Cái tôi ngông trong thơ tản đà - Pdf 25

MEONGOK
Mở đầu.
1. Lý do chọn đề tài:
1.1. Nhắc tới nền văn học Việt Nam thì chúng ta không thể không nhắc tới
Tản Đà Nguyễn Khắc Hiếu. Bởi Tản Đà là một phong cách lớn, giữ một vị trí
quan trọng trong lịch sử văn học dân tộc. Ông là con ngời của buổi giao thời -
cái buổi mà nền văn học mới cha đợc định hình rõ mà văn học cũ thì đã đi vào bế
tắc, hết vai trò lịch sử. Tản Đà Nguyễn Khắc Hiếu chính là dấu nối giữa hai nền
văn học trung đại và hiện đại. Tên tuổi của ông gắn liền với thời kì văn học mang
tính chất giao thời ấy. Tản Đà có ảnh hởng rất lớn đến quá trình vận động và
phát triển của văn học, đặc biệt là lĩnh vực thơ ca. Ông chính là một hiện tợng
hấp dẫn, mới mẻ đối với giới phê bình nghiên cứu. Nhng bản thân con ngời cũng
nh sáng tác của Tản Đà vốn rất phức tạp dẫn đến nhiều hớng tiếp cận, nhiều cách
đánh giá khác nhau. Và ở ông vẫn còn nhiều vấn đề cha đợc đề cập tới. Chính vì
vậy, việc tìm hiểu, nghiên cứu về hiện tợng văn học này cần phải đợc tiếp tục để
đảm bảo một cái nhìn đúng đắn, thống nhất.
1.2. Cái Tôi tác giả là một phạm trù rất quan trọng trong sáng tác văn học
viết. Đây là yếu tố cơ bản trong hệ thống các yếu tố hình thành nên phong cách
của một tác giả.
Cái Tôi trong sáng tác của Tản Đà quả thực là một hiện tợng rất độc đáo
trong văn học Việt Nam. Đi sâu tìm hiểu vấn đề này, chúng tôi hy vọng nhằm đi
đến xác định một phơng diện quan trọng trong phong cách của tác giả, tìm ra đ-
ợc dấu ấn riêng đặc sắc mà nhà thơ đã để lại trong lịch sử văn học dân tộc.
1.3. Từ thập niên bốn mơi của thế kỷ XX, thơ Tản Đà đã đợc đa vào giảng
dạy trong nhà trờng phổ thông và đại học. Hiện nay, ở Trung học phổ thông, thơ
Tản Đà đợc chọn giảng bài Thề non nớc. Đây là một trong những bài thơ hay
nhất của ông và cho đến nay vẫn có nhiều ý kiến tranh cãi, không thống nhất.
Nh vâỵ, chúng ta thấy rằng Tản Đà là một tác giả có vị trí đặc biệt không chỉ
trong lịch sử văn học dân tộc mà cả trong các chơng trình giảng dạy văn học ở
học đờng. Vì thế, việc tìm hiểu, nghiên cứu vấn đề này, hy vọng sẽ có đóng góp
ít nhiều vào công tác giảng dạy, học tập về Tản Đà ở nhà trờng phổ thông.

Quỳnh đã công nhận và ca ngợi kịp thời những ảnh hởng tích cực của Tản Đà đối
với nền văn học dân tộc: có giọng mới, có ý lạ, đợc quốc dân nhiều ngời cổ võ
[29,165]. Cũng chính Phạm Quỳnh trên tờ tạp chí ấy đã đả kích Giấc mộng con
của Tản Đà.Ông cho rằng với Giấc mộng con 1, Tản Đà đã khinh mạn quốc
dân đến nỗi đem chính danh thân thế mà bắt quốc dân truyền tụng [29,165],
đem cái ngông mà phô diễn Với cái Tôi ngông nghênh xuất hiện trên văn
đàn trong Giấc mộng con 1, Tản Đà đã bị Phạm Quỳnh phê phán một cách nặng
nề rằng: không những là không có ích mà còn có hại, là đánh thuốc độc cho cả
nớc, là phạm tội diệt vong Bên cạnh đó, Phạm Quỳnh lại tỏ ý ca ngợi những
cuốn nh Đài kinh, Lên sáu vì đã phổ thông luân lý cho đàn bà con gái, vì đã
chuyên chú về đờng giáo dục. Giống nh Phạm Quỳnh, một số nhà nghiên cứu
2
MEONGOK
khác, họ bất bình với cái Tôi của nhà thơ bộc lộ một cách ngang nhiên nh vậy và
họ đã đồng tình với những Đài kinh, Lên sáu. Vì theo họ, văn phải là vỏ bọc của
t tởng (Tạp chí Nam Phong - số 17).
Nh vậy, từ đầu thế kỷ cho đến trớc 1932 - khi thơ Mới cha xuất hiện, ngời
phê bình, đánh giá về Tản Đà không nhiều nhng thực tế thì từ đây, Tản Đà đã bắt
đầu trở thành một hiện tợng trên văn đàn. Ông đã tạo nên một sự ảnh hởng
trong văn giới và sự say mê trong thế hệ học sinh Tây học.
Khi thơ Mới xuất hiện và khẳng định đợc vị trí của mình thì Tản Đà bị đa ra
làm đối tợng phê phán. Sự thắng thế của thơ Mới đã thu hút đợc sự quan tâm của
công chúng, Tản Đà Nguyễn Khắc Hiếu trở nên lu mờ và cổ lỗ, chỉ sống trong
kỷ niệm của độc giả.
Năm 1934, Tản Đà tranh luận về thơ cũ và thơ Mới với các nhà thơ trẻ. Ông
bị báo Ngày nay và nhóm Tự lực văn đoàn đa ra làm trò. Cũng để bảo vệ thơ
Mới, nhà thơ trẻ Lu Trọng L đã có những lời lẽ xấc xợc và thiếu tôn trọng đối
với Tản Đà: Nàng thơ ấm Hiếu mũi thò lò.
Nhìn chung, ở thời kỳ này, Tản Đà không đợc đánh giá một cách đúng mức.
Nhng đến năm 1939, sau khi Tản Đà mất, mọi ngời mới nhìn nhận lại và

