Khoá luận tốt nghiệp
Nguyễn Thị Thuý Ngà
LỜI CẢM ƠN
Trong quá trình triển khai đề tài khóa luận: “Hình ảnh và nhạc điệu
trong thơ Tản Đà”, chúng tôi đã nhận được sự giúp đỡ của các thầy cô giáo
trong Khoa Ngữ Văn, tổ Văn học Việt Nam, nhất là cô giáo Nguyễn Phương
Hà, người trực tiếp hướng dẫn.
Nhân khóa luận hoàn thành, chúng tôi xin được bày tỏ lòng biết ơn chân
thành đối với các thày cô giáo và cô giáo Nguyễn Phương Hà.
Do khuôn khổ thời gian có hạn, khóa luận chắc chắn còn những hạn chế
thiếu sót, chúng tôi mong tiếp tục nhận được sự giúp đỡ của các thầy cô để
khóa luận được hoàn thiện hơn.
Hà Nội, ngày 15 tháng 5 năm 2011
Tác giả
Nguyễn Thị Thúy Ngà
Lớp K33C Ngữ Văn
3
Trường ĐHSP Hà Nội 2
Khoá luận tốt nghiệp
Nguyễn Thị Thuý Ngà
LỜI CAM ĐOAN
3. Mục đích nghiên cứu...................................................................................10
4. Nhiệm vụ nghiên cứu..................................................................................10
5. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu............................................................. 10
6. Phương pháp nghiên cứu .......................................................................... 11
7. Ý nghĩa khoa học và ý nghĩa thực tiễn...................................................... 11
8. Bố cục khóa luận.........................................................................................11
NỘI DUNG.................................................................................................. 12
Chương 1: TẢN ĐÀ - NGƯỜI ĐẶT NỀN MÓNG CHO THƠ CA LÃNG
MẠN HIỆN ĐẠI.......................................................................................... 12
1.1. Tản Đà - Một nhà Nho tài tử.............................................................. 12
1.2. Tản Đà – “Người thứ nhất có can đảm làm thi sĩ” ............................. 15
1.2.1. Tản Đà - Nhà Nho tài tử sống trong thời hiện đại....................... 15
1.2.2. Tản Đà - Nhà Nho đem văn chương bán phố phường ................. 16
Chương 2: HÌNH ẢNH TRONG THƠ TẢN ĐÀ ........................................ 19
2.1. Hình ảnh trong thơ Tản Đà ................................................................ 19
2.1.1. Hình ảnh thiên nhiên non nước................................................... 20
2.1.1.1. Hình ảnh thiên nhiên non nước tươi tắn, mĩ lệ ......................... 20
2.1.1.2. Hình ảnh thiên nhiên hùng vĩ, khoáng đạt................................ 22
2.1.1.3. Hình ảnh thiên nhiên u ám, héo úa........................................... 24
2.1.2. Hình ảnh con người trong thơ Tản Đà ........................................ 28
2.1.2.1. Hình ảnh người tri kỉ ............................................................... 29
2.1.2.2. Hình ảnh nhà thơ Tản Đà ........................................................ 32
Lớp K33C Ngữ Văn
5
Trường ĐHSP Hà Nội 2
Khoá luận tốt nghiệp
Nguyễn Thị Thuý Ngà
MỞ ĐẦU
1. Lí do chọn đề tài
“Tiên sinh sinh vào buổi giao thời, giữa lúc hán học suy vi và sáng
học mới rộn tới” (Điếu văn - Đinh Gia Trinh). Thật vậy, “Tản Đà là con
người của hai thế kỉ”, là nhà thơ có công gây dựng nghề sáng tác văn chương,
và là một bản ngã thuần Việt, gây nên một chấn động văn chương suốt 30
năm đầu thế kỉ XX. Thơ văn của ông, đặc bịêt là thơ chiếm một vị trí khá
quan trọng trong nền Văn học Việt Nam.
Cuộc đời của Tản Đà, từ khi sinh ra đến khi khuất núi có rất nhiều
nghịch lý. Trước hết, ông sinh ra trong một gia đình có truyền thống khoa cử
lâu đời, nhưng Tản Đà lại là một nhà Nho tài tử mưu sinh bằng sự nghiệp văn
chương. Sống trong một xã hội có nhiều biến động, cùng với hàng loạt thất
bại đã diễn ra liên tiếp trong cuộc đời ông. Phải chăng đây chính là động lực
thúc đẩy Tản Đà tìm đến văn chương để giãi bày tâm sự, nỗi niềm ưu tư
của mình.
