Nghiên cứu đặc điểm lâm sàng, chẩn đoán huỳnh quang bằng dung dịch Fluoresceine 10% và điểu trị bằng kem Berbrin 0,1% trong bỏng bàn tay - Pdf 12

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO BỘ QUỐC PHÒNG
HỌC VIỆN QUÂN Y
PHẠM TRỊNH QUỐC KHANH
NGHIÊN CỨU ĐẶC ĐIỂM LÂM SÀNG,
CHẨN ĐOÁN HUỲNG QUANG BẰNG
DUNG DỊCH FLUORESCEINE 10% VÀ
ĐIỀU TRỊ BẰNG KEM BERBERIN 0,1%
TRONG BỎNG BÀN TAY
Chuyên ngành: Ngoại Bỏng
Mã số: 62.72.07.40
TÓM TẮT LUẬN ÁN TIẾN SĨ Y HỌC
HÀ NỘI – 2009 Công trình được hoàn thành tại: HỌC VIỆN QUÂN Y Người hướng dẫn khoa học: PGS. NGUYỄN THẾ HIỆP
TS. ĐỖ QUANG HÙNG Người phản biện 1: GS.TS. TRỊNH BÌNH

Người phản biện 2: GS.TS. PHẠM THANH KỲ

Người phản biện 3: PGS.TS. NGUYỄN BẮC HÙNG
ĐẶT VẤN ĐỀ
Bàn tay chỉ chiếm 3% diện tích da toàn cơ thể, nhưng khi bị
bỏng nặng sẽ làm cho nạn nhân bị tàn phế, giảm hoặc mất khả năng
lao động, thậm chí không tự chăm sóc nỗi bản thân. Chẩn đoán lâm
sàng chính xác tổn thương bỏng, đặc biệt là bỏng bàn tay, luôn là
một nhu cầu bức thiết để thầy thuốc có thể đề ra quyết định điều trị
thích hợp, giúp bệnh nhân bỏng mau hồi phục và có thể tái hoà nhập
cộng đồng tốt nhất. Việc điều trị tại chỗ tổn thương bỏng bằng dung
dịch Berberin clorid 0,1% chưa được nghiên cứu một cách hệ thống
tác dụng của Berberin clorid trên tổn thương bỏng nói chung và bỏng
bàn tay nói riêng. Xuất phát từ những vấn đề nêu trên, chúng tôi tiến
hành đề tài này nhằm các mục tiêu sau:
1. Nghiên cứu một số đặc điểm lâm sàng bỏng bàn tay.
2. Đánh giá vai trò nghiệm pháp sử dụng dung dịch
Fluoresceine sodium 10% trong chẩn đoán độ sâu tổn thương bỏng
bàn tay.
3. Nghiên cứu hoạt lực kháng khuẩn của dung dịch Berberin
clorid 0,1% và tác dụng điều trị tại chỗ tổn thương bỏng bàn tay của
dung dịch Berberin clorid 0,1% và kem Berberin clorid 0,1%.
Những đóng góp mới của luận án:
- Sử dụng số đo chu vi cổ tay và chu vi gan tay để đánh giá
và theo dõi diễn tiến phù nề bỏng bàn tay.
- Sử dụng dung dịch Fluoresceine sodium 10% tiêm tĩnh
mạch để chẩn đoán độ sâu tổn thương bỏng bàn tay, một nghiệm 2

pháp hiệu quả, dễ thực hiện so với phương pháp chẩn đoán bằng
laser doppler.

1.2.2. Phương pháp chẩn đoán độ sâu tổn thương bỏng
1.2.2.2. Lịch sử chẩn đoán độ sâu tổn thương bỏng bằng dung dịch
fluoresceine
Dingwall J. A. (1943) là người đầu tiên dùng dung dịch
Fluoresceine để chẩn đoán độ sâu tổn thương bỏng. Sau đó, Gatti J.
E. (1963) khảo sát phát huỳnh quang của fluoresceine để chẩn đoán
phân biệt giữa bỏng nông và bỏng sâu dưới đèn cực tím [62] (đèn
Wood), bỏng nông sẽ thấy có phát màu huỳnh quang, bỏng sâu
không có phát màu huỳnh quang [38], [61]. Robin William và Gigi
William (2002) đã thống kê các nghiên cứu về việc sử dụng dung
dịch fluoresceine để đánh giá tình trạng tưới máu mô, trong đó có tổn
thương bỏng [89]. Still (1951) [89], Leonard và cộng sự (1980) dung
dịch fluoresceine có thể dùng trong vòng 48-72 giờ sau bỏng để tiên
lượng tổn thương bỏng cần ghép da hay không [89]. Zuckermann
(1983) đã kết luận kỹ thuật trên rất đơn giản và dễ thực hiện trong
lâm sàng [89]. Tại Việt Nam, Lê Thế Trung (2003) đã sử dụng dung
dịch Natri Fluoresceine 17,5% để chẩn đoán bỏng và đã đưa ra một
bảng các mức độ tổn thương bỏng [38].
1.2.4. Thuốc điều trị tại chỗ tổn thương bỏng


 Nghiên cứu tác dụng sinh học của berberin
Berberin có tác dụng kháng vi khuẩn và có tác dụng kháng
độc tố của một số vi khuẩn. D.V. Lebedev (1969), M. Mekawi 4

(1957), Z. Kowalewski (1972), A.I. Potopalski (1975) đã chứng
minh berberin có tác dụng kháng S. aureus, E. coli, và các trực

pháp F): 41 bệnh nhân, 58 bàn tay bỏng. So sánh kết quả chẩn đoán
lâm sàng và nghiệm pháp F. Kiểm chứng kết quả chẩn đoán lâm sàng
và nghiệm pháp F với diễn tiến lâm sàng liền tổn thương bỏng.
2.3.2.3. Nghiên cứu tác dụng điều trị tại chỗ tổn thương bỏng bàn
tay của dung dịch và kem Berberin clorid 0,1% so sánh với kem
Silver Sulfadiazine 1% : 2 phân nhóm bỏng nông và bỏng sâu được
chia thành 2 vùng tổn thương để thực hiện nghiên cứu:
- Vùng bỏng nghiên cứu A: tổn thương bỏng bàn tay P, được
điều trị bằng dung dịch và kem Berberin clorid 0,1%.
* Phân nhóm bỏng nông: ghi nhận các chỉ tiêu: đau sau
đắp thuốc, phù nề; sự thay đổi các chỉ số về độ pH, bạch cầu đa nhân
trung tính, đại thực bào, chủng loại và số lượng vi khuẩn tại bề mặt
vết thương bỏng; thời gian lành tổn thương bỏng.
* Phân nhóm bỏng sâu: ghi nhận các chỉ tiêu: phương
pháp và số lần cắt bỏ hoại tử bỏng.; triệu chứng đau sau đắp thuốc; sự
thay đổi độ pH, bạch cầu đa nhân trung tính, đại thực bào, chủng loại
và số lượng vi khuẩn tại bề mặt tổn thương bỏng sâu; số lượng
nguyên bào sợi và tân mạch, thời điểm ghép da, đánh giá kết quả mảnh
da ghép cũng như chức năng bàn tay sau 6 tuần và 3 tháng điều trị.
- Vùng bỏng nghiên cứu đối chứng B: tổn thương bỏng bàn
tay T, điều trị bằng kem Sulfadiazin bạc 1% (SSD), ghi nhận các chỉ
tiêu đánh giá giống như nhóm nghiên cứu A. 6

2.4. Xử lý số liệu: bằng phần mềm Stata./SE 10.0. Kiểm định kết quả
nghiên cứu bằng các phép kiểm thống kê.
1 CHƯƠNG 3 - KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU
3.1. Đặc điểm lâm sàng bỏng bàn tay:

N
0
17,93 ± 0,79
Cổ tay
N
7
15,92 ± 0,35
2,02 ± 0,7
N
0
20,73 ± 0,71
Gan tay
N
7
19,12 ± 0,66
1,6 ± 0,83
P (N
0
/ N
7
) cổ tay < 0,05
P (N
0
/ N
7
) gan tay < 0,05
P>0,05
Tình trạng phù nề ở bàn tay xảy ra sớm sau bỏng và giảm có
ý nghĩa tình trạng phù nề sau 7 ngày điều trị (P<0,05). Mức độ giảm
phù nề ở cổ tay và gan tay tương đương nhau (P>0,05).

độ sâu tổn thương bỏng bằng nghiệm pháp F và chẩn đoán theo diễn
tiến liền tổn thương bỏng không có ý nghĩa, P>0,05.
3.2.5. Độ nhạy và độ đặc hiệu của nghiệm pháp F:
Độ nhạy: 46/48 = 95,8%. Độ đặc hiệu: 8/10 = 80%.
Nghiệm pháp chẩn đoán tổn thương bỏng bằng dung dịch
Fluoresceine sodium 10% có độ nhạy và độ đặc hiệu cao.
3.3. Kết quả nghiên cứu nhóm 2: Điều trị bằng dung dịch và kem
Berberin clorid 0,1% đối chứng với kem SSD 1%.
3.3.1. Tác dụng kháng khuẩn của dung dịch Berberin clorid 0,1%
trên thực nghiệm:
8
4
0 0
8 8
6
4
8
6
4
00
1
2
3
4
5
6
7
8
9
0 giờ 2 giờ 6 giờ 24 giờ

N
0
- N
3
< 0,05 < 0,05
P
N
0
- N
7
< 0,05 < 0,05
Bảng 3.16. Số lượng đại thực bào/vi trường ở hai vùng bỏng A và
B tại 3 thời điểm nghiên cứu (n=30).
Thời điểm nghiên cứu Vùng bỏng A (n =30) Vùng bỏng B (n = 30)
N0 2,1 ± 0,92 2 ± 1,05
N3 6,4 ± 1,45 6,17 ± 1,37
N7 3,97 ± 1,38 4,03 ± 1,67
N0 - N3 < 0,05 < 0,05
P
N3 - N7 < 0,05 < 0,05
Bảng 3.14 và 3.16 cho thấy số lượng bạch cầu đa nhân trung tính
và số lượng đại thực bào trên bề mặt hai vùng bỏng A và B đều giảm
có ý nghĩa sau 7 ngày điều trị (P<0,05). Mức độ giảm bạch cầu đa
nhân trung tính và đại thực bào ở bề mặt hai vùng bỏng A và B tại
từng thời điểm nghiên cứu đều tương đương nhau (P>0,05).
3.3.2.5. Tác dụng đối với tình trạng nhiễm khuẩn:
Tần xuất xuất hiện vi khuẩn (biểu đồ 3-17) và số lượng vi
khuẩn (biểu đồ 3-18) tăng nhiều vào ngày thứ 3 sau điều trị trên cả

Vùng bỏng A (n=30) Vùng bỏng B (n=30) Chủng loại
vi khuẩn
N
0
N
3
N
7
N
0
N
3
N
7

P. aeruginosa 3,53±5,62 6,3 ± 7,4 0,92±0,47 5,15±4,12 4,3±2,79 1,43±1,16
S. aureus 5,81±6,62 5,77±7,54 0,8 ± 0,27 4,4 ± 4,36 3,05±2,98 1,95±1,27
E. coli 0 3,25 0 0,5 0 0
P. stuatii 0 21,35 0 0 3 0
S. oralis 0 0 0 0 6,55 1,55
K.pneumoniae 16,60 11,23±6,47 6,4 0 20,5 1,45
A. baum 0 19,1 0,9 0 10,35 1,05
Bacillus 1,35 0 0 1,5 0 0
Enterobacter 5,05 1,15 0 0 0 0
S. epidermidis 0,9 1,63±0,46 0 0 2,03±0,6 0,55±0,07
Số lượng
vi khuẩn
trung bình
5,28±6,21 6,66±7,6 1,19±1,39 3,95±3,85 4,19±4,11 1,53±1,07

N
0-1
-N
8-10
< 0,05 < 0,05

Bảng 3-24 cho thấy số lượng bạch cầu đa nhân trung tính ở hai
vùng bỏng A và B đều giảm có ý nghĩa sau N
8-10
ngày đắp thuốc (P <
0,05). Mức độ giảm số lượng bạch cầu đa nhân trung tính ở hai vùng
bỏng A và B tương đương nhau (P>0,05).
Bảng 3.25. Số lượng đại thực bào/vi trường ở hai vùng bỏng sâu
A và B tại 3 thời điểm nghiên cứu trên tổn thương bỏng sâu.
Thời điểm nghiên cứu
Vùng bỏng A
(n=33)
Vùng bỏng B
(n=33)
P
N
0-1
2,09 ± 1,01 2,12 ± 0,86 > 0,05
N
4-5
7 ± 1,56 7,09 ± 1,68 > 0,05
N
8-10
2,94 ± 0,83 2,88 ± 1,29 > 0,05
N

30
8
0
5
10
15
20
25
30
35
40
45
N0-1 N4-5 N8-10
Sồ lần xuất hiện vi khuẩn
Vùng bỏng A Vùng bỏng B

Biểu đổ 3.15. So sánh tần xuất xuất hiện vi khuẩn tại 3 thời điểm
nghiên cứu trên tổn thương bỏng sâu.

Bảng 1.2. Số lượng từng loại vi khuẩn/cm
2
tại 3 thời điểm trên 2
vùng bỏng sâu A và B: số lượng trong bảng kết quả x10
5
Vùng bỏng A (n=33) Vùng bỏng B (n=33)
Loại vi khuẩn
N
0-1
N
8-10

Thời điểm ngiên cứu Vùng bỏng A (n=33) Vùng bỏng B (n=33) P
N
0-1
4,2 ± 2,0 4,5 ± 2,0 > 0,05
N
4-5
20,4 ± 6,6 20,2 ± 5,8 > 0,05
N
8-10
24,1 ± 4,9 25,3 ± 5,3 > 0,05
N
0-1
- N
4-5
< 0,05
< 0,05
P
N
0-1
- N
8-10
< 0,05 < 0,05

Bảng 1.4. So sánh số lượng tân mạch trung bình/vi
trường tại 3 thời điểm nghiên cứu trên tổn thương bỏng sâu
Thời điểm ngiên cứu Vùng bỏng A (n=33) Vùng bỏng B (n=33) P
N
0-1
6,30 ± 2,81 6,33 ± 2,43 > 0,05
N


14

- 11/16 bệnh nhân được cắt hoại tử bỏng theo phương pháp
tiếp tuyến. Một số ít bệnh nhân được cắt bỏ hoại tử toàn bộ. Trường
hợp cắt bỏ hoại tử tiếp tuyến có thể được thực hiện nhiều lần.



 Phương pháp che phủ tổn thương bỏng
 Thời gian từ khi bi bỏng đến khi được ghép da ghi nhận trên
những bàn tay không cắt bỏ hoại tử: 17 bệnh nhân bị bỏng độ IV ở cả
hai bàn tay : 13,76 ± 5,65 ngày.
 Thời gian từ khi bị bỏng đến khi cắt bỏ hoại tử: 16 bệnh
nhân bị bỏng độ V ở cả hai bàn tay : 8,19 ± 4,93 ngày.
- Thời gian từ khi được cắt bỏ hoại tử đến khi được ghép
da:10 ± 3,97 ngày.
 100% được che phủ bằng ghép da mảnh sau khi mọc mô hạt.
100% các mảnh da ghép có kết quả tốt. Kết quả tương đương giữa
hai nhóm điều trị bằng Berberin clorid 0,1% và bằng Silver
Sulfadiazine 1%.



 Kết quả điều trị các bàn tay bỏng sâu sau 6 tuần:
 17 bệnh nhân bỏng độ IV hai bàn tay:
Bảng 3.31. Kết quả điều trị các bàn tay bỏng độ IV sau 6
tuần điều trị.
Chỉ tiêu đánh giá Vùng bỏng A (n=17) Vùng bỏng B (n=17)
Sẹo bỏng Mềm mại Mềm mại

100% các bàn tay đều lấy lại gần như hoàn toàn chức năng
sau 3 tháng điều trị; sẹo bỏng không viêm rò, không co kéo.
CHƯƠNG 4 – BÀN LUẬN
4.1. Đặc điểm chung của bỏng bàn tay:
4.1.7. Cảm giác đau bàn tay sau bỏng:
34 bệnh nhân với 47 bàn tay bị bỏng nông nhận thấy các tổn
thương bỏng nông bàn tay đều gây đau cho bệnh nhân, tuy nhiên đa
số các trường hợp bỏng nông bàn tay chỉ đau ở mức độ vừa theo
phân loại đau của Frank J.M. và Lê Thế Trung. Kết quả này phù hợp 16

với nhận định của David Heimbach (2002). 3 bàn tay đau ở mức độ
nhiều được rạch giải áp và bệnh nhân cảm thấy mức độ đau giảm
ngay sau khi được phẫu thuật. Như vậy, triệu chứng đau cần được
theo dõi để có thể phát hiện sớm hội chứng chèn ép khoang.
4.1.8. Đánh giá tình trạng phù nề bàn tay:
34 bệnh nhân với 47/47 bàn tay bỏng nông bị phù nề; tình trạng
phù nề giảm nhiều sau 1 tuần biểu hiện bằng sự khác biệt có ý nghĩa
giữa kết quả 2 lần đo vào ngày N
0
và N
7
sau bỏng ở cả hai vị trí chu
vi cổ tay và chu vi gan tay (P < 0,05). Điều này chứng tỏ tình trạng
phù nề bàn tay xuất hiện sớm và đặc biệt giảm nhiều sau 7 ngày.
Khi so sánh mức độ giảm phù nề ở cổ tay và gan tay; chúng
tôi ghi nhận không có sự khác biệt có ý nghĩa (P>0,05) về mức độ
giảm phù nề giữa cổ tay và gan tay. Do đó, trên lâm sàng có thể đo

- Theo Harry S. Adair (2005), khi chẩn đoán độ sâu tổn
thương bỏng ở bàn tay thì laser doppler khó thu được kết quả chính
xác. Do nghiệm pháp LDI dựa trên nguyên lý quét chùm tia laser
trên bề mặt tổn thương; nên khi bị bỏng ở các ngón tay, vùng tổn
thương không ở trên một mặt phẳng sẽ làm cho việc quét tia không
đều [69]. Theo Sarah A. Pape (2002), khi đặt bàn tay trên một mặt
phẳng thì có sự chênh lệch về độ dày giữa các phần của bàn tay và có
nhiều mặt bên (ngón tay), cho nên việc quét tia laser để chẩn đoán độ
sâu tổn thương bỏng bàn tay, ngón tay gặp nhiều khó khăn [92].
Trong khi đó, nghiệm pháp chẩn đoán F cho phép quan sát tổn
thương bỏng dễ dàng bằng cách xoay trở bàn tay dưới đèn cực tím. 18

Qua đó, chúng tôi kết luận việc sử dụng dung dịch Fluoresceine
sodium 10% để chẩn đoán sớm độ sâu tổn thương bỏng bàn tay có
giá trị lâm sàng, đặc biệt là trong tình hình nước ta hiện nay.
4.3. Điều trị bỏng bàn tay bằng dung dịch và kem Berberin clorid
0,1% so sánh với kem Silver Sulfadiazine 1%:
4.3.1. Hiệu quả kháng khuẩn của dung dịch Berberin clorid 0,1%
trên thực nghiệm:
Dung dịch Berberin clorid 0,1% có tác dụng diệt khuẩn S.
aureus, E. coli, kìm