mạnh tính ngông, phóng túng ở Tản Đà. Dơng Quảng Hàm cũng đã đa Tản Đà
vào chơng trình dạy văn ở nhà trờng.
Nh vậy, ở giai đoạn này, Tản Đà đã đợc đánh giá rất cao, đợc tiếp cận một
cách sâu sắc và đa chiều.
3.1.2. Sau 1945 đến những năm 80:
Sau cách mạng tháng Tám, dân tộc ta lại tiếp tục bớc vào cuộc chiến đấu
chống sự xâm lăng của thực dân Pháp. Văn học giai đoạn này chủ yếu để phục
vụ kháng chiến, làm công tác t tởng. Nó trở thành vũ khí để đấu tranh cách
mạng. Vì thế vệc giảng dạy văn học yêu nớc là vấn đề cấp thiết. Bởi vậy, lúc này,
vấn đề yêu nớc, vấn đề giai cấp trở thành tiêu chí để đánh giá văn học và nó là
đối tợng quan tâm số một của các nhà phê bình nghiên cứu. Các sáng tác của
Tản Đà cũng không tránh khỏi quy luật chung ấy. Tản Đà trong suốt thời kỳ này
hầu nh không đợc nói đến, có chăng cũng rất ít. Suốt một thời gian dài, từ cuối
những năm 50 đến những năm 70, Tản Đà đợc tập trung chú ý và đánh giá ở các
mặt yêu nớc, giai cấp, thái độ chính trị đối với quân xâm lợc nh thế nào. Và cuối
cùng tiêu điểm của sự đánh giá, tranh luận về Tản Đà chính là bài thơ Thề non n-
ớc - nó là biểu hiện của lòng yêu nớc hay tình yêu đôi lứa? Với tác phẩm này,
vấn đề yêu nớc của Tản Đà đã đợc một số tác giả nhìn nhận và khẳng định.
Không giống nh thời kỳ sau cách mạng tháng Tám đến những năm 60, thời
kỳ 1960 đến 1980 ,Tản Đà đợc nghiên cứu rất nhiều.Vấn đề trung tâm, chủ yếu
vẫn là việc đánh giá xem Tản Đà có yêu nớc hay không, Tản Đà t sản hay phong
kiến và thái độ của ông với thực dân Pháp nh thế nào qua Thề non nớc.
Nguyễn Đình Chú với bài Tản Đà có yêu nớc hay không? đã khẳng định có
biểu hiện của lòng yêu nớc ở Tản Đà . Nhng một số tác giả khác lại không đồng
ý với nhận định trên.
Những năm 70, trên Tạp chí văn học xuất hiện các cuộc tranh luận với ba
loại ý kiến: ý kiến một cho rằng Thề non nớc có cả hai chủ đề: yêu nớc và tình
yêu đôi lứa; ý kiến hai chỉ thừa nhận chủ đề yêu nớc; và ngợc lại, ý kiến ba lại
phủ nhận chủ đề yêu nớc và khẳng định tình yêu đôi lứa. Cuối cùng cuộc tranh
luận vẫn không kết thúc và cha có sự thống nhất giữa ba ý kiến trên.

tục đợc khám phá nữa.
3.2. Vấn đề cái Tôi trong sáng tác của Tản Đà nói chung và trong thơ Tản
Đà nói riêng đang là một vấn đề đòi hỏi phải đợc tiếp tục nghiên cứu. Tìm hiểu
và nghiên cứu về hiện tợng Tản Đà, trong đó có vấn đề cái Tôi tác giả, đã có một
số tác giả với một số bài viết đã đề cập đến nh Xuân Diệu với Công của thi sĩ
Tản Đà, lời giới thiệu cho Tuyển tập Tản Đà; Nguyễn Khắc Xơng với Tản
Đà - thơ và đời; Nguyễn Huệ Chi với từ mục Tản Đà trong Từ điển văn
học Mặc dù cái Tôi trong sáng tác của Tản Đà đã đợc tìm hiểu trên một số ph-
ơng diện nhng thực ra cũng cha có một công trình nào tập trung, chuyên sâu
nghiên cứu nó.
5
MEONGOK
3.3. Luận văn của chúng tôi là công trình đầu tiên xét cái Tôi ngông trong
thơ Tản Đà nh một đối tợng chuyên biệt với một cái nhìn hệ thống, toàn diện.
4. Nhiệm vụ nghiên cứu:
4.1. Đề tài có nhiệm vụ giới thuyết về khái niệm cái Tôi và cái Tôi ngông
trong sáng tác văn học đến Tản Đà.
4.2. Khảo sát, phân tích, xác định những biểu hiện và đặc diểm của cái Tôi
ngông trong thơ Tản Đà.
4.3. Tìm hiểu, xác định những đóng góp của Tản Đà cho lịch sử văn học
dân tộc qua hiện tợng cái Tôi ngông trong thơ tác giả.
5. Phơng pháp nghiên cứu:
Xuất phát từ nhiệm vụ của đề tài, luận văn vận dụng quan điểm của thi pháp
học, phong cách học nghệ thuật với nhiều phơng pháp nghiên cứu khác nhau nh
thống kê, khảo sát, phân tích, so sánh loại hình, hệ thống để tìm hiểu vấn đề
này.
6. Đóng góp và cấu trúc của luận văn:
6.1. Đóng góp của luận văn:
Thực hiện tốt đợc các nhiệm vụ với các phơng pháp trên đây, luận văn sẽ đa
ra một cái nhìn hệ thống về cái Tôi ngông trong thơ Tản Đà - một biểu hiện cơ