Cuộc đời, con người Tản Đà ghi dấu ấn rõ trong sáng tác thơ ca của
ông. Dường như mỗi vần thơ viết ra là một nỗi niềm chan chứa trong ông.
Thơ Tản Đà làm rung động lòng người bằng những vần thơ tứ nhiều, tràn đầy
xúc cảm. Để cảm nhận sự kì diệu trong thơ Tản Đà, ta không thể không quan
tâm tới tìm hiểu ngôn ngữ trong thơ ông. Có ý kiến cho rằng: “giá trị thơ Tản
Đà phần nhiều ở tiếng, câu thơ, điệu thơ”. Có thể khẳng định rằng ngôn ngữ
thơ Tản Đà đã góp phần tạo nên giá trị thơ văn của ông. Tìm hiểu ngôn ngữ
thơ Tản Đà để từ đó đánh giá đúng vị trí, công lao của nhà thơ đối với nền
Văn học Việt Nam.
thơ văn Tản Đà. Điều đó chứng tỏ rằng, đây là một nhà thơ lớn và cuộc đời
cũng như sự nghiệp của ông có ý nghĩa không nhỏ đối với tiến trình lịch sử
Văn học Việt Nam.
Tản Đà xuất hiện trở thành một hiện tượng đặc biệt. Vì vậy, người
“ghét” Tản Đà nhiều: “Tôi tức không chịu được, bao nhiêu ý kiến thảo luận
với nhau đâu vào đấy, chỉ đem ra để thực hành, vậy mà mười không thực hiện
được một” (Ngô Tất Tố). Song ý kiến đánh giá tốt về Tản Đà cũng không
thiếu. Khi nói về một vài kỉ niệm thơ Tản Đà, Xuân Diệu nhận xét: “Tôi phục
Tản Đà cách dùng chữ tinh xảo và một âm nhạc trôi chảy bay bướm”. Hay
Vũ Ngọc Phan - trong tác phẩm Nhà văn hiện đại khẳng định Tản Đà: “Một
thi sĩ có tâm hồn Việt Nam với những vần thơ trong trẻo, giản dị”. Trương
Lớp K33C Ngữ Văn
8
Trường ĐHSP Hà Nội 2
Khoá luận tốt nghiệp
Nguyễn Thị Thuý Ngà
Tửu cũng công nhận: “Tản Đà là một toán pháp mà con số toán là những chữ
hình tượng, và âm điệu”.
Cuốn Giáo trình lịch sử Văn học Việt Nam - Nguyễn Đình Chú viết
phong cách Tản Đà và tính chất quá độ đã nêu: “Ngôn ngữ có tính dân tộc,
đạt tới mức điêu luyện, trong sáng và duyên dáng, giàu khả năng gợi tả”. Đó
là những nhận định, đánh giá về tài năng của Tản Đà trong việc sử dụng ngôn
ngữ và được thâu liễm trong các giá trị thơ văn của ông.
Ở khoá luận này, trên cơ sở kế thừa ý kiến của những người đi trước
cùng với mục đích đi sâu vào tìm hiểu các yếu tố tạo nên hình ảnh và nhạc
điệu trong thơ Tản Đà, người viết giới hạn nhận diện, phát hiện chứ không
nặng về đánh giá. Người viết hy vọng rằng, kết quả nghiên cứu sẽ giúp cho
độc giả có một cái nhìn hệ thống và toàn diện hơn về con người cũng như thơ
ca của ông trong nền Văn học dân tộc.
3. Mục đích nghiên cứu
Nghiên cứu đề tài này, chúng tôi hướng đến hai mục đích nghiên
cứu sau:
Thứ nhất: Tìm hiểu thơ ca Tản Đà để thấy được các yếu tố tạo nên
hình ảnh và nhạc điệu trong thơ Tản Đà. Trên cơ sở đó, lí giải vì sao Tản Đà
lại hiện lên là một hiện tượng văn học gây ra nhiều tranh cãi trong nhận xét,
đánh giá của độc giả và nghiên cứu.
