chất trí tuệ trong thơ chế lan viên - Pdf 10

Thi ca là một loại hình nghệ thuật ngôn từ đặc biệt. Nhưng không phải bất kì
một tác phẩm thơ nào ra đời cũng thành công và để lại ấn tượng trong lòng người
đọc. PGS – TS Hồ Thế Hà cho rằng: “Đó chính là sự hài hoà thẩm mỹ giữa trí tuệ
và cảm xúc; giữa cái ảo và cái chân; giữa hình thức và nội dung.” Trong đó, chất trí
tuệ hay chất trí tuệ là một phương diện cần có để làm giàu nhận thức, liên tưởng và
suy tưởng của con người. Chất trí tuệ này đậm đặc trong thơ của Chế Lan Viên.
1. Chất trí tuệ trong thơ
Thuật ngữ chất trí tuệ hay chất trí tuệ xuất hiện từ rất sớm. Khái niệm “thơ
trữ tình triết học” gắn liền với tên tuổi các nhà thơ lớn trên thế giới như: Block,
Schiller, Bretch, Rilke, Baudelaire, Valéry, Claudel , đến thời của chủ nghĩa lãng
mạn, Arnaudov cho biết cũng có một số nhà thơ sáng tác theo khuynh hướng này
mà người Đức gọi là “trữ tình trí tuệ”, thơ ca gắn với cuộc sống và có sự thâm nhập
lẫn nhau giữa một bên là nghệ thuật, một bên là khoa học, triết học. Và Arnauđốp
thêm: “Vào thời cận đại, chúng ta ngày càng bắt gặp nhiều hơn trong trữ tình
những mô tip dắt dẫn ta vào vương quốc của các tư tưởng. Như Ghugô nói, ở
những chỗ lý tính thường không được thỏa mãn thì cảm xúc ngày càng khó khăn
hơn trong việc tìm kiếm sự thỏa mãn, để tìm ra được khoái cảm trong một điều gì
đó chúng ta nhất thiết phải suy nghĩ tạo ra một trong những nguyên nhân của tiến
bộ đạo đức và thẩm mỹ”. Như vậy, chất trí tuệ trong văn chương không phải là
những gì khô khan; vì nếu thế, các lĩnh vực khác như triết học, tư tưởng sẽ đắc địa
hơn nhiều. Chất trí tuệ ở đây được thăng hoa từ cảm xúc và suy nghĩ trên cái nền
hiện thực cụ thể mà chủ thể sống qua. Thơ ca từ xưa đến nay đều vươn lên thể hiện
sự hài hòa này. Không phải chỉ câu thơ, bài thơ mà ngay cả những gì trong đầu óc
nhà thơ đã bao hàm một ẩn tàng trí tuệ. Và khi đươc thể hiện ra, lập tức nó làm
giàu, nâng cao hiệu quả thơ. Nhà thơ nào có vốn văn hóa, vốn triết học cao và biết
vận dụng chúng trong sáng tạo để hình thành kiểu tư duy độc đáo, đậm đặc mang
cá tính, giọng điệu riêng khi bình giá cuộc sống thì được xem như nhà thơ trí tuệ,
nhà thơ trí tuệ.
2. Chất trí tuệ trong thơ Chế Lan Viên
Theo dõi toàn bộ sáng tác của Chế Lan Viên cùng với tìm hiểu nhận định của
các nhà lý luận phê bình văn học, chúng ta thật dễ dàng đi đến nhận xét: Thơ Chế