Hễ nói đến sáng tác văn học viết thì không thể không nhắc tới cái Tôi, đặc biệt là
ở thể loại thơ trữ tình. Khi bàn đến phạm trù cái Tôi thì ta thấy nó đợc nhìn nhận
ở hai phơng diện: cái Tôi nhà văn và cái Tôi của nhân vật trữ tình trong thơ. Hai
khái niệm này chúng không đồng nhất với nhau. Cái Tôi của nhân vật trữ tình
thực chất là một phơng diện thể hiện cái Tôi của tác giả. Một tác phẩm văn học
bao giờ cũng là sản phẩm của một quá trình lao động sáng tạo nghệ thuật và
cũng là kết quả của cái Tôi nhà văn. Do đặc thù của từng thể loại văn học mà cái
tôi có thể đợc bộc lộ một cách trực tiếp hoặc gián tiếp. Đối với loại trữ tình, cái
Tôi tác giả có khi đợc thể hiện trực tiếp nhng cũng có khi đợc thể hiện gián tiếp.
Khái niệm cái Tôi trong sáng tác văn học chỉ con ngời cá nhân, ý thức về
con ngời cá nhân của chủ thể sáng tạo (tác giả). Vì vậy mà tác phẩm văn chơng
chính là cái nhìn chủ quan của tác giả về hiện thực cuộc sống và phản ánh nó
trong tác phẩm của mình. Tuy nhiên, cái Tôi tác giả và cái Tôi chủ quan hoàn
toàn khác nhau. Nếu cái Tôi chủ quan là đặc trng của hành động sáng tác văn
chơng thì cái tôi nhà thơ - cái Tôi của tác giả lại là đối tợng phản ánh của hành
động sáng tác đó. Cái Tôi là hình tợng tác giả trong tác phẩm, là sự diễn tả, giãi
bày thế giới t tởng, tình cảm riêng t thầm kín của tác giả. Nhìn từ góc độ phản
ánh luận thì cái Tôi là đối tợng phản ánh của bản thân nhà thơ, là kết quả của sự
tự ý thức, tự đánh giá, tự miêu tả của nhà thơ[19,109]. Nh vậy, có nghĩa là nêú
xét trong tơng quan với tác giả thì cái Tôi của anh ta cũng là một đối tợng thuộc
phạm trù thực tại khách quan, cái đợc thể hiện trong tác phẩm.
7
MEONGOK
Cũng nhìn nhận từ góc độ ấy, M.Khrapchencô trong Cá tính sáng tạo của
nhà văn và sự phát triển của văn học đã khẳng định Nhà văn có tài năng có thể
tích luỹ đợc những kiến thức lớn có liên quan đến phạm vi này, phạm vi nọ của
cuộc sống, có thể là một con ngời luôn biết lĩnh vực này hay lĩnh vực khác. Song
nếu thiếu một nhãn quan rộng rãi về cuộc sống thì anh ta sẽ đâm ra bất lực trong
việc khám phá ra cái chủ yếu nhất của hiện thực. Điều đó có nghĩa là dù có tài
năng bao nhiêu nhng thiếu một nhãn quan không có sự sáng tạo nào cả thì chẳng

MEONGOK
Dù loại nhân vật trữ tình nào thì phẩm chất là cá tính của nhà thơ cũng để
lại dấu ấn sâu sắc trong tác phẩm. Nhà thơ là nhân vật chính, là hình bóng trung
tâm, là cái Tôi bao quát trong toàn bộ sáng tác. Yếu tố chủ quan của nhà thơ đợc
thể hiện dới nhiều hình thức khác nhau: có khi nó là sự xuất hiện trực tiếp của
cái Tôi tác giả qua đại từ nhân xng Tôi hoặc Ta (hay Ngã, Ngô, D
trong thơ chữ Hán ). Dù xuất hiện dới hình thức nào thì cái Tôi ấy cũng mang
đậm dấu ấn cá nhân, bởi vì nó là sản phẩm sáng tạo của chính cá nhân đó.
Nh đã nói ở trên, cái Tôi cá nhân xuất hiện trong lịch sử văn học ở cả hai
bình diện: thứ nhất, cái Tôi là cá tính sáng tạo của nhà văn - thuộc về chủ thể; và
thứ hai, cái Tôi cá nhân với t cách là đối tợng sáng tác. Nhng phải đến một thời
đại nào đó trong lịch sử t tởng và lịch sử văn học, ý thức về cá nhân mới có thể
trở thành một thế giới độc lập (ví nh ở phơng Tây thì đến thời kỳ Phục hng con
ngời - cá nhân mới đơc nhận thức một cách tự giác : Tồn tại hay không tồn tại
(Sêcxpia). Đềcac(1596-1650) đã kế thừa và phát huy con ngời cá nhân của thời
đại Phục hng bằng một luận điểm nổi tiếng Tôi t duy ấy là tôi tồn tại). Và nói
nh Biện Minh Điền : Vấn đề là nó đợc nhận thức tự giác hay cha tự giác, đậm
hay nhạt, có giá trị biểu hiện phong cách hay không mà thôi (Con ngời, cá
nhân, bản ngã trong sáng tác Nguyễn Khuyến). Nh vậy, dù ít hay nhiều, đợc thể
hiện trực tiếp hay gián tiếp thì sáng tác văn chơng đều thể hiện con ngời cá nhân
- bản ngã của chủ thể sáng tạo, dấu ấn mà chủ thể sáng tạo để lại trong tác phẩm
của mình có thể là cái Tôi tự biểu hiện, cũng có thể là cái một cái Tôi hiện ra nh
một đối tợng nhận thức - khách thể. Có khi tác giả biểu hiện cái Tôi của mình
bằng cách vô nhân xng nhng dấu ấn của cái Tôi ấy để lại vẫn khiến chúng ta dễ
dàng xác định đợc nó.
Tóm lại, cũng nh toàn bộ các loại hình sáng tác văn học, thơ chịu sự chi
phối thống nhất ở một điểm đó là vai trò bản ngã, con ngời, nhà thơ. Dù ở thời
đại nào thì mỗi dòng mỗi chữ đợc sáng tạo ra cũng là kết quả của sự chiêm
nghiệm và đợc lựa chọn, sàng lọc thông qua lăng kính chủ quan của nhà văn. Và
điều đó có nghĩa: dù mức độ đậm nhạt có khác nhau, tác phẩm bao giờ cũng ít