Thứ hai: Nghiên cứu đối tượng này góp phần tìm hiểu sâu sắc hơn,
toàn diện hơn về cuộc đời và sự nghiệp sáng tác thơ ca của Tản Đà. Từ đó
góp phần phục vụ thiết thực cho giảng dạy và học tập về Tản Đà ở trường phổ
thông sau này.
4. Nhiệm vụ nghiên cứu
Để đạt được mục đích đề ra, đề tài phải thực hiện được các nhiệm
vụ sau:
a, Tập hợp những tài liệu có liên quan đến đề tài.
b, Tìm hiểu các yếu tố tạo nên hình ảnh và nhạc điệu trong thơ
Tản Đà.
c, Phân tích và chỉ ra các yếu tố tạo nên hình ảnh và nhạc điệu trong thơ
Tản Đà.
5. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
Đối tượng: Hình ảnh và nhạc điệu trong thơ Tản Đà.
Lớp K33C Ngữ Văn
Mở đầu
Nội dung
Chương 1: Tản Đà - Người đặt nền móng cho thơ ca lãng mạn hiện đại
Chương 2: Hình ảnh trong thơ Tản Đà
Chương 3: Nhạc điệu trong thơ Tản Đà
Kết luận
Tài liệu tham khảo
Lớp K33C Ngữ Văn
11
Trường ĐHSP Hà Nội 2
Khoá luận tốt nghiệp
Nguyễn Thị Thuý Ngà
NỘI DUNG
Chương 1: TẢN ĐÀ - NGƯỜI ĐẶT NỀN MÓNG CHO
THƠ CA LÃNG MẠN HIỆN ĐẠI
Sinh thời Tản Đà vẫn tìm đến sự giao cảm với cuộc đời bằng thơ.
Song để có những vần thơ hay không phải là công việc đơn giản. Vì vậy, sau
khi thơ Tản Đà ra đời, đã có rất nhiều ý kiến khen chê khác nhau. Qua thăng
trầm lịch sử vị trí Tản Đà được công nhận xứng đáng, đó là Tản Đà - Người
đặt nền móng cho thơ ca lãng mạn hiện đại.
1.1. Tản Đà - Một nhà Nho tài tử
Tản Đà vốn con nhà dòng dõi trâm anh, gia đình có nhiều đời làm
đã tồn tại từ lâu trong xã hội. Cùng với sự suy tàn của xã hội phong kiến là sự
phát triển trong ý thức của con người dẫn đến khát vọng bứt phá của cá nhân.
Và nhà Nho tài tử xuất hiện trong bối cảnh đó.
Trong lịch sử, những nhà Nho tài tử là những con người có chí lớn
nhưng không gặp thời. Cụ thể đó là trong thời buổi Á - Âu lẫn lộn, giá trị Nho
học không được coi trọng. Vì thế mà họ không hợp tác với thời đại và sống
cuộc sống mà mình cho là thanh cao “thanh cao phô trắng một cành mai”
(Tản Đà), bỏ qua mọi lời đàm tiếu! Những người tài đất nước ta xưa nay
không thiếu, cái tài bao quát ở nhiều mặt như cái tài của Cao Bá Quát, của
Nguyễn Công Trứ...
Đã mang tiếng ở trong trời đất
Phải có danh gì với núi sông
(Nguyễn Công Trứ)
Nếu như nhà Nho chính thống đề cao đạo đức, lấy đạo đức làm thước
đo cho sự chuẩn mực thì nhà Nho tài tử lại lấy “tài” và “tình” làm giá trị, làm
thước đo cho bản thân mình. Với Tản Đà, ông là kết quả của mối tình tài tử
giai nhân. Bản thân ông cũng thừa nhận mình là người đa tình:
Người đâu cũng giống đa tình,
Ngỡ là ai lại là mình với ta.