thấy ấm áp, vẫn chan hoà tình thương. Nó là siêu mà vẫn thực.Nó là cõi lặng, cõi
vô biên mang bóng dáng cuộc đời. Biên độ của hiện thực không chỉ được mở rộng
sang một thế giới siêu hình, mà còn ở tận miền suy tưởng. Biên độ của sự suy
tưởng, vẻ đẹp của trí tuệ làm câu thơ của Chế Lan Viên trở nên lấp lánh, trong ảo
giác, chinh phục trái tim con người bằng sự bất ngờ của những ý nghĩ, của những
liên tưởng. Đó chính là vẻ đẹp của trí tuệ, một phẩm chất của thơ ca hiện đại.
Ngay từ tập Điêu tàn, Chế Lan Viên đã chọn cho mình một lối thơ giàu tính
trí tuệ. Tứ thơ Chế Lan Viên thường hướng tới nắm bắt ý nghĩa triết lí hàm ẩn trong
mỗi hiện tượng và bằng tưởng tượng liên tưởng mà liên kết các sự vật hiện tượng
trong nhiều mối tương quan. Cuộc sống hiện ra trong thơ Chế Lan Viên vì thế
không chỉ như nhà thơ xúc cảm về nó mà còn suy nghĩ về nó. Vì vậy, cuộc sống đi
vào trong thơ có thể ít đi phần nào cái cụ thể sinh động, tươi tắn, nhưng bù lại, nó
lại được làm giàu thêm ở sức khái quát ở sự hư ảo biến hóa:
Hạnh phúc màu hoa huệ
Nhớ nhung màu hoa lau
Biệt ly màu rách xé
Lãng quên đâu có màu.
Cách cảm nhận riêng trong thơ Chế Lan Viên tập trung ở khả năng lí giải,
bình luận theo quan điểm của tác giả về hình tượng thơ, khi nói về hạnh phúc nhà
thơ không định nghĩa một cách trừu tượng mà lại đi vào lí giải theo nghĩa đời
thường:
Lũ chúng ta ngủ trong giường chiếu hẹp
Giấc mơ con, đè nát cuộc đời con,
Hạnh phúc đựng trong một tà áo đẹp,
Một mái nhà yên rủ bóng xuống tâm hồn.
Từ đây, nếu áp dụng hình thức luận của Nga để cắt nghĩa thơ Chế Lan Viên,
ta thấy Chế Lan Viên đã có điểm giống với Mikhail Bakhtin đó là xem thủ pháp
trung tâm của tính văn chương, coi hình tượng trong tác phẩm nhất thiết phải lạ
hóa.
Anh bỗng nhớ em như đông về nhớ rét

Chong đèn xay cối lúa
Tiếng cối xay ù ù kia dẹp tan tiếng mọt gặm chân giường
(Hai thứ tiếng)
Ngày xưa, lúc còn chiến tranh chống Mỹ, sống hết mình với cuộc chiến đấu
của nhân dân, Chế Lan Viên bình luận: Những ngày tôi sống ở đây là những ngày
đẹp hơn tất cả/ Dù mai sau có muôn vạn lần hơn. Rồi đến một ngày chiến thắng,
khi đất nước trên đài cao vinh quang, nhưng trong cuộc mưu sinh đầy gian nan
trước mắt, bao nhiêu câu hỏi không dễ tìm ra câu trả lời. Điều đó làm Chế Lan Viên
day dứt:
Chẳng huân chương nào nuôi được người lính cũ!
Người lính cần một câu thơ giải đáp về đời
Tôi ú ớ
Ngưòi ấy nhắc những câu thơ tôi làm người ấy xung phong
Tôi xấu hổ
Thêm một lần ta thấy trách nhiệm đứng ngang tầm chiến luỹ của Chế Lan
Viên, khi ông đi tìm một câu thơ giải đáp về cuộc đời hiện tại, có gì đó bi tráng như
ngày xưa cha ông chúng ta từng đấm nát bàn tay trước cửa cuộc đời để đi tìm lẽ
sống. Như vậy trí tuệ trong thơ Chế Lan Viên không bao giờ tách rời những vấn đề
của cuộc sống.
Tư duy thơ Chế Lan Viên có cách tiếp cận riêng với hiện thực bề bộn của
cuộc sống. Thơ ông không chỉ là tiếng nói của xúc cảm, của tri thức bề ngoài sự vật
hiện tượng mà cái nhìn nghệ thuật của ông còn muốn khám phá sự vật “ Ở cái bề
sâu, ở cái bề sau, ở cái bề xa”. Trí tuệ của nhà thơ hướng tới nắm bắt phần ý nghĩa
trí tuệ hàm ẩn trong mỗi hiện tượng và bằng sự liên tưởng, tưởng tượng mà liên kết
các sự vật, hiện tượng trong nhiều mối liên quan. Từ đó, tác giả làm nảy lên nhiều ý
nghĩa sâu sắc. “ Tiếng hát con tàu” biểu hiện rất rõ khuynh hướng đó. Nhân vật trữ
tình say sưa, hăm hở với tiếng hát lên đường. Con đường lên Tây Bắc cũng chính là
con đường trở về với cuộc sống chung rộn rã, hối hả của dân tộc, của đất nước và
đông đảo quần chúng nhân dân. Từ những kỷ niệm ân tình với nhân dân trong
kháng chiến, Chế Lan Viên đã nâng lên thành những suy ngẫm, chiêm nghiệm giàu