thừa nhận cái Tôi cá thể, chủ trơng hi sinh cái Tôi cho chữ Lễ. Cái Tôi cá
nhân phải gắn liền mình với quyền lợi của vua chúa, của giai cấp.
Phật giáo cũng vậy. Nó phủ nhận cái Tôi bản ngã và khẳng định con ngời
vô ngã. Điều này đã chi phối, cản trở văn học trong việc phát hiện, khám phá
cái Tôi cá thể theo ý nghĩa chính đáng, cần thiết của nó.
Song một điều chúng ta cần thấy ở văn học trung đại là dù có chịu ảnh hởng
của t tởng Nho giáo, Phật giáo thì vẫn cha quyết định toàn bộ số phận và thực
trạng của nó. Nguyễn Đình Chú đã một tác phẩm văn học, dù ở thời đại nào, dù
đã tự giác hay cha tự giác, nhận thức cái Tôi thì trớc hết vẫn là sản phẩm, là con
đẻ của một cá thể, một thằng Tôi, không ai giống ai ngoài những điều họ đã
chung nhau - một thằng Tôi trớc khi trở thành thằng Tôi nghệ sỹ đã là thằng
tôi cá nhân, cá thể nh bất cứ ai giữa cuộc đời (Vấn đề ngã và phi ngã trong
Văn học Việt Nam trung - cận đại) [3]. Chính thực tế văn học đã chứng minh đ-
ợc điều này. Nguyễn Trãi, Nguyễn Du, Hồ Xuân Hơng, Cao Bá Quát mỗi ngời
mỗi vẻ, không ai giống ai cả. ở họ, mỗi ngời một cá tính nghệ thuật, không thể
10
MEONGOK
lẫn vào nhau đợc. Cá tính sáng tạo là chuyện mà thời nào cũng có. Nó chính là
biểu hiện cao nhất của cái Tôi tác giả. Đó chính là yếu tố hạt nhân tạo nên phong
cách của một nhà văn.
Từ đó, ta có thể thấy đợc là trong văn học trung đại đã xuất hiện vai trò của
chủ thể sáng tạo, mặc dù nó cha đợc phát hiện, khám phá một cách đầy đủ bởi sự
chi phối của t tởng phi ngã, vô ngã. Cái Tôi cá nhân đã có mặt dù chậm nh-
ng khá xinh xắn và kháu khỉnh rồi ngay sau đó nó lại biến mất đi vì thời đại
không khuyến khích, vì trớc sự xâm lợc của thực dân Pháp, số phận cái Tôi phải
nhờng chỗ cho số phận cái Ta, số phận dân tộc.
Đến nửa đầu thế kỷ XX, ảnh hởng t tởng và nền kinh tế chủ nghĩa t bản,
cái Tôi cá nhân lại tiếp tục hiện diện và có phần tự do hơn. Cái Tôi cá nhân
chớm lên ở thơ văn Tản Đà, ở tiểu thuyết Tố Tâm của Hoàng Ngọc Phách Đặc
biệt hơn với sự xuất hiện của Tự lực văn đoàn và phong trào thơ Mới thì cái Tôi