Mình với ta dẫu hai nhưng một
Ta với mình tuy một mà hai
(Nói chuyện với ảnh)
Lớp K33C Ngữ Văn
13
Trường ĐHSP Hà Nội 2
Lớp K33C Ngữ Văn
14
Trường ĐHSP Hà Nội 2
Khoá luận tốt nghiệp
Nguyễn Thị Thuý Ngà
1.2. Tản Đà – “Người thứ nhất có can đảm làm thi sĩ”
1.2.1. Tản Đà - Nhà Nho tài tử sống trong thời hiện đại
Đầu thế kỉ XX, Thực dân Pháp bắt đầu khai thác thuộc địa, xây nhà
máy, đường xá, giao thông, nhà cửa... diện mạo xã hội Việt Nam thay đổi. Đô
thị phát triển, nhiều giai cấp, tầng lớp ra đời. Trường Pháp mở nhiều và đưa
văn hoá Pháp vào Việt Nam. Do ảnh hưởng văn hoá phương Tây và đời sống
đô thị dẫn đến sự thay đổi về quan niệm thẩm mĩ và ý thức hệ của người Việt
Nam. Sự thay đổi lớn nhất trong đời sống tinh thần xã hội là sự ra đời của ý
thức, cái tôi cá nhân. Với Tản Đà, ông đã tự tạo cho mình một phong cách
riêng.
Ông công khai thể hiện cái tôi cá nhân của mình với nhiều cung bậc,
cảm xúc như ''ngông'', ''say'', ''lãng mạn thoát ly''... Tản Đà khẳng định cái
“ngông” của mình, một cái ngông rất riêng:
Người ta hơn tớ cái phong lưu
Tớ cũng hơn ai cái sự nghèo
(Nghèo)
Đó còn là một thái độ ham sống, thích chơi, say sưa hưởng thụ thú
vui, thú ăn ngon:
Trời đất sinh ra rượu với thơ
thương lòng hằn sâu trong ông. Xuất thân trong gia đình khoa bảng, Tản Đà
đầy hy vọng tiến thân trên con đường cử nghiệp. Với Tản Đà, cử nghiệp
không chỉ là công danh mà còn là cả hạnh phúc. Nhưng Tản Đà liên tiếp gặp
thất bại. Năm 1916, anh cả mất gia đình trở nên túng bấn, Tản Đà quyết định
cầm bút, lấy bút danh Tản Đà và bắt đầu bằng sự nghiệp văn chương:
Chữ nghĩa Tây Tàu trót dở dang
Nôm na phá nghiệp kiếm ăn xoàng
Nửa ngòi bút ngỗng ba sinh luỵ
......
Còn trời còn đất còn non nước
Còn có thơ ca bán phố phường
(Khối tình con thứ I)
Một cách tiềm thức, câu thơ đã mách bảo cho các nhà văn, cái nôm na
có thể đem ra mà thay cái sự nghiệp cổ được:
Con nhà nho đã từng
Mười mấy năm trời ngọn bút lông
(Trong cảnh kiếm đời có nhọn không)
Lớp K33C Ngữ Văn
16
Trường ĐHSP Hà Nội 2
Khoá luận tốt nghiệp
Nguyễn Thị Thuý Ngà
Tản Đà đã trở thành người”thi sĩ đầu tiên”. Ông ra thành thị viết văn
Khoá luận tốt nghiệp
Nguyễn Thị Thuý Ngà
Không chỉ là người đầu tiên lập nghiệp bằng văn chương, mà Tản Đà
còn là người công khai thể hiện cái tôi của mình với đủ mọi cung bậc, cảm
xúc. Với ông, uống rượu, ăn chơi được ông coi như là một lẽ sống:
Trăm năm hai chữ Tản Đà
Còn sông, còn núi, là còn ăn chơi
(Khối tình con I)
Đem văn chương bán phố phường là điều chưa từng có trong xã hội
phong kiến. Nhưng với Tản Đà ngoài mục đích mưu sinh, văn chương còn là
nơi để Tản Đà gửi gắm ước mơ, khát vọng tự khẳng định cái tôi cá nhân, góp
sức vào việc phát triển văn học dân tộc.
Kế thừa và phát huy khuynh hướng lãng mạn trong thơ truyền thống,
Tản Đà đặt nền móng cho thơ ca lãng mạn hiện đại với một ngôn ngữ thơ
“mang tính dân tộc, ngôn ngữ đạt mức điêu luyện, trong sáng, giàu gợi tả”.
Cái làm nên phong cách ngôn ngữ Tản Đà là hình ảnh và nhạc điệu.
