1
ĐẶT VẤN ĐỀ
Chấn thương ngực (CTN) là một dạng cấp cứu nặng và thường gặp trong
ngoại khoa. Theo một thống kê gần đây tại bệnh viện Việt Đức, phẫu thuật
cấp cứu CTN chiếm 4,4% cấp cứu ngoại chung, và 7,1% cấp cứu ngoại chấn
thương [57]. Chấn thương ngực gồm chấn thương ngực kín và vết thương
ngực. Trong đó 90% là chấn thương ngực kín, vết thương ngực chiếm 5-10%
[83]. Hai rối loạn nghiêm trọng trong chấn thương ngực là rối loạn tuần hoàn
và hô hấp, nếu không được chẩn đoán đúng và điều trị kịp thời sẽ gây ra
những hậu quả nặng nề kéo dài.
Chỉ định mở ngực cấp cứu trong chấn thương ngực chỉ chiếm tỉ lệ 6%
[65], [67]. Thường do tổn thương tim, mạch máu lớn, vết thương ngực hở
rộng, vết thương ngực bụng, tổn thương khí phế quản gốc [88], [18], [9], [26],
[24], [36]. Phần lớn chấn thương ngực gây tràn máu tràn khí màng phổi. Vị trí
chảy máu thường gặp từ bó mạch liên sườn, đầu gãy của xương sườn, nhu mô
phổi, mạch máu lớn trong lồng ngực, tim, cơ hoành hoặc từ các tạng trong ổ
bụng trong vết thương ngực bụng.Việc điều trị thường theo nguyên tắc là theo
dõi chọc hút, đặt dẫn lưu khoang màng phổi (KMP), hoặc mổ cấp cứu với
những trường hợp có chỉ định mở ngực cấp cứu.
Kể từ sau trường hợp phẫu thuật nội soi cắt túi mật đầu tiên trên thế giới
được thực hiện thành công tạị Pháp 1987 bởi P.Mouret, thì phẫu thuật nội soi
đã có những bước phát triển mạnh mẽ. Cho đến nay hầu hết các phẫu thuật
mổ mở kinh điển đều đã có thể thực hiện bằng phẫu thuật nội soi. Phẫu thuật
nội soi lồng ngực là một phương pháp ít xâm hại có khả năng xác định tổn
thương trong lồng ngực bằng quan sát trực tiếp nhanh chóng, đồng thời qua
nội soi lồng ngực còn có thể can thiệp điều trị hiệu quả các tổn thương, làm
2
sạch khoang màng phổi, đặt dẫn lưu dưới sự quan sát của camera [3], [32],
[34]. Phẫu thuật nội soi lồng ngực còn khắc phục được những nhược điểm của
cuộc mở ngực kinh điển về mức độ tàn phá thành ngực, tính thẩm mỹ,đau sau
mổ, thời gian nằm viện và nhiễm trùng vết mổ do can thiệp tối thiểu [2], [3].
và da, có các mạch máu và thần kinh chi phối. Lồng ngực hai bên có phổi
phải và trái, giữa là trung thất. Người ta chia trung thất thành trung thất trên,
trung thất trước, giữa, sau [5], [42], [35], [25], [40], [20], [23].
Hình 1.1 Minh họa cấu trúc thành ngực [40]
Cơ hoành
4
Một số đặc điểm giải phẫu cần chú ý trong bệnh lý chấn thương ngực và
phẫu thuật lồng ngực là:
Mặt trong xương sườn nhẵn, có một rãnh chạy dọc theo bờ dưới gọi là
rãnh sườn có bó mạch thần kinh gian sườn nằm trong rãnh này. Các động
mạch liên sườn (ĐMLS) từ liên sườn 3 hoặc 4 trở đi tách ra trực tiếp từ động
mạch chủ ngực nên khi bị tổn thương chảy máu rất nhiều, nhiều khi không tự
cầm. Thần kinh liên sườn là yếu tố quan trọng trong đau ngực do chấn thương
hoặc sau phẫu thuật lồng ngực.