khó khăn trở ngại, trên đường thơ. Chế Lan Viên đã từng tổng kết về đời thơ mình
với những vần thơ đầy suy tưởng – trí tuệ:
Xưa phù du mà nay đã phù sa
Xưa bay đi mà nay đã không trôi mất
Cho đến được lúa vàng đất mật
Phải trải trên mình bao trận gió mưa qua.
Câu thơ thấm đẫm dư vị trí tuệ về con đường sáng tạo đầy chông gai của
người nghệ sĩ. Cũng là một sự tổng kết cho bất cứ ai đã ở trên vinh quang, thành
quả cuộc đời khi nhìn lại chặng đường quá khứ đã đi qua.
Sức mạnh thơ của Chế Lan Viên chủ yếu được tạo lập bằng vẻ đẹp trí tuệ
trong hình tượng thơ của tác giả bao giờ cũng nổi lên từ ngọn sóng cảm xúc và
vươn lên chất trí tuệ. Ta nhớ lại các tập thơ trước với những hiện tượng thơ đậm
đặc chất suy tưởng, tầng tầng lớp lớp hình ảnh, hiện lên trong nhiều đường nét lạ và
màu sắc chói chang kỳ ảo: Cành phong lan bể, Tàu đến, Tàu đi, Kết nạp đảng trên
quê mẹ, Người đi tìm hình của nước…( Trong Ánh sáng và Phù sa) Sao chiến
thắng, Tổ quốc bao giờ đẹp thế này chăng, Con mắt Bạch Đằng, Con mắt Đống
Đa…( Trong Hoa ngày thường, Chim báo bão).
Ta gặp lại cái rậm rập, lớp lớp tầng tầng ấy ở khá nhiều bài trong “ Đối thoại
mới”. Ánh sáng trí tuệ đem đến cho hình tượng thơ Chế Lan Viên vẻ đẹp lóng lánh
nhiều màu của đêm hội pháo hoa. Trên nền trời giao cảm vô hình giữa nhà thơ và
bạn đọc, cái đẹp trí tuệ ấy nở bung thành muôn chùm hoa ngũ sắc, xòe nở mãi
những tia đẹp bất ngờ từ nhiều điểm nổ bất chợt của xúc động. Từ một màu da, từ
nhiều màu da, hiện tượng thơ chuyển động cuồn cuộn như sóng, kết thành một “
Trận tuyến cao hơn cả màu da”, trút tiếng súng căm hờn, tiếng trống nghìn năm cũ
Châu phi nổi giận vào đầu giặc Mĩ. Từ một cành đào tươi thắm cụ thể của mùa
xuân đất nước, suy tưởng xuôi theo dòng xúc cảm trong một ngày chiến thắng,
nâng lên thành biểu tượng cành hoa Việt Nam, chói ngời thế kỷ, nâng lên nữa thành
cành hoa chân lý đi qua cả thời gian:
Cầm nhành hoa Việt Nam
Chói ngời trong thế kỷ

Ngõ bảy thước mà lòng muôn dặm
Thương một đời đâu phải tạm thương.
Có lúc thơ ông lại mang vẻ trầm mặc, đầy suy tưởng trong một buổi chia tay
lặng lẽ:
Buổi sáng em xa chi
Cho chiều mùa thu đến
Để lòng anh hóa bến
Nghe thuyền em ra đi.
Ngày em đi vào buổi sáng thì ngay buổi chiều mùa thu đã ùa về. Mùa thu ở
đây chưa chắc đã là mùa thu của thiên nhiên theo quy luật của đất trời nhưng đó là
thu của tâm trạng, thu của lòng người. Sự thiếu vắng của em làm cho không gian
bao trùm một mùa thu buồn man mác, bâng khuâng. Lòng anh là bến thu có thể
nghe thấu con thuyền em trở ngược – ra đi. Phải thật tinh tế và giàu sự liên tưởng
thì Chế Lan Viên mới sáng tạo những vần thơ đầy ắp tâm trạng như thế.
Theo tôi trong tình yêu dù bất cứ ai cũng cần bình đẳng. Ta đã thấy cái rạo
rực xao xuyến của tình yêu thưở ban đầu tuổi trẻ, nét hăm hở, đắm đuối, say sưa
của trái tim dào dạt sức thanh xuân thì sẽ có cái thâm trầm, nồng đượm, sâu sắc của
tình yêu tuổi năm mươi:
Anh tặng em yêu chùm hoa sắc trắng
Nhưng khi yêu anh yêu đỏ hoa hồng
Tuổi năm mươi lòng yêu như lửa đỏ
Mà bên ngoài vẫn cứ trắng như không.
Năm mươi tuổi có thể xem là lứa tuổi đã đi gần hết chặng đường đời, trải qua
bao sóng gió, đắng cay mật ngọt của đời. Trái tim yêu đâu bao giờ có tuổi. Nó vẫn
cứ đập mạnh mẽ. Nhưng tình yêu của tuổi năm mươi có phần kín đáo hơn nó không
bồng bột, sôi nổi như thủa mới yêu. Nó không thể là:
Có một bận em ngồi xa anh quá
Em bảo anh ngồi xích lại gần hơn
Em xích lại một chút anh hờn
Em ngoan ngoãn xích gần thêm chút nữa