Để tạo nên những bức tranh đẹp, Tản Đà đã sử dụng hình ảnh và nhạc
điệu. Điều đó đã tạo nên một phong cách riêng cho thơ ông, một nhà thơ xứng
đáng là người đặt nền móng cho thơ ca lãng mạn hiện đại. Phong cách thơ
Tản Đà kết tinh ở hình ảnh và nhạc điệu, mà tôi xin trình bày ở phần tiếp theo.
Lớp K33C Ngữ Văn
18
Trường ĐHSP Hà Nội 2
Lớp K33C Ngữ Văn
19
Trường ĐHSP Hà Nội 2
Khoá luận tốt nghiệp
Nguyễn Thị Thuý Ngà
Trong văn học, “Hình ảnh là khả năng gợi tả sinh động trong cách
diễn đạt” [18, 425].
Như vậy, hình ảnh là một yếu tố không nhỏ cấu thành nên tác phẩm
văn học. Tuy nhiên, ý kiến về hình ảnh trong thơ có sự khác biệt. Ý kiến về
thơ xưa nay rất phong phú trong cách nhìn nhận, cách đánh giá về thơ cũng
không ít, bao gồm: ý, tình, hình, nhạc. Vai trò của “hình” đặc biệt quan trọng
trong thơ. GS.Nguyễn Đăng Mạnh cho rằng: “Triết học nghĩ bằng ý, tiểu
thuyết nghĩ bằng sự vật. Thơ nghĩ bằng hình ảnh”.
Ta thấy, với Tản Đà cũng vậy! Yếu tố hình ảnh trong thơ ông cũng vô
cùng quan trọng. Đó là một thế giới hình ảnh phong phú và đa dạng. Hình ảnh
đó xuất hiện trong cả thiên nhiên, lẫn con người.
2.1.1. Hình ảnh thiên nhiên non nước
Thiên nhiên là một phần cơ bản của sự sống. Theo quan niệm của
người xưa, con người và vũ trụ có chung một bản thể, vì vậy thiên nhiên là
nơi con người gửi gắm bản thể tâm sự. Với Tản Đà, chỉ đến với thiên nhiên
mới giúp ông giải toả nỗi lòng, tìm sự cân bằng và gửi gắm tình cảm triết lý
của mình trong đó.
Thiên nhiên trong thơ Tản Đà được cảm nhận bằng sự quan sát tinh
Hồng tía muôn ngàn chẳng kém ai
Vẻ ngọc long lanh pha sắc nước
Nhị non ngào ngạt hội hương trời
(Đề ảnh mỹ nhân)
Không những là chốn bồng lai tiên cảnh trong cõi mộng, mà ngay cả
một địa danh nên thơ cũng hiện hữu qua lần đi chơi Huế với tâm hồn rộng
mở, say sưa:
Đường vô xứ Huế quanh quanh
Non xanh nước biếc như tranh hoạ đồ
(Chơi Huế)
Đó là cảm nhận của Tản Đà về một xứ Huế nên thơ, nơi có những con
đường quanh quanh trong cái trầm buồn, tĩnh lặng đầy mộng mơ.
Đứng trước mùa xuân tươi đẹp, nhà thơ cũng dệt nên bức tranh mĩ lệ
bằng màu xanh của non nước, đất trời. Mùa xuân rộn sự sống, cảnh vật rộn
sắc xuân:
Oanh én cỏ hoa mừng đón rước
Oanh gọi đầu cành hoa cười xuân
Lớp K33C Ngữ Văn
21
Trường ĐHSP Hà Nội 2
Khoá luận tốt nghiệp
Nguyễn Thị Thuý Ngà
Mùa xuân còn được cảm nhận ở nhiều cung bậc của cảm xúc.
Trường ĐHSP Hà Nội 2
Khoá luận tốt nghiệp
Nguyễn Thị Thuý Ngà
Ta nhớ ai mà đứng mãi đây?
Nước rợn sông Đà con cá nhảy
Mây trùm non Tản cánh diều bay
(Quê nhà chơi mát cảm hứng)
Để tạo nên những câu thơ tuyệt tác Tản Đà sử dụng thi pháp cổ,
đối xứng: mây - nước, sông – núi, cá - diều... tạo nên bức tranh hài hoà
khoáng đạt.