Thành bên có khoảng thành ngực an toàn cho các thao tác trong phẫu
thuật nối soi lồng ngực (PTNSLN) gọi là tam giác nách. Là khoảng giới hạn
bởi cơ ngực lớn ở phía trước, cơ lưng rộng ở phía sau và cơ hoành ở phía
dưới. Vùng này chỉ có các cơ gian sườn nên khi đặt trocar ít gây ra tổn thương
thành ngực nhất. Khi can thiệp qua thành ngực để vào KMP như đặt trocar,
chọc hút, dẫn lưu màng phổi (DLMP) phải tôn trọng nguyên tắc đi sát bờ trên
của xương sườn dưới tránh làm tổn thương bó mạch thần kinh liên sườn.
5
Hình1.2 Các động mạch và thần kinh liên sườn [19]
Cơ hoành là một vách hình vòm, có các lỗ để các tạng, mạch máu và
thần kinh đi từ ngực xuống bụng và ngược lại [28], [41], [55], [58], [70]. bên
phải cơ hoành cao hơn bên trái 0,5-1cm. Đỉnh vòm hoành cao đến khoảng
khoang liên sườn (KLS) 5 đường nách giữa [40], nên đối với các vết thương
ngực hở (VTNH) có vị trí vết thương ở dưới mức KLS 5 thì dễ xuyên thủng
cơ hoành, gây vết thương ngực bụng. Cơ hoành là cơ hô hấp chính của lồng
ngực, đảm bảo trên 70% dung tích hô hấp bình thường [35], [55]. Khi cơ
phổi luôn được căng phồng và nở ra đến sát thành ngực trong cử động hô hấp.
Nếu khoang màng phổi bị mất áp lực âm thì phổi co nhỏ lại ảnh hưởng
đến quá trình trao đổi khí. Hai khoang màng phổi có áp lực âm tính như nhau,
nên hai nửa lồng ngực luôn ở trạng thái cân bằng, nếu một bên bị mất áp lực
âm sẽ trực tiếp ảnh hưởng đến bên kia và tác động đến bộ máy tuần hoàn.
Ngoài ra, áp lực âm còn có tác dụng tốt lên hoạt động tim phải, áp lực âm
màng phổi làm cho lồng ngực có áp lực thấp hơn nên máu về tim dễ [46]. Tổn
thương rách, thủng màng phổi làm cho không khí và máu tràn vào khoang
màng phổi, chúng sẽ choán chỗ làm tách 2 lá màng phổi và đẩy xẹp nhu mô
phổi vào, hơn nữa khi đó sẽ mất áp lực âm tính trong khoang màng phổi, làm
cho nhu mô phổi co rúm về phía rốn phổi [66], [87], [97]. Mặt khác, nếu chỉ
có một bên ngực bị thương tổn, thì áp lực bên đó sẽ thay đổi (thường dương
tính hơn), gây ra chênh áp lực với ngực bên kia, dẫn đến sự dịch chuyển trung
thất và tác động đến cả bộ máy tuần hoàn.
Hiện tượng tiết dịch và hấp thu của màng phổi: Bình thường trong mỗi
khoang màng phổi có từ 7 đến 14 ml dịch để hai lá của màng phổi trượt lên
nhau dễ dàng, chất lỏng này được tiết ra từ lá thành (khoảng 100ml/24 h), rồi
hấp thu đi bởi lá tạng màng phổi [48]. Trong trường hợp có máu hoặc khí
trong khoang màng phổi sẽ gây kích thích tăng tiết dịch trong khoang màng
phổi. Hiện tượng tăng tiết này hết đi khi khí, máu được lấy đi và phổi nở sát
ngực. Ngoài khả năng tiết dịch màng phổi còn có khả năng hấp thu, khả năng
hấp thu của màng phổi chỉ được thực hiện khi số lượng máu ít và không bị
nhiễm khuẩn.
8
• Trung thất
Có nhiều cách phân chia trung thất, theo cách phân chia hiện đại đã được
đưa ra và thống nhất thì trung thất được chia ra thành 4 khu dựa vào sự liên
quan với khoang màng ngoài tim. Chia trung thất thành trung thất trên và
trung thất dưới. Trung thất dưới lại được chia thành 3 phần là trung thất trước,
giữa và sau [7], [77]. Tất cả các cơ quan trong trung thất đều nằm trong một
bằng 2 hội chứng là hô hấp đảo ngược và lắc lư trung thất.
