Tuấn quyết

11
định chia tay. Đó là những tháng ngày vô cùng đau đớn với chị. Là một người
không đầu hàng với số phận, luôn khát khao hạnh phúc, chị đã chủ động đi tìm
tình yêu của mình:
“Núi cao biển rộng sông dài
Tôi đi khắp chốn tìm người tôi yêu”
Giữa lúc Xuân Quỳnh đang hụt hẫng thì Lưu Quang Vũ đã đến bên đời chị.
Anh là một người có tài, đã từng kết hôn và có một cậu con trai. Tuy Xuân
Quỳnh hơn Lưu Quang Vũ tới bảy tuổi nhưng hai tâm hồn đó đã có điểm chung
là đam mê nghệ thuật, khát khao cống hiến. Năm 1973, họ đã kết hôn và cùng

mạc, đã vắt kiệt mình để nở rộ những bông hoa tuyệt đẹp cho đời. Đó là một loại
cây tốt tươi với sức sống bền bỉ, dai dẳng. Mặc dù sống trên cát trắng bụi mờ
nhưng những chiếc gai của sự kiên trì vẫn vươn dài và cây xương rồng đó đã
đứng vững trên sa mạc mênh mông. Tất cả những sóng gió của cuộc đời đã tôi
luyện nên một Xuân Quỳnh thật bản lĩnh, thật cứng cỏi.
3. Những chùm hoa độc đáo
3.1. Quá trình sáng tác
Xuân Quỳnh đã xây dựng sự nghiệp văn thơ của mình với ý thức cao của
một thi sĩ trong thời kỳ kháng chiến chống Mỹ. Chị và những cây bút trẻ cùng
thời đã góp phần không nhỏ trong phong trào văn hóa, văn nghệ đem lại cho
cuộc kháng chiến một tinh thần, một niềm tin mới.
Xuân Quỳnh vốn công tác trong đoàn văn công nhân dân Trung ương
nhưng chị đã quyết định chuyển sang nghiệp văn chương. Đó là một cái nghiệp
mà: “Tác dụng thanh lọc của văn chương là đến từ sự phát hiện cái đẹp của
cuộc đời, gắn với một giá trị nhân văn, vì hạnh phúc của con người. Trong cuộc
tìm kiếm ấy, nhà văn như một kẻ tử vì đạo, dũng cảm trong sự chống trả và đối
phó với mọi uy hiếp, đe dọa đến từ các hệ quyền lực và cả với sự không an toàn
của xã hội. Lao động của nhà văn tựa như một sự vắt kiệt mình, đi trong một
khát khao kiếm tìm chân lý, hướng tới lẽ phải và giảm nhẹ những khổ đau của
con người” [8, 317].
Văn nghiệp là một con đường không tránh khỏi khó khăn nhưng Xuân Quỳnh
vẫn tìm đến với nó. Chính bản thân chị cũng đã từng nói tới nguyên nhân bắt đầu
hoạt động văn học của mình: “Thứ nhất là vì thích thú: làm văn học cảm thấy như
mình được sống thêm một cuộc đời khác nữa. Vì uất ức: khi mới vào nghề bị xô
đẩy, khinh rẻ nên tôi quyết phải sống. Mà sống tức là phải viết” [7, 263].
Cũng giống như hầu hết các nữ sĩ Đông, Tây, Kim, Cổ, Xuân Quỳnh làm
thơ tả cuộc sống của chính mình về tất cả các phương diện: những khát khao
giao cảm với đời, những suy nghĩ về sự sống của một người phụ nữ. Vì lẽ đó mà

13

của mình hòa cùng tình cảm chung của thời đại. Chính vì lẽ đó mà thơ chị trong
giai đoạn này được bạn đọc biết đến khá nhiều. Thơ chị đã thực sự góp phần làm
phong phú thêm cho thơ ca chống Mỹ cứu nước. Trong thời kỳ đất nước đương
đầu với cuộc kháng chiến chống Mỹ đầy gian khổ, chị cũng đã hòa nhập hết