Một phong cảnh thiên nhiên hiện lên rất khoáng đạt, đẹp đẽ:
Lạnh lẽo hơi thu chiếc lá bay
Gío đưa người cũ lại về đây
Ba Vì Tây Lĩnh non thêm trẻ
Một giải thu giang nước vẫn đầy
(Tống biệt)
Khi gặp cảnh đẹp, Tản Đà cũng để lộ vẻ vui mừng rõ rệt:
Danh sơn gặp khách hữu tình
Đèo ngang ơi hỡi là mình với ta...
(Đèo Ngang)
Có khi Tản Đà ao ước hoà mình cùng thiên nhiên thoả khát vọng tự
do, bay bổng qua hình ảnh cánh chim bay. Bay để thể hiện khát vọng tự do
không kiềm toả:
Gió hỡi gió phong trần ta đã chán
Cánh chim bằng chín vạn những chờ mong
non...” (Giấc mộng lớn). Thế nhưng giang sơn bị đô hộ giày xéo. Ông không
khỏi buồn phiền lo âu. Nhưng ông lại bất lực, không giúp ích gì cho đất nước,
không xả thân vì đất nước mà chỉ sáng tác những vần thơ bày tỏ tình cảm yêu
dân mến nước:
Trông mây nước bốn bề lặng ngắt
Nhìn non sông tám mặt sầu treo
(Thư lại trách người tình nhân không quen biết)
Thiên nhiên dường như cũng đứng thế đối diện với vũ trụ, không
gian, phóng tầm mắt xa hơn chỉ thấy bốn bề lặng ngắt, tâm hồn con người cô
đơn đến tận cùng.
Thiên nhiên trong thơ Tản Đà mang màu sắc u ám, gắn với cảnh
chiều tà:
Chơi lâu nhớ quê về thăm nhà
Đường xa, người vắng, bóng chiều tà,
Lớp K33C Ngữ Văn
24
Trường ĐHSP Hà Nội 2
Khoá luận tốt nghiệp
Nguyễn Thị Thuý Ngà
Một dãy lau cao làn gió chạy
Mấy cây thưa lá sắc vàng pha.
(Thăm mả cũ bên đường)
Lẽ ra “về thăm nhà” thì vui vầy sum họp. Với Tản Đà, ta thấy khi
Khoá luận tốt nghiệp
Nguyễn Thị Thuý Ngà
Lá sen tàn tạ trong đầm
Nặng mang giọt lệ âm thầm khúc hoa
Sắc đâu nhuộm ố quan hà
Cỏ cây càng đỏ, bóng tà tà dương
(Cảm thu tiễn thu)
Cây cỏ cùng tiễn đưa nhau trong cùng một chuyến ra đi, khi ánh sáng
và màu sắc cùng dặt dìu, quyến luyến. Ta thấy trong những tàn tạ đó chứa
chan một sự não nùng:
Hoa ơi! Hoa hỡi! Hoa hời
Đương ở trên cành bỗng chốc rơi
Nhị mềm cánh úa
Hương màu nhạt phai
Sống chửa bao lâu đã hết đời
(Hoa rụng)
Cảnh “vân tán, tuyết tan, hoa tàn, nguyệt khuyết” dĩ nhiên là một ước
lệ văn xưa. Tản Đà đã ra ngoài ước lệ, để cảm xúc lắng xuống chiều sâu của
ngoại cảnh “cánh hoa tàn”, ngoài giá trị tượng trưng còn vẻ đẹp thê thiết của
nó.
Thời gian đi vào vòng quay tuần hoàn từ chiều đến đêm, kéo theo
thiên nhiên vào guồng quay tạo hoá đó:
Một đêm đông thấy dài thay!
Lạnh lùng gió thổi sương bay
(Đêm đông hoài cảm)
Ta bắt gặp một khung cảnh:
Rừng Ngang, sương khói mịt mù
Lá rơi hàng xóm lá bay sang
(Gió thu)
Hay hình ảnh chiếc lá:
Gió thu bay lá bóng chiều
(Vô đề)
Cảnh lá vàng rơi mang theo cảm thức sâu sắc về thời gian:
Vèo trông lá rụng đầy sân,
Công danh phù thế có ngần ấy thôi
(Cảm thu tiễn thu)
Qua đó gợi lên được số kiếp con người trôi nổi, vô định không
bến đậu.
Lớp K33C Ngữ Văn
27
Trường ĐHSP Hà Nội 2