- Gãy xương ức: ít gặp, thường do chấn thương mạnh trực tiếp vào vùng
trước ngực, tỷ lệ này theo Recep Demirhan, Burak Onan, Kursad Oz và CS
[67] là 0,7%. Hiếm khi đơn thuần, thường kèm theo gãy cung trước các
xương sườn tạo ra mảng sườn di động trước [51], [72]. Do vậy, thường gây
suy hô hấp rất nặng và có thể gây thương tổn các tạng bên trong lồng ngực,
đặc biệt là chấn thương tim.
• Thủng thành ngực
Là thương tổn chỉ gặp trong vết thương ngực hở, dị vật xuyên thủng
thành ngực làm khoang màng phổi thông thương với bên ngoài. Qua lỗ thủng,
không khí và máu chảy ra từ vết thương sẽ đi vào khoang màng phổi ở thì hít
vào- đi ra ở thì thở ra, gây nên một loạt các rối loạn như: TM-TK MP, mất áp
lực âm, dấu hiệu phì phò máu khí, tràn khí dưới da trên lâm sàng [8], [18],
[28], [35], [36], [45].
• Tổn thương mạch máu
10
Chủ yếu là bó mạch liên sườn và ngực trong. Bó mạch liên sườn thường
bị tổn thương do gãy xương sườn, biểu hiện rõ nhất trong VTNH. Bó mạch vú
trong chủ yếu gặp trong VTNH, có thể là thương tổn đơn thuần hoặc kèm
theo vết thương tim [18], [28], [46].
1.2.2. Thương tổn khoang màng phổi
- Tràn khí màng phổi: Trong chấn thương ngực kín, nguồn không khí
đến chỗ rách nhu mô phổi do đầu xương sườn gãy chọc vào, hoặc từ phần nhu
mô phổi- phế quản bị dập- rách do chấn thương. Nếu có rách lá thành màng
phổi, thì không khí có thể thoát ra nằm dưới da hình thành tràn khí dưới da.
Trong một số thương tổn nặng (vỡ phế quản có van), không khí tràn vào
khoang màng phổi liên tục mà không thoát ra được, sẽ gây tràn khí màng phổi
dưới áp lực, chèn ép nặng nề vào phổi và trung thất, dẫn đến bệnh cảnh lâm
sàng nặng, nguy cơ tử vong cao. Đối với VTNH, nguồn không khí vào
khoang màng phổi là từ ngoài vào qua vết thương ngực và từ nhu mô phổi bị
việc nắm chắc cơ chế tổn thương giải phẫu bệnh sẽ giúp ích rất nhiều trong
việc đưa ra chẩn đoán chính xác cho các thể bệnh của CTN [18], [36].
- Máu đông màng phổi: Là tình trạng máu đông lại đóng bánh trong
khoang màng phổi, có thể từ thành ngực hoặc từ nhu mô phổi. Nếu ít, khối
máu đông chủ yếu nằm ở vùng thấp của lồng ngực, còn nếu nhiều thì nó bọc
quanh toàn bộ phổi, thậm chí có thể chiếm toàn bộ lồng ngực. Đối với máu
đông màng phổi, không thể điều trị khỏi bằng DLMP, mà chỉ có thể làm sạch
máu trong màng phổi bằng mở ngực. Nếu điều trị không tốt, máu đông màng
12
phổi sẽ tiến triển thành ổ cặn, dầy dính màng phổi, hoặc mủ màng phổi. Khi
đó việc điều trị sẽ rất khó khăn và kết quả rất hạn chế, rất khó bóc tách và gỡ
dính [18], [20], [24], [33], [36], [37], [52], [66].
1.2.3. Thương tổn các tạng
- Rách nhu mô phổi ngoại vi: là thương tổn thường gặp, do dị vật hoặc
đầu các xương sườn gãy di lệch chọc vào, gây chảy máu và thoát khí vào
khoang màng phổi [18], [36], [44], [46], [72], [95], [97].