14
mình với thời đại. Tập thơ Gió Lào cát trắng, Hoa dọc chiến hào (1974), Lời ru
trên mặt đất (1978) đã chứng minh điều đó. Xuân Quỳnh cũng có mặt hầu hết
trên khắp các chiến trường phát động phong trào văn hóa văn nghệ, góp một
phần nhỏ công sức của mình làm nên thắng lợi của công cuộc kháng chiến
chống Mỹ.
Hòa bình lập lại chị hòa chung cảm xúc thơ với niềm vui chung của thời
đại. Khi đất nước đã giành được độc lập, bước vào thời kỳ xây dựng chủ nghĩa
xã hội, Xuân Quỳnh cũng hòa chung cùng không khí đó với sự ra đời của một
loạt các tác phẩm: Sân ga chiều em đi (1984), Tự hát (1984).
Thành công đó còn tiếp diễn ở những tập truyện ngắn viết cho thiếu nhi.
Ngoài những bài thơ được in rải rác trong tập thơ người lớn, Xuân Quỳnh đã có
ba tập thơ in riêng cho thiếu nhi: Cây trong phố, Chờ trăng, Bầu trời trong quả
trứng… Những tác phẩm đó là kết quả sâu sắc của việc trao gửi tình cảm giữa
một nghệ sĩ nhạy cảm đối với con trẻ, những nét đáng yêu, ngây thơ của chúng
đã tiếp thêm cảm hứng cho ngòi bút.
Với ngòi bút tài hoa đằm thắm và nhiều cảm xúc, chị đã gây được ấn
tượng sâu sắc đối với bạn đọc. Nhiều bài thơ nổi tiếng nữa như Thuyền và biển,
Hoa cỏ may, Tự hát đặc biệt là Sóng , Truyện cổ tích về loài người đã được đưa
vào chương trình sách giáo khoa phổ thông. Nghệ sĩ Phan Huỳnh Điểu đã phổ
nhạc rất thành công những bài thơ: Thuyền và biển, Thơ tình cuối mùa thu của chị.
Xuân Quỳnh làm công tác văn nghệ từ khi còn trẻ, tuổi nghề đã góp phần
làm nên thành công trong công việc, luôn năng động, sáng tạo, nhiệt tình. Chị đã
gây dựng được ấn tượng trong lòng văn nghệ Việt Nam, đặc biệt trong thời kỳ
kháng chiến chống Mỹ. Lúc đầu với những bước đi còn chập chững, những bài

Thơ tình Xuân Quỳnh – Lưu Quang Vũ.NXB Văn học - 1994
Và những tác phẩm viết cho thiếu nhi như:
Bầu trời trong quả trứng. NXB Kim Đồng – 1982
Truyện Lưu Nguyễn. NXB Kim Đồng – 1983
Mùa xuân trên cánh đồng. NXB Kim Đồng – 1984
Tuyển tập truyện thiếu nhi. NXB Phụ nữ - 1995
3.2. Những tác phẩm tiêu biểu
Với những đóng góp lớn lao của Xuân Quỳnh trong nền văn học hiện đại
Việt Nam, các tác phẩm của Xuân Quỳnh đã được những giải thưởng như:
- Hoa cỏ may – giải thưởng về thơ của Hội nhà văn Việt Nam năm 1990.

16
- Bầu trời trog quả trứng – giải thưởng văn học thiếu nhi của Hội nhà văn
Việt Nam, 1982 -1983.
- Giải thưởng của Trung ương Đoàn thanh niên cộng sản Hồ Chí Minh.
- Năm 2001, nhà thơ được truy tặng giải thưởng Nhà nước về văn học nghệ
thuật cho các tác phẩm: Gió Lào cát trắng (1974), Hoa cỏ may (1989), Tự hát
(1984).
Với những giải thưởng cao quý trên Xuân Quỳnh sẽ mãi được in dấu trong
lòng bạn đọc. Ngày 29 tháng 8 năm 2008, tròn hai mươi năm ngày mất của cặp
vợ chồng nghệ sĩ tài hoa – cặp vợ chồng nghệ sĩ duy nhất được trao hai giải
thưởng Hồ Chí Minh và giải thưởng Nhà Nước, nhiều hoạt động kỉ niệm mang ý
nghĩa lớn đã được Hội nhà văn Việt Nam và Hội nghệ sĩ sân khấu các đoàn nghệ
thuật tổ chức để tưởng nhớ tới hai nghệ sĩ lớn của nền nghệ thuật Việt Nam. Bộ
phim tài liệu về cuộc đời Xuân Quỳnh – Lưu Quang Vũ của đạo diễn Nguyễn
Thước dài 45 phút được công chiếu vào tháng 8 năm 2008, một lần nữa khẳng
định được vị trí của Xuân Quỳnh trong nền văn học nước nhà.

Tiểu kết
Như vậy, xinh đẹp, thông minh, lớn lên trong gian khó…tất cả đã tôi luyện

Sáng tạo văn học nghệ thuật có rất nhiều hình thức biểu hiện trong đó thơ là
một hình thức tiêu biểu chiếm số lượng lớn. Có rất nhiều cách hiểu về thơ.
Trong từ điển thuật ngữ văn học: “Thơ là hình thức sáng tác văn học phản
ánh cuộc sống, thể hiện tâm trạng, cảm xúc mạnh mẽ bằng ngôn ngữ hàm xúc,
giàu hình ảnh và nhất là có nhịp điệu” [5, 262].
Bàn về thơ, Sóng Hồng đã viết: “Thơ là một hình thái nghệ thuật cao quý,
tinh vi. Người làm thơ phải có tình cảm mãnh liệt thể hiện sự nồng cháy trong
lòng. Nhưng thơ là tình cảm và lý trí được kết hợp một cách nhuần nhuyễn và có