vai trò của cá tính sáng tạo vẫn hết sức căn bản. Trớc nhiệm vụ chung của đất n-
ớc, các văn nghệ sỹ vẫn ý thức rất rõ về cái phần riêng t của mình. Cái Tôi của
các nhà thơ đợc bộc lộ hết sức tự do, không hề bị trói buộc bởi bất cứ một công
thức, chuẩn mực nào, họ thể hiện một cái Tôi đầy nhiệt huyết, thanh cao. Đến
ngày nay, cái Tôi của chủ thể sáng tạo đã hoàn toàn đợc giải phóng, nhà văn có
thể bộc lộ cái Tôi cá nhân của mình một cách thoải mái, không ngần ngại, dè dặt
khi nói lên những ớc mơ, khát vọng của mình.
Nh vậy, cái Tôi không phải là sản phẩm hiện đại, nó là biểu hiện của ý thức
về con ngời cá nhân và với t cách đó, nó đã xuất hiện từ trong văn học cổ- trung
đại và có sự tiếp nối trong loại hình văn học viết nói chung ở những mức độ đậm
nhạt khác nhau.
1.2. Khái niệm cái Tôi ngông trong sáng tác đến Tản Đà.
1.2.1. Ngông và cái Tôi ngông
Ngông là một thuộc tính độc đáo, phong phú của nhân cách con ngời.
Ngông đợc biểu hiện bằng những hành động khác đời, gây đợc sự chú ý của số
đông ngời, nó vợt ra ngoài cái khuôn khổ bình thờng của xã hội. Ngời ngông
thờng chạy theo cá tính tự do, thích cực đoan. Ngời ngông coi khinh lễ, phép,
ghét tục, ngạo đời, nói năng ngang tàng. Trong thực tế, ngời ngông là kẻ đã làm
tan rã các phép tắc giả tạo, trói buộc con ngời, mở ra một luồng gió mát giàu
sinh khí [21,200]. Ngông là trạng thái mà con ngời đặt mình ra ngoài lẽ phải
thông thờng đựơc mọi ngời thừa nhận, dám làm cái đời không ai dám làm, dám
nói điều mà đời không ai dám nói. Ta thấy rằng, ngông không chỉ là biểu hiện
của một tính cách mà nó còn là cách sống của một số ngời mang t tởng bất mãn,
bất cần đời với mọi ngời và đối với thực trạng quanh mình. Thờng thì những ngời
có tài, có bản lĩnh, bất mãn, đối kháng với cuộc đời, với xã hội thì mới ngông.
Nhng cũng có những ngời muốn đợc nổi trội, muốn đợc hơn ngời, hơn đời mới
có những hành động ngông cuồng. Chính vì thế mà có nhiều loại ngông: có
những loại ngông thì làm cho ngời ta khó chịu, chớng tai gai mắt, nhng cũng
có những loại ngông thì lại chứng tỏ đợc bản lĩnh, cá tính sắc sảo, tài năng nổi
bật, phẩm chất thanh cao của mình.

nhận nh vậy. Họ tách mình ra khỏi số đông, xuất hiện và nổi lên gọi là những
ngời ngông. Lễ giáo phong kiến dạy ngời ta trung dung, an phận nhng những
ngời ngông thì đi theo lối cực đoan, đòi hỏi tự do cá tính, tự do t tởng, khinh th-
ờng lễ giáo [21, 219]. Ngông là một biểu hiện cá tính độc đáo của thời trung
đại. ở Việt Nam, các nhà văn, nhà thơ từ Nguyễn Trãi đã có yếu tố ngông. Nhng
phải bớc sang giai đoạn phong kiến suy tàn thì nhân cách ngông mới thật sự biểu
hiện nhiêù mặt ở nhiều tác giả. Giai đoạn trớc Tản Đà có rất nhiều ngời đợc
mệnh danh là ngông, trong đó nổi lên một số hiện tợng tiêu biểu: Hồ Xuân H-
13
MEONGOK
ơng, Cao Bá Quát, Nguyễn Công Trứ, Trần Tế Xơng ở họ, không ai là không
ngông, mỗi ngời ngông một vẻ.
Hồ Xuân Hơng là một trong những nhà thơ Nôm xuất sắc và có cá tính độc
đáo nhất trong lịch sử văn học dân tộc. Khi đọc thơ bà, có một điều không ai có
thể chối cãi đợc đó là thơ Hồ Xuân Hơng có một cái gì đó rất khác thờng. Một
con ngời yêu đời, tài hoa và giàu sức sống nhng lại bị câu thúc, chèn ép không
chỉ về mặt tinh thần, tình cảm mà cả về đời sống bản năng, hạnh phúc lứa đôi.
Điều đó làm cho khát vọng sống, khát vọng hạnh phúc lứa đôi trong bà luôn trỗi
dậy. Một điều đặc biệt ở Hồ Xuân Hơng là bà không chỉ biết ớc mơ nh một số
nhà thơ khác mà với một cá tính mạnh mẽ, ngang tàng, bà đã dám nói lên cái mà
đời ít ngời dám nói trong thơ. Hồ Xuân Hơng đã thể hiện những tình cảm, những
khát vọng ái ân của mình hết sức chân thực, không dấu diếm. Hơn thế nữa, bà
còn thẳng tay tát vào mặt của bè lũ phong kiến một cách thẳng thừng, không nể
nang. Nhà thơ đã xé toạc hết các mặt nạ giả dối, lột trần hết những tấm áo đạo
đức cũn cỡn để chúng lộ nguyên hình là một lũ bịp bợm, dối đời và dốt nát. Với
xã hội phong kiến trọng nam khinh nữ lúc bấy giờ, Hồ Xuân Hơng là phận nữ
nhi nhng đã luôn tìm cách khẳng định vị trí của mình một cách ngang tàng,
thách thức. Bà lên án, chế giễu những cái mà xã hội lúc ấy trọng dụng: bậc hiền
nhân quân tử, những công tử th sinh Bà đã không ngần ngại khi thốt lên:
Khéo khéo đi đâu lũ ngẩn ngơ