- Vỡ, rách khí-phế quản: hiếm gặp, thường do cơ chế giằng xé trong
CTNK, gây tràn khí rất nhiều vào khoang màng phổi (có thể gây tràn khí dưới
áp lực), và chảy máu vào trong lòng phế quản lớn dẫn đến dấu hiệu ho khạc ra
máu sớm trên lâm sàng.
- Tụ máu- đụng dập phổi: nhu mô phổi bị rách- dập nát thành từng mảng,
thương do cơ chế va đập mạnh trực tiếp phối hợp với giảm gia tốc đột ngột.
Vùng phổi thương tổn có thể gây TM-TKMP nếu kết hợp với rách nhu mô,
đặc biệt là bị mất chức năng thông khí, và chảy máu vào trong lòng các phế
quản gây tắc-xẹp cả những vùng phổi không tổn thương. Một số thể nặng-
thương tổn rộng, có thể gây ho ra máu dữ dội ngay sau khi bị thương, làm tắc
nghẽn đường hô hấp, và nhanh chóng dẫn đến tử vong [18], [36].
- Xẹp phổi: là thương tổn thường xuyên gặp trong CTN và gây ảnh
hưởng lớn đến công tác chăm sóc bệnh nhân và kết quả điều trị PT. Xẹp phổi
là hiện thượng nhu mô phổi bị xẹp lại ở một số vùng hoặc toàn bộ một bên
- Xuất tiết và ứ đọng trong chấn thương ngực: các yếu tố gây xuất tiết và
ứ đọng trong khí phế quản như: chảy máu trong các tiểu phế quản, tăng tiết và
co thắt phế quản và phù phổi. Phản ứng đầu tiên của phổi trong chấn thương
14
ngực là tăng tiết và ứ dịch, chấn thương càng nặng thì phản ứng này càng tăng
dễ dẫn đến hậu quả viêm phổi.
- Rối loạn tuần hoàn: xảy ra khi có mất máu nhiều, hoặc khi có shock
chấn thương, và cũng là hậu quả của rối loạn sinh lý sự thở. Tim và mạch
máu lớn bị chèn ép hoặc xoắn vặn cuống do ảnh hưởng tới trung thất. Suy cơ
tim do thiếu dưỡng khí.
- Rối loạn do đau: CTN thường rất đau, nguyên nhân chủ yếu do gãy
xương sườn và các đụng dập ở thành ngực. Đau sẽ là yếu tố quan trọng gây
cản trở hô hấp và ảnh hưởng đến tình trạng shock chấn thương.
- Sốc chấn thương: có thể xuất hiện trong trường hợp CTN rất nặng hoặc
trong bệnh cảnh đa chấn thương, gây ảnh hưởng xấu đến các rối loạn hô hấp
và tuần hoàn.
Các rối loạn sinh lý trên luôn có sự tác động tương hỗ lẫn nhau, gây ra
các vòng xoắn bệnh lý nặng nề, ví dụ như đau sẽ gây hạn chế hô hấp, dẫn đến
phản xạ phải thở mạnh hơn, làm cho đau tăng lên, rồi lại làm hạn chế hô hấp
(thở nhanh- nông), cuối cùng sẽ dẫn đến rối loạn thông khí nặng nề, có thể
gây shock chấn thương.
1.3. CHẨN ĐOÁN VÀ ĐIỀU TRỊ CTN BẰNG CÁC PHƯƠNG PHÁP
KINH ĐIỂN
1.3.1. Chẩn đoán
1.3.1.1. Lâm sàng [8], [10], [24], [26], [35], [36], [101]
• Cơ năng:
- Khó thở và đau ngực: là 2 dấu hiệu thường gặp của CTN, nhưng mức
độ rất khác nhau, có thể không rõ ràng hoặc rất nặng, xuất hiện ngay sau tai
nạn hoặc vài giờ đến vài ngày sau.
- Ho ra máu sớm: hiếm gặp, có thể xuất hiện trong vài giờ đầu sau khi bị
16
+ Chỉ định: khi dấu hiệu lâm sàng và XQ không rõ rang, hoặc tình trạng
bệnh nhân nặng không cho phép chuyển bệnh nhân đi chụp.
+ Vị trí chọc dò: theo bờ trên xương sườn dưới của các khoan liên sườn, ở
khoang liên sườn 2 đường giữa đòn để tìm TKMP, ở khoang liên sườn 4-6
đường nách giữa (tư thế nằm ngửa) để tìm TMMP.
1.3.1.2. Cận lâm sàng [8], [20], [21], [22], [24], [25], [28], [30], [35], [36].
- Xét nghiệm công thức máu: dấu hiệu thiếu máu nặng hay nhẹ, bạch cầu tăng.
- Xét nghiệm sinh hóa máu: có thể rối loạn điện giải, rối loạn thăng bằng
kiềm toan giúp đánh giá tình trạng suy hô hấp, suy tuần hoàn.
- XQ ngực thẳng: là thăm dò quan trọng nhất trong CTN, tôt nhất là chụp
ở tư thế đứng nếu toàn trạng bệnh nhân cho phép, giúp xác định và đánh giá
mức độ các thương tổn sau:
+ Gãy xương sườn: chỉ thấy ở cung sau và cung bên của các xương sườn.
+ TKMP: phế trường sáng, nhu mô phổi co lại làm xuất hiện đường viền
nhu mô, mất vân phổi phía ngoại vi, trung thất bị đẩy sang bên đối diện,
khoang liên sườn dãn rộng, cơ hoành bị đẩy xuống thấp. Mức độ tràn khí có
thể chia thành 3 loại:
* Nhẹ: vệt sáng chỉ chiếm không quá 1/3 ngoài của phế trường.
* Vừa: vệt sáng chiếm quá 1/3 ngoài, nhưng không quá 1/3 trong của
phế trường.
* Nặng: vệt sáng chiếm gần hoàn toàn phế trường, nhu mô phổi bị ép về
rốn phổi.
Phân loại theo hướng dẫn của BTS năm 2003 [79] thống nhất chia tràn
khí màng phổi thành loại nhẹ và nặng dựa vào khoảng cách từ màng phổi
thành đến màng phổi tạng:
* Nhẹ: khoảng cách từ màng phổi thành đến màng phổi tạng <2cm.
* Nặng: khoảng cách từ màng phổi thành đến màng phổi tạng>2cm.
17
+ TMMP: phế trường mờ vùng đáy phổi tạo hình đường cong Damoiseau,
không xâm nhập, có thể áp dụng được ngay tại giường, hiện nay được áp
dụng tương đối rộng rãi với độ nhạy cao trong chẩn đoán TMMP và máu cục
trong khoang màng phổi.
• Các thăm dò khác: xét nghiệm khí máu (hô hấp tế bào và thăng bằng
kiềm toan), soi khí - phế quản, chụp cắt lớp vi tính, chụp cộng hưởng từ. Chỉ
định rất hạn chế trong chẩn đoán CTN cho một số trường hợp rất đặc biệt.
1.3.2. Một số phương pháp điều trị theo kinh điển
1.3.2.1. Chọc hút khoang màng phổi.
Chỉ định trong các trường hợp nghi ngờ có tràn máu hay tràn khí màng
phổi hoặc chọc hút trước khi đặt DLMP để khẳng định có máu hoặc khí tại vị
trí dự định dẫn lưu. Vị trí chọc hút máu thường ở đường nách giữa KLS 5, 6,
7. Vị trí chọc hút khí thường ở KLS 2 đường giữa đòn [46].
1.3.2.2. Dẫn lưu khoang màng phổi.
Chỉ định: tràn máu, tràn khí khoang màng phổi mức độ trung bình hoặc
nặng hoặc các trường hợp chọc hút khoang màng phổi không thành công.
Dẫn lưu máu thường đặt ở KLS4-6 đường nách giữa, ống phải đủ to (28
-36 Fr) để có thể thoát được máu cục và máu đang loãng hóa, đủ cứng không
bị bẹp, trong suốt [12]. Dẫn lưu khí thường đặt ở KLS 2 đường giữa đòn. Nối
ống dẫn lưu với hệ thống bình hút kín, hút liên tục với áp lực -20 mmHg để
giúp phổi nở hoàn toàn.
Tai biến và biến chứng [46], [68]:
19
- Tổn thương nhu mô phôi, phế quản, thực quản, dây thần kinh hoành,
các mạch máu thành ngực và trong trung thất, tim, cơ hoành, gan lách.
- Tràn khí dưới da.
- Sốc màng phổi, phù phổi do phổi dãn nở quá nhanh.
- Nhiễm trùng tại ống chân dẫn lưu, viêm mủ màng phổi.
- Đặt dẫn lưu không nằm trong khoang màng phổi hoặc không ở vị trí
thích hợp để dẫn lưu dịch, khí.
1.3.2.3. Phẫu thuật mở ngực.
hơn so với các đường mở ngực khác, hạn chế nhiễm trùng, tuy nhiên phẫu
trường thường nhỏ.
- Mở ngực trước-bên: thường được áp dụng trong phẫu thuật tim.
- Mở ngực sau-bên: đường này tạo phẫu trường rộng rãi, cho phép đi trực
tiếp vào vùng rốn phổi và quai động mạch chủ, ít dùng trong phẫu thuật cấp
cứu các thể CTN đơn thuần.
Với các tổn thương trong trung thất, khí phế quản gốc có thể sử dụng
đường mở dọc giữa xương ức. Các tổn thương phức tạp cả phổi, phế quản,
tim và mạch máu lớn có thể mở ngực kiểu “vỏ sò”- mở ngực đường trước bên
cả hai bên theo khe liên sườn tương ứng rồi nối hai đầu trước đường rạch
ngang qua xương ức [72].
* Nguyên tắc xử trí các thương tổn thường gặp [36], [56].
o Chảy máu từ động mạch liên sườn: đốt điện cầm máu tại chỗ kết hợp
khâu thắt động mạch bằng cách khâu vòng qua xương sườn ở 2 phía của chỗ
bị thương.
o Khâu vết thương phổi:
- Đặc điểm vết thương phổi: Đối với các vết thương có vận tốc sát
thương thấp đều có khuynh hướng tự cầm, sau khi máu được dẫn lưu hết và
phổi nở. Đối với các vết thương có vận tốc sát thương cao thì phải lấy hết tổ
chức dập nát, hoại tử và khâu cầm máu.
- Kỹ thuật khâu:
21
+ Chỉ khâu: dùng chỉ tự tiêu, số 2.0 - 4.0, kim dài > 20 mm.
+ Làm sạch vết thương trước khi khâu.
+ Khâu chữ U, chữ X để cầm máu - khí ở những điểm chảy nhiều. Khâu
ở từng bên mép vết thương, sau đó để hở hoàn toàn.Có thể khâu vắt kín nếu
vết thương sạch, khâu làm 2 - 3 lớp từ đáy vết thương lên, không để lại
khoảng trống bên trong vì sẽ tạo ổ máu tụ - thuận lợi cho nhiễm trùng.
o Chảy máu từ động mạch ngực trong: cặp và thắt hoặc khâu cầm máu.
o Chảy máu từ mạch máu lớn của phổi: khâu phục hồi hoặc khâu thắt
- Năm 1946: Branco lần đầu tiên dùng nối soi lồng ngực để đánh giá vết
thương thấu ngực.
- Thập niên 1950 do sự phát triển của kháng sinh trong việc điều trị bệnh
lao, nội soi lồng ngực tạm lắng xuống, thời kỳ này nội soi lồng ngực đóng vai trò
như một phương tiện giúp ích cho chẩn đoán các bệnh của phổi và màng phổi.
- Việc dùng nội soi lồng ngực trong chấn thương ngực đã được áp dụng
trong những thập niên cuối của thế kỷ 20.
- Jackson và Ferreira(1976), Feliciano và cộng sự (1989) sử dụng nội soi
lồng ngực để chẩn đoán tổn thương cơ hoành.
- Năm 1980: Boutin và cộng sự tổ chức hội nghị chuyên đề về nội soi
lồng ngực lần đầu tiên tại Marseilles.
- Năm 1981: Jones và cộng sự dùng nội soi lồng ngực để chẩn đoán và xử
trí những trường hợp chảy máu không cầm mức độ nhẹ trong chấn thương ngực.
- Năm 1986: Phát minh ra mini-camera có vi mạch điện toán gắn vào ống soi.
23
- Năm 1987: Loddenkemper (Đức) và cộng sự tổ chức hội nghị chuyên
đề nội soi lồng ngực lần thứ 2 tại Berlin.
- Năm 1997: Liu và cộng sự thông báo về sự thành công trong việc sử
dụng nội soi lồng ngực để đánh giá 50 trường hợp CTN (19 máu cục, 13 rách
màng phổi, 6 rách cơ hoành, 5 chảy máu của động mạch liên sườn, 4 rách nhu
mô phổi, 1 chấn thương ống ngực, 1 mủ màng phổi sau chấn thương)
- Năm 1999: Villavicencio và cộng sự nghiên cứu đánh giá nội soi lồng
ngực trên 500 bệnh nhân CTN.
- Tại Việt Nam: PTNSLN ứng dụng trong thực hành ngoại khoa từ
những năm 1992, cho tới nay PTNSLN đã được triển khai tại nhiều trung tâm
trong cả nước như bệnh viện Việt Đức, bệnh viện Bạch Mai, bệnh viện Nhi
trung ương, bệnh viện Chợ Rẫy, bệnh viện Gia Định…Trong chấn thương
ngực, PTNSLN lấy máu cục màng phổi được áp dụng tại Bệnh viện Việt Đức
giai đoạn 2001-2005 với 29 trường hợp [33], Nguyễn Hoài Nam(2003-2004)
với 14 trường hợp [37], tại bệnh viện Bạch Mai (2/2002-10/2009) Nguyễn
nguy cơ khi đặt trocar như: chọc rách, thủng phổi, tổn thương bó mạch thần
kinh liên sườn. Có thể gây sang chấn các tạng khi cầm nắm bằng dụng cụ để
thăm dò và phẫu thuật [38].
- Dù là phương pháp thăm dò xâm nhập tối thiểu có thể quan sát tổn
thương bằng camera nhưng không thể sờ nắn tổn thương trực tiếp bằng tay
nên khó đánh giá các tổn thương kín đáo. Do thao tác nhờ dụng cụ được đưa
vào qua trocar nên không thể thực hiện được các thao tác đòi hỏi thời gian
ngắn và khó như trong phẫu thuật kinh điển.
- Là phương pháp chẩn đoán và điều trị hiện đại nên đòi hỏi phải có
trang bị phương tiện, dụng cụ của phẫu thuật nội soi nên chi phí cao. Kíp
25
phẫu thuật phải được trang bị kiến thức về PTNSLN, được đào tạo và thành
thạo PTNSLN.
1.4.4 Chỉ định PTNSLN trong CTN
- BN có biểu hiện chảy máu hay tràn khí khoang màng phổi tái phát nhanh.
- Được xác định có máu cục màng phổi.
- Nghi ngờ tổn thương phổi hoặc các tổn thương khác phối hợp mà trước
đây có chỉ định mở ngực như rách cơ hoành, vết thương tim.
- Dị vật khoang màng phổi có nguy cơ gây tổn thương các tạng.
- Một số trường hợp sau chấn thương trong khoảng 3 tuần có biểu hiện
dính hay có các khoang màng phổi cũng có chỉ định để tách dính, lấy máu cục
và phá các khoang tránh dày dính màng phổi sau này.
- Máu hay mủ màng tim có chèn ép nhẹ có nguy cơ dầy dính.
1.4.5 Chống chỉ định của PTNSLN
- Tình trạng huyết động không ổn định: Xuất hiện dấu hiệu của sốc giảm
thể tích, loạn nhịp tim.
- Nghi ngờ các tổn thương mạch máu lớn hay tim: Trung thất rộng, chấn
thương ngực kín nghi ngờ có tổn thương tim hoặc các chấn thương khác có
liên quan tới tim, toàn trạng không ổn định.
- Không có khả năng tiến hành thông khí một phổi: có tiền sử về can