18
nghệ thuật. Tình cảm và lý trí ấy được diễn đạt một cách rõ nét những hình
tượng đẹp đẽ qua những lời thơ trong sáng vang lên những nhạc điệu khác
thường.” [5, 262]. Và điều đáng lưu ý ở thơ là: “Thơ cũng ví như cây đàn trăm
dây, gảy ra nhiều khúc kỳ kỳ, lạ lạ, tiếng bổng, tiếng trầm, tiếng khoan, tiếng
nhặt, âm hưởng biến hóa vô cùng” – Phạm Quỳnh [5, 262].
Qua nhiều ý kiến phát biểu và nhận định đánh giá về thơ của một số tác giả
ta bắt gặp họ đều có một điểm chung là thấy được cái hay, cái đẹp với nhận thức
và cảm xúc cá nhân.
Nhắc tới thơ ta như biết tới một công cụ, phương tiện để thi sĩ ấp ủ, truyền
tải cảm xúc của chính mình. Thơ như một phương tiện kỳ diệu nào đó đã khơi
dậy ở bản năng con người một tình cảm trong sáng, mãnh liệt. Như Tố Hữu đã
nói: “Thơ là nhụy của cuộc sống, thơ là cái gương của tâm hồn”. Như vậy có rất
nhiều quan niệm về thơ và dường như quan niệm nào cũng có lí do. Do đó, để
đưa ra một quan niệm chính xác về thơ là rất khó. Song không phải bởi vậy mà
ta không thấy hết được giá trị của thơ trong văn học nghệ thuật.
Thơ là sản phẩm có sự kết hợp nhuần nhuyễn và hài hòa giữa ý thức, tình
cảm và thực tế. Những cảm xúc mãnh liệt mà tha thiết trong thơ được sàng lọc
qua lăng kính chủ quan của người nghệ sĩ. Với thi sĩ, tố chất quan trọng không
phải chỉ là kinh nghiệm sống mà còn là người trả lời câu hỏi: “Mình phải thể
hiện điều đó bằng cảm xúc, tình cảm thế nào?”. Tất nhiên câu hỏi đó sẽ không

đời sống được thể hiện một cách trực tiếp. Tính chất cá thể hóa cảm nghĩ và tính
chất chủ quan hóa của sự thể hiện là những dấu hiệu tiêu biểu của thơ trữ tình.
Là tiếng hát của tâm hồn, thơ trữ tình có khả năng thể hiện những biểu hiện
phức tạp của thế giới nội tâm, từ cung bậc của tình cảm cho tới những chính
kiến, những tư tưởng triết học” [5, 269].
Tác phẩm trữ tình làm sống dậy cái thế giới chủ thể của hiện thực khách
quan giúp ta đi sâu vào thế giới của những suy tư, tâm trạng, nỗi niềm – một
phương diện rất năng động, hấp dẫn của hiện thực. Đối với một tác phẩm thơ trữ
tình hay thì đó là sự cấu thành của hai yếu tố nội dung và hình thức mà nên. Nội
dung tác phẩm trữ tình được thể hiện gắn liền với hình tượng nhân vật trữ tình.
Đó là hình tượng người trực tiếp thổ lộ suy nghĩ, cảm xúc, tâm trạng trong tác
phẩm. Nhân vật trữ tình không có diện mạo, hành động, lời nói, quan hệ cụ thể
như nhân vật tự sự và kịch. Nhưng nhân vật trữ tình cụ thể trong giọng điệu,
trong cách cảm, cách nghĩ. Qua những trang thơ ta như gặp tâm hồn người, tấm
lòng người.
Cần phân biệt nhân vật trữ tình và nhân vật trong thơ trữ tình. Nhân vật
trong thơ trữ tình là đối tượng để nhà thơ gửi gắm tình cảm, là nguyên nhân trực
tiếp khơi dậy nguồn tình cảm của tác giả.

20
Thơ trữ tình vì vậy luôn mang lại quan niệm về một cá nhân, con người cụ
thể, sống động, một cái “tôi” có nỗi niềm riêng.
Về hình thức của thơ trữ tình lại có sự khác biệt rõ nét. Tuy cũng mang tính
hình tượng, gợi cảm, hàm súc như trong tác phẩm tự sự và kịch nhưng lại thể
hiện theo cách riêng. Có thể nói ngôn ngữ thơ bão hoà cảm xúc và ngôn ngữ thơ
giàu nhạc tính là hai đặc điểm chính làm nổi bật nên hình thức của tác phẩm thư
trữ tình.
Đối với đặc điểm thứ nhất, ngôn ngữ thơ bão hoà cảm xúc thì có thể thấy
ngôn ngữ thơ không bao giờ là ngôn ngữ khách quan, yên tĩnh của tác phẩm tự
sự. Lời thơ thường là lời đánh giá trực tiếp thể hiện một quan hệ của chủ thể đối


Nhờ tải bản gốc
Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status