Hình ảnh đất nước trong thơ Chế Lan Viên trước “Di cảo thơ” - Pdf 27

MỤC LỤC
Phần mở đầu
I. Hình ảnh đất nước trong thơ Chế Lan Viên trước “Di cảo thơ”
II. Hình ảnh đất nước trong “Di cảo thơ”
1. Đôi nét về “Di cảo thơ”
2. Nhận thức hoàn toàn mới mẻ về đất nước
3. Đất nước trong những ký ức về chiến tranh
4. Đất nước trong hoà bình
5. Cái nhìn tổng quan về đất nước
Phần kết luận
Tài liệu tham khảo
PHẦN MỞ ĐẦU
Suốt đời mình , Chế Lan Viên đã sống cho đất nước, cho thơ.
Suy nghĩ, trăn trở về Tổ quốc là một niềm say mê lớn của Chế Lan
Viên. Và ông đã thực hiện một phần không nhỏ những suy nghĩ, trăn
trở ấy qua thơ - một niềm say mê lớn khác của đời mình. Từ đây,
Chế Lan Viên đã để lại cho chúng ta một di sản lớn : những bài thơ
ông viết về đất nước.
Nếu nói rằng nhận thức là một quá trình thì điều đó hoàn toàn
đúng đối với hình ảnh đất nước trong thơ Chế Lan Viên. Là một nhà
thơ với phong cách suy tưởng, Chế Lan Viên luôn để cho những suy
tưởng in dấu ấn đậm nét trong thơ mình. Ông cũng là một người suy
tưởng nhiều về đất nước. Đất nước trong quá khứ, hiện tại, tương
lai, đất nước với lịch sử, tư thế, vận mệnh luôn là điều khiến Chế
Lan Viên băn khoăn, trăn trở. Trải qua quá trình trưởng thành của
nhà thơ, đất nước trong cái nhìn luôn mới mẻ cũng có nhiều đổi
khác.
Trước cách mạng tháng Tám, trong thơ Chế Lan Viên đất nước
chưa được nhận thức một cách rõ ràng. Ông đã đi từ chỗ phiêu lưu
trong bộ ba thế giới “Bãi tha ma - cái tôi - Vũ trụ”, “làm bóng ma
thời sờ soạng đêm mơ” (Điêu tàn) đến chỗ trở về Cõi ta, leo lên

đã nói giúp Chế Lan Viên rất nhiều điều. Chế Lan Viên là một con
người yêu đất nước mình đến thiết tha, thậm chí là day dứt. Trong
những bài thơ viết về dân tộc, ông có một tình cảm rất nồng nàn.
“Ôi Tổ quốc, ta yêu như máu thịt
Như mẹ như cha, như vợ như chồng
Ôi Tổ quốc, nếu cần, ta chết.
Cho mỗi ngôi nhà, ngọn núi con sông …”
(Sao chiến thắng)
Tình yêu Tổ quốc của Chế Lan Viên bắt đầu từ lòng tự hào rất
hồn nhiên, trong sáng. Khi miền Bắc được giải phóng hoàn toàn sau
chiến dịch Điện Biên Phủ, bước vào giai đoạn hồi sinh thì cũng là
lúc hồn thơ Chế Lan Viên vừa hồi xuân sau những ngày “lột xác”.
Cuộc gặp gỡ ấy trở thành một duyên may, làm hừng lên trong thơ
3
Chế Lan Viên vẻ đẹp diễm lệ của non sông, đem lại cho đất nước vẻ
tươi sáng, trong trẻo đến vô ngần :
“Tâm hồn tôi khi Tổ quốc soi vào
Thấy ngàn núi trăm sông diễm lệ
Con ngọc trai đêm hè đáy bể
Uống thuỷ triều bông sáng hạt châu”
(Chim lượn trăm vòng - ánh sáng và phù sa)
Đất nước sau nhứng năm tháng tăm tối đau thương giờ đây đã
thực sự bừng sáng, vươn mình sống dậy trong buổi bình minh của
lịch sử.
“Khắp Trung Châu những xóm làng thoát khổ
Hết đêm rồi, đời lật giở sang trang”
Chế Lan Viên đã không giấu niềm tự hào của mình khi đứng
trước Tổ quốc tươi đẹp đang hồi sinh từng ngày. Có thể nói âm
hưởng chủ đạo của thơ Chế Lan Viên viết về đất nước ở giai đoạn
này là âm hưởng trữ tình, ngợi ca. Nhưng khi cả nước bước vào