nhau, mỗi lần ông đặt mình trước trang giấy; bởi vì bao giờ ông cũng muốn phát
giác sự việc ở bề chưa thấy. Ở cái bề sâu, ở cái bề sau, ở cái bề xa.Thơ ấy thường
làm sửng sốt, bất ngờ, thường làm kinh dị, kinh ngạc mọi người là vì vậy. Ngày
trước Hải Thượng Lãn Ông nói: thơ cốt ở ý, ý có sâu xa thơ mới hay. Chế Lan Viên
đã làm đúng như vậy. Thơ Chế Lan Viên rất dễ chuyển nghĩa sang những ngôn ngữ
khác là vì thơ ông rất sáng rõ về ý. X.V. Calachôva, một chuyên gia nghiên cứu thơ
Nga rất ngạc nhiên khi đối chiếu một số bài thơ của Chế Lan Viên bản tiếng Việt và
bản dịch sang tiếng Nga, thấy số lượng từ vựng không chênh nhau bao nhiêu. Điều
đó chứng tỏ tính hàm súc và về mặt nào đó là tính quốc tế, tính hiện đại của thơ
Chế Lan Viên.
Thế kỷ XX, thơ Việt Nam thật sự được hiện đại hoá lần thứ nhất bởi các nhà
thơ mới trong đó có Chế Lan Viên. Một cuộc cách tân triệt để, phá bỏ những niêm
luật, những đối, những biền ngẫu trong thơ trước đó để làm nên một thời đại mới
trong thi ca, đưa thơ ca Việt Nam vào quỹ đạo hiện đại, rất phù hợp với tâm lý, tình
cảm của những cá nhân tiểu tư sản, trước trào lưu xâm lấn ồ ạt của văn hoá nói
chung và thơ ca phương tây nói riêng. Nhưng rồi những bài thơ bảy chữ, tám chữ
của thơ mới (mà trong Điêu tàn của Chế Lan Viên có không ít) hình như chỉ sau
khoảng mươi năm đã có vẻ không còn phù hợp. Một cuộc cách tân khác bằng thơ
không vần của Nguyễn Đình Thi tuy không thuận buồm xuôi gío, nhưng cũng đã
cho thấy thơ Việt Nam đang trên đường đi tìm một một hình thức biểu hiện mới. Ở
Chế Lan Viên, sau tập thơ Gửi các anh như một sự trở lại đầy cố gắng, đến tập Ánh
sáng và phù sa và cho đến những tập thơ cuối cùng, câu thơ không ngừng thay đổi
về mặt cấu trúc.Những câu thơ dài ngắn đan xen, những nhịp điệu liên tục thay đổi,
đầy biến hoá. Không hề tự hạn chế số tiếng trong một câu thơ (có những câu chỉ có
2 tiếng, có những câu thơ có đến trên 20 tiếng), Chế Lan Viển trở nên hết sức linh
hoạt, đắc địa và hiệu quả, đào xới đến tận gốc những điều ông đang suy nghĩ, chinh
phục đến từng con tim khối óc những độc giả ông đang hướng tới. Miẽn là nói
được ý, còn dài hay ngắn không thật sự quan trọng. Nhưng ông hết sức chú ý đến
nhịp, nhạc điệu, hình ảnh, ngôn ngữ. Đôi khi câu dài như để diễn đạt mạch suy nghĩ
đang tuôn chảy dào dạt, và câu ngắn như một con đập đột ngột chắn lại, bất ngờ và

sống lâu bền của thơ ông. Chắc chắn Chế Lan Viên sẽ còn đồng hành với chúng ta
đến mai sau, và sẽ là nhà thơ đi xa nhất theo trục thời gian phía trước. Đúng như dự
cảm của Tố Hữu:
Mai sau những cánh đồng thơ lớn
Có xác tro anh bón sắc hồng.
***


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status