Đọc những câu thơ nh thế, ta thấy nhà thơ đặc biệt tin tởng vào năng lực và
ý chí của mình. Ông hết sức đề cao vai trò của cá nhân, rất mực tin ở bản thân.
Đây cũng chính là điểm mâu thuẫn gay gắt với quan điểm của xã hội đơng thời.
Là một ngời tài hoa, khí phách nhng Nguyễn Công Trứ lại bị cuộc đời đối xử
một cách phũ phàng. Và ông đã phải quên cái bất công của xã hội bằng cách say,
bằng rợu, bằng thơ, bằng sự hởng lạc.Với Nguyễn Công Trứ thì sự hởng lạc
chính là sự khẳng định bản thể của cá nhân - sự tự khẳng định mình trong một
thời gian hữu hạn của đời ngời. Ông đã từng về làng cỡi trên lng con bò vàng cổ
đeo lục lạc, sau lng theo một cô gái trẻ - đây là một sự thách thức, buộc ngời đời
phải thừa nhận cái ngất ngởng của cá nhân mình. Cái ý nghĩa đời ngời của cá
nhân chỉ mình mình biết:
Thú yên hà trời đất có riêng ta
Nào ai, ai biết chăng là
ở đây có một sự khẳng định cá nhân hơn ngời, hết sức riêng t, không đợc
và không cần ngời đời biết, không khớp với khuôn thớc có sẵn. ở Nguyễn Công
Trứ, cái riêng t, tự cho mình là đủ, là hơn ngời đợc khẳng định một cách rõ nét
và đó chính là bản chất phát triển của ý thức cá nhân mà không phải ở thời đại
của ông ai cũng có.
Khi nhắc đến hiện tợng ngông trong làng văn thì chúng ta không thể không
nhớ tới Cao Bá Quát. ở Cao Bá Quát, ta bắt gặp một con ngời, một cá tính mạnh
mẽ, ngang tàng, sống ngoài thói tục. Ông tài cao nhng chí không ở công danh,
15
MEONGOK
dám làm điều cấm kỵ. Trong thơ văn Cao Bá Quát, ta luôn bắt gặp một con ngời
có bản lĩnh, tin vào chính mình, chính mình phải hành động để thay đổi cuộc đời
mình. Ông xuất hiện là một con ngời không chịu vào khuôn phép:
Bớc tới trờng danh chẳng cúi đầu.
Cao Bá Quát tự so sánh mình với những ngời sống tự do nh Trang Tử, Tôn
Tử, Khuất Nguyên Ông luôn khao khát đợc chắp thêm đôi cánh để bay lên tận
tầng mây tía để thoát khỏi lới trần. Ông cũng không ngần ngại khi chửi thẳng

giọng ngông, một phong cách ngông.
Trở lên, chúng ta mới chỉ điểm qua một vài phong cách độc đáo. Họ đều là
những nhà thơ đợc liệt vào làng ngông, đều là những tâm hồn nổi loạn, những
con ngời có điều bất hoà với hiện thực xã hội. Cái ngông của những ngời ấy là
cái ngông có chiều sâu t tởng, có sóng triều vật vã của những tâm hồn cao thợng
khí khái bị đày ải vào một thực tại rất khác vơí t tởng, với quan niệm của mình.
Cái thực tại ấy đã chà đạp lên tài và tình, đã quá nhố nhăng, tạp loạn nên họ
ngông [19,101-102]. Ngông ở đây chính là thái độ bất mãn với thực tại cuộc
sống, bất cần nó và bất đắc chí cho số phận của bản thân mình. Họ ngông để
chửi đời, để thách đời và để chua chát với đời. Đó cũng chính là sự phản ứng
tiêu cực, là sự bất lực trớc thời và thế.
Từ đó, ta có thể thấy rằng những cái Tôi ngông ấy chính là cái Tôi ngông
của lọai hình nhà nho tài tử, là cái ngông của tầng lớp Nho học trong hội tài
tình. Đó là cái ngông của những con ngời thị tài (coi trọng cái tài), đa tình. Họ
coi giá trị cuộc đời là ở tài và tình. Tâm hồn của họ phóng khoáng, tự do và lãng
mạn. Họ là những kẻ lấy ngông làm tài, tài thoát ra thói tục, vì vậy mà nó gắn
chặt với tài tình [21,198].
Và Tản Đà cũng là một hiện tợng thuộc dòng mạch nhà nho tài tử, cũng là
một nhà thơ ngông.
1.2.3. Cái Tôi ngông trong sáng tác của Tản Đà.
Sinh ra và lớn lên trong một gia đình thuộc dòng dõi quý tộc nhà Lê, cha là
Nguyễn Danh Kế - một nhà nho tài tử, mẹ là cô đào hát có tiếng thời bấy giờ -
một bậc nữ tài học thức , hát hay, ngời đẹp, có lẽ chính vì vậy mà ngay từ khi
còn nhỏ, Nguyễn Khắc Hiếu đã có những biểu hiện của một nghệ sĩ tài hoa,
phong nhã. Năm Tản Đà lên bốn tuổi, cha mất, mẹ bỏ nhà trở lại chốn Bình
Khang, kể từ đó cuộc đời ấm Hiếu là một cuộc đời bơ vơ, phiêu bạt. Tản Đà tự
giới thiệu về mình:
Trời sinh ra bác Tản Đà
Quê hơng thời có, cửa nhà thời không
Nửa đời Nam - Bắc, Tây - Đông

cái Tôi, một nhân cách cao đẹp: đời đục tiên sinh sáng, đời quay cuồng trong
nhân dục t lợi, tiên sinh sống ở thế giới tinh thần Những nỗi vật chất của cuộc
sống tầm thờng không hề làm bợn đợc linh hồn cao khiết của tiên sinh [29].
Sống nh thế, luôn là mình, sống hết bản ngã của mình nhng cuộc đời lại luôn bạc
bẽo đối với ông. Tản Đà luôn đóng vai của một kẻ bất đắc chí, bất cần đời, khinh
thế ngạo vật Nói đến cái Tôi, cái bản ngã của Tản Đà thì ngời ta không thể
không nói tới cái ngông của ông.
Nguyễn Khắc Xơng khẳng định rằng: cả cuộc sống của Tản Đà là một
cuộc ngông [28,105]. Cái ngông của Tản Đà có rất nhiều sắc thái biểu hiện, nó
18
MEONGOK
phản ánh đợc một tính cách đa dạng một tâm hồn phong phú. Rợu và say là biểu
hiện nổi bật của cái ngôngTản Đà. Nói đến Tản Đà là nói đến rợu, nếu không có
rợu thì Tản Đà không còn là Tản Đà nữa. Cả cuộc đời của Tản Đà là một cuộc
say. Tản Đà sống đã mang tiếng là một kẻ say. Nhng cái say của Tản Đà với
những nguyên nhân xã hội của nó chỉ có thể lý giải và phân biệt đợc với cái say
của những ngời bình thờng bằng sự nghiệp sáng tác của Tản Đà mà ở phần sau
chúng ta sẽ đề cập đến.
Đức tiêu tiền nh Nguyễn Khắc Xơng nhận xét, cũng là một biểu hiện của
cái ngông Tản Đà. Nó có thể đặt ngang với tài thơ - rợu của thi sĩ. Là ngời dờng
nh lúc nào cũng thiếu tiền trong tay lại tiêu nh những kẻ phong lu , có tiền
nghìn bạc vạn mới đủ [28,105].
Thi sĩ ngông của chúng ta không dừng lại ở đó - ở cái tài thơ rợu, ở cái đức
tiêu tiền hơn ngời mà trong cuộc sống xử thế, thi sĩ cũng ngông vô cùng. Việc
đến thăm mộ vua Tây Sơn phải rời Bình Định, rồi phải bỏ cái cơ nghiệp đồ sộ ở
Dốc Láp - Vĩnh Yên, tất cả đều từ cái ngông mà ra.
Ghét sự cầu cạnh luồn cúi, bon chen, Tản Đà sống phóng túng, khoáng đạt.
Ông tự nhận mình là ngời trong màn ảnh đem bản ngã đùa cợt với đời[28,52]
Thi sĩ cuả núi Tản sông Đà đã xem mình là ngời đóng phim , còn thiên hạ là
những ngời xem phim. Ngời xem phim thì biết ngời trên màn ảnh còn ngời trên

nhiều so với các nhà thơ lớp trớc. Trong cái ngông ấy có cả sự chống đối, phá
phách, sự khinh mạn, nó đợc bộc lộ một cách tự do, ngạo nghễ hơn.
Chơng 2:
đặc trng cái tôi ngông trong thơ tản đà.
Về cái Tôi trong thơ Tản Đà, Phong Lê nhận xét: Điều đặc sắc trong nội
dung thơ Tản Đà là sự đi sâu vào cái Tôi, là việc mạnh dạn, dũng cảm đa cái Tôi
vào thơ văn trong rợu và say, trong những cơn sầu dài, trong câu chuyện lên tiên
và hầu trời, trong các cuộc chu du vào quá khứ hoặc đến các xứ sở xa lạ, trong cả
20
MEONGOK
những lo toan về cuộc mu sinh không lúc nào không chật vật, trong những tự
thuật, tự trào và tự thú về mình, Tản Đà đã đa ra một cái Tôi - chân dung cực kỳ
thành thật, không xấu hổ, không che đậy [29,393]. Quả đúng nh vậy, trong quá
khứ thì cha có một cái Tôi nào đợc đa lên vị trí cao, đợc phô ra nhiều góc cạnh
và đợc đào sâu vào nhiều tầng bậc nh Tản Đà. Cái Tôi Tản Đà - đó là sự hiện
diện và khẳng định của cá nhân - những nhu cầu tinh thần của con ngời hiện đại
[29,393]. Với ông, cái Tôi không còn rụt rè, e thẹn nữa mà đã dám tự khẳng
định, thậm chí có lúc nó dám hiên ngang thách thức với hoàn cảnh trong cái
ngông của mình. Nh một đòi hỏi giải phóng và nh một nhu cầu phát triển, cái
Tôi ấy ở Tản Đà đã phản ứng lại mọi câu thúc, kiềm toả, bóp nghẹt của hoàn
cảnh bằng sự tung hoành trên những giới hạn thật phóng khoáng của không ít
đam mê, khát vọng [29,394]. Đó là một cái Tôi ngông hết sức độc đáo, nó đ-
ợc biểu hiện ở nhiều phơng diện khác nhau nhng chủ yếu ở các mặt sau đây:
2.1. Cái Tôi ngông - trích tiên.
2.1.1. Khái niệm trích tiên của Tản Đà:
Tản Đà bớc chân vào cuộc sống giao thời đầu thế kỷ XX một cách vừa tự
nhiên vừa nh một ngời quá chân lạc bớc, bị lôi cuốn, bị xô đẩy. Trong cuộc sống
ấy, Tản Đà luôn phải trải qua những thất vọng và thất bại. Ông chỉ là một con
ngời cô đơn, một tâm hồn ngây thơ lạc loài trong xã hội ngời lớn một xã hội
ngời lớn tinh khôn. Ông bất mãn và bất bình với xã hội ấy. Ông chán ghét nó và

2.1.2. Những biểu hiện và đặc điểm của cái Tôi ngông trích tiên Tản Đà.
Sống giữa cõi đời phàm tục chán ghét và muốn xa rời nó, Tản Đà nh lạc loài
vào một thế giới khác không giống nh thế giới của mình. Cái thế giới mà ông
đang sống ấy, chính ông không thể hoà nhập đợc bởi ông là một cốt cách tiên,
mang những phẩm chất của tiên. Là tiên nhng vì nhiệm vụ nên phải đầy xuống
trần thế:
Trời rằng: không phải là trời đày
Trời định sai con một việc này
Là việc thiên lơng của nhân loại.
(Hầu Trời).
Lãnh nhiệm vụ truyền bá thuyết thiên lơng cho con ngời, thực hiện sứ
mệnh thiêng liêng mà trời đã giao phó nhng Tản Đà không hoàn thành đợc trách
nhiệm của mình. Xã hội ấy không tạo điều kiện cho ông. Nó chỉ đem lại cho ông
những chán ngán, sầu tủi và thất vọng. Chính vì vậy mà ông luôn muốn đợc siêu
thoát, đợc lánh xa cõi trần tục luỵ. Cái sầu trần thế cứ da diết nên muốn thoát lên
tiên, muốn làm thằng Cuội luôn là ớc mơ của nhà thơ. Tâm hồn ông hớng lên th-
ợng giới, nơi đó là thế giới, là cuộc sống đích thực của ông. ở đây ông sẽ tìm đ-
ợc tri âm tri kỷ của mình. Bởi thế nên ông gạ gẫm với thiên nhiên:
Đêm thu buồn lắm chị Hằng ơi!
Trần thế em nay chán nửa rồi,
Cung quế đã ai ngồi đó chửa?
Cành đa xin chị nhắc lên chơi.
(Muốn làm thằng Cuội)
và nữa:
Trông khắp trần gian hết thú chơi
Thèm trông con hạc nó lên trời
22
MEONGOK
Hạc kia bay bổng tuyệt vời
Hỏi thăm cung Nguyệt cho ngời trọ không?

Tản Đà lên án cuộc đời, phản ứng lại nó bằng cách than vãn, chê trách nhân tình
thế thái và chủ trơng hởng thụ. Kinh tế t bản chủ nghĩa không có chỗ cho cuộc
sống ẩn dật mà ngời tài tử laị không thể sống ẩn dật, không thể sống cuộc đời
của một ẩn sỹ nh các nhà nho chính thống khi xa. Cho nên Tản Đà sống và hành
động theo suy nghĩ và ý thích của riêng mình. Cuộc sống trớc mắt đối với ông là
vô nghĩa, nhng đời ngời lại ngắn ngủi trớc thời gian vô hạn. Vì thế, Tản Đà sợ
23
MEONGOK
thời gian nó trôi nhanh. Ông tiếc nuối và cố níu kéo nó, van lạy nó đừng vội trôi
qua để cho ông sống thoả chí mình. Chính thế nên Tản Đà chủ trơng sẽ chơi sao
cho thoả thích, chơi mãi thì thôi. Cái Tôi ngông của đấng trích tiên ấy là vậy, đó
là cái Tôi ngông xê dịch, còn chơi.
Với tâm hồn phóng khoáng, rộng mở, tính cách phóng túng, ngời tài tử
trong xã hội t sản tôn thờ cuộc sống tự do, nay đây mai đó, sống theo sở thích
của cá nhân mình. Thi sĩ núi Tản sông Đà của chúng ta cũng vậy, cuộc sống của
ông đợc trải lên trang thơ:
Trời sinh ra bác Tản Đà
Quê hơng thời có, cửa nhà thời không
Nửa đời nam, bắc, tây, đông
Bạn bè sum họp, vợ chồng biệt li
Túi thơ đeo khắp ba kỳ
Lạ chi rừng biển, thiếu gì gió trăng.
(Thú ăn chơi).
Cả cuộc đời Tản Đà là một cuộc chơi. Thi sĩ chơi, chơi mãi:
Trăm năm hai chữ Tản Đà
Còn sông, còn núi, còn là ăn chơi
Dở hay không muôn sự ở đời
Mây bay nớc chảy mặc ngời thế gian.
(Thú ăn chơi).
Tản Đà quan niệm chơi là sự hởng thụ trong sự biết thởng thức và biết

Thi sỹ khoe khoang, tự mãn về thú ăn chơi của mình. Hỏi xem cả thế gian
này có ai từng trải, hiểu biết bằng ông? Ông ủng hộ, hoan nghênh thú ăn chơi
của con ngời. Ông đã từng nói một cách ngông nghênh trong bài còn chơi:
Tớ muốn chơi cho mãn đời
Đời cha thật mãn tớ còn chơi
Chẳng hay đời tớ lâu hay chóng
Dù chóng hay lâu tớ hãy chơi.
(Còn chơi).
Tản Đà sẽ cứ chơi, còn chơi và chơi mãi, chơi cho đến lúc:
ức triệu ngàn năm đời nhớ tớ
Đời thôi tớ cũng hãy còn chơi.
(Còn chơi).
Tản Đà không bao giờ ngừng chơi, bởi cái thú ăn chơi nó đã ngấm vào
máu thịt của ông. Đi đến đâu ông cũng có thể vui chơi. Cuộc đời nh là một sân
chơi của ông vậy. Ta hãy xem ông tự thú nhận:
Văn chơng thời nôm na
Thú chơi có sơn hà.
(Tự thuật).
Văn chơng đối với ông chẳng qua cũng chỉ là một trò chơi. Và cuộc đời thì
lại càng là một trò chơi hơn nữa. Trong cuộc chơi ấy, ông chỉ là một khách chơi
sành sỏi nhất, toàn diện nhất. Chính Tản Đà cũng đã khẳng định điều đó:
Trời sinh ra bác Tản Đà
Quê hơng thời có cửa nhà thời không.
(Thú ăn chơi).
Dờng nh số mệnh đã sắp đặt sẵn, Tản Đà phải mang trong mình cái nghiệp
của một một khách chơi và ông chấp nhận điều đó. Ông sống hết mình và đi tới
25


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status