Hưng Đạo diệt quân Nguyên trên sóng Bạch Đằng…
Nhưng, đứng trong khí thế xung phong hừng hừng của cả một
dân tộc chống Mỹ, Chế Lan Viên thấy rằng những ngày mình đang
sống mới là những ngày đẹp hơn tất cả, “dù mai sau đời muôn vạn
lần hơn” :
“Nhưng đáng tự hào nhất vẫn là thời đại của chúng ta :
5
Cho tôi sinh giữa những ngày diệt Mỹ
Vóc nhà thơ đứng ngang tầm chiến luỹ
Bên những dũng sĩ đuổi xe tăng ngoài đồng
và hạ trực thăng rơi”.
(Tổ quốc bao giờ đẹp thế này chăng).
Cảm hứng anh hùng, cảm hứng dân tộc đã nâng thơ Chế Lan
Viên lên một tầm vóc mới. thơ ông đã cất lên những bản anh hùng
ca bất hủ về những năm tháng hào hùng của một dân tộc anh hùng.
Viết về đất nước, Chế Lan Viên không bao giờ nguôi quên
những nỗi đau. Ngay cả ở đây, những âm hưởng bi hùng trong thơ
ông vẫn không mất đi. Nỗi đau Tổ quốc bị chia cắt lúc nào cũng
canh cánh trong lòng, làm ông nhức nhối, đau thương :
“Cho tôi nghe tiếng kêu gào thấu ruột.
Tiếng đau thương người dở mái kêu trời.
Tiếng đồng chí gọi nhân dân. Tiéng thét
Tiếng trẻ cào chảy máu cả vành nôi”.
Nỗi đau thương trong lòng ông đã làm bùng lên một niềm khát
khao cháy bỏng :
“Ôi ! Tôi yêu đất Bắc bởi miền Nam
Bởi cháy ruột trông một ngày thống nhất
Thấy quân thù đền tội trước nhân dân”
Bài hát đau thương trong thơ Chế Lan Viên cũng là những
khúc ai ca bi tráng. Đó là những vần thơ hào hùng, mãnh liệt, sôi

từng bàng hoàng trước “Điêu tàn”, khi mà Chế Lan Viên xuất hiện
giữa làng thơ “như một niềm kinh dị”.
Nhà phê bình Hoài Thanh đã đúng với những lời tiên đoán
rằng cái tháp chàm Chế Lan Viên đứng sừng sững giữa đồng bằng
thơ, “Chắc chắn và lẻ loi, bí mật” (5). Năm mươi năm sau nó vẫn
còn lẻ loi và bí mật. Đi từ tháp Chàm đến tháp Bay-on là một chặng
đường dài, nhưng suốt chặng đường ấy Chế Lan Viên vẫn chỉphơi
bày một bộ mặt trong số bốn bộ mặt Bay-on của mình mà thôi. Vì
thế mà khi đã thành người thiên cổ rồi, ông vẫn còn làm cho người
ta phải bàng hoàng kinh ngạc về những tâm sự còn giấu kín của
mình.
2. Nhận thức hoàn toàn mới mẻ về đất nước :
“Anh là tháp Bay-on bốn mặt
Giấu đi ba, còn lại đấy là anh
Chỉ mặt đó mà nghìn tròn cưới khóc
Làm đau ba mặt kia trong cõi ẩn hình”
Đó là bài thơ Chế Lan Viên viết vào mùa bệnh 1988, trong
những phút giây còn tỉnh táo sau cùng của cuộc đời một nhà thơ.
Một ván bài đã được lật ngửa. Người ta hiểu rằng Chế Lan Viên đã
viết để phơi bày ba mặt còn lại trong cõi ẩn hình của lòng mình. Có
người cho rằng Chế Lan Viên đã là một người cơ hội khi giấu đi ba
mặt tháp Bay-on - nghĩa là thơ ông không thật. Nhưng không nên
nhìn một chiều như thế. Cái chung, cái ta suốt ba chục năm cách
mạng có phần lấn át cái riêng, cái tôi. Đó là cuộc sống. Chế Lan
Viên cũng như bao nhiêu người Việt Nam khác phải đáp ứng đòi hỏi
của thời đại theo cái lí của lịch sử. Mọi người trong đó có Chế Lan
8
Viên đã tự nguyện hiến thân cho sự tồn vong của đất nước này. Thơ
ông cũng vậy.
“Giữa hai con người, con người cá nhân và con người xã hội,

trọng quá, mơ mộng quá…” (8).
Thời cách mạng, thơ Chế Lan Viên là những lời ca. Giờ đây,
ông hầu như chỉ nói - cái cách nói như đang chuyện trò, lập luận,
bình dị, bình dân. Mà ông cũng nói ít hơn, ông để cho cuộc sống
nói, để cho thơ nói, “xưa tôi làm thơ, giờ thử để thơ làm”. Vì thế mà
hình ảnh ngôn ngữ trong “Di cảo thơ” như còn mang theo cả bụi
bặm phố phường, tươi rói màu sắc thật của đời, phập phồng hơi thờ
cuộc sống. Đất nước đi vào đây trong một cái nhìn nhiều chiều hơn,
qua lăng kính nhiều màu sắc hơn, chân thực và nghiêm khắc hơn.
Cho đến những phút giây cuối cùng của đời mình. Chế Lan
Viên đã sống không hề thanh thản. Thơ ông càng về cuối đời càng
trĩu nặng những suy tư về cuộc đời. Giờ đây ông muốn “ngụp lặn”
vào đáy sâu “bể loài người”, hoà nhập hết mình vào cuộc đời trần
thế đầy trăn trở. Khi đất nước bước ra khỏi chiến tranh cũng là lúc
cả dân tộc bước vào một giai đoạn mới đầy biến động, nhiều quan
điểm, cách nhìn thay đổi ghe gớm, nhiều giá trị đảo lộn, phức tạp,
hiển nhiên là những suy nghĩ, cảm xúc con người cũng không thể
giản đơn. Đối với Chế Lan Viên - một nhà thơ đã trải qua nhiều
thăng trầm của lịch sử dân tộc, bây giờ đối mặt với hiện thực cuộc
sống đổi thay như thế, suy nghĩ, cảm xúc lại càng không thể giản
đơn.
10
Nếu như trước kia Chế Lan Viên nói về đất nước bằng những
tráng ca, những khúc bi hùng, những khẩu lệnh, những tiếng thét
phẫn nộ của một cộng đồng, một dân tộc, giờ đây, ông dùng một
giọng thơ không kém mạnh mẽ nhưng sâu lắng hơn, trầm tĩnh hơn,
ngày càng nghiêng nhiều về suy tưởng. Đó là con đường mà Chế
Lan Viên đã đi ngày càng sâu hơn, đối diện với tâm hồn mình, đối
diện với ba mặt tháp Bay-on còn lại của mình, tự chất vấn mình và
tự trả lời những chất vấn đó. Từ đây, Chế Lan Viên hiện lên trong

Đó chỉ là những ý tưởng thoáng qua mà Chế Lan Viên ghi vội
lại trong tập nháp của mình, chưa kịp hoàn thiện. Nhưng chỉ những
ý nghĩa nhỏ ấy của Chế Lan Viên cũng đã đủ cho ta cảm động, khi
ta cùng nghĩ với nhà thơ rằng tiểu sử của những em bé Việt Nam đã
có một thời được ghi lại bằng những chặng đường lánh nạn và
những mảnh bom bi.
“Làm mẹ ở Việt Nam nào có dễ nào
Làm trẻ con khó hơn làm mẹ”.
Những lời thơ hóm hỉnh ấy lại hàm chứa một nỗi đau thương :
“Các nàng tiên đã cháy thiêu rồi, chả ai chơi với trẻ
Sách ước ra tro rồi. Bụt có hiện lên đâu !”
Những đứa trẻ từ sớm đã phải dạn dày với gian khổ, chiến
tranh, chúng thậm chí còn không có quyền tin vào cổ tích. Những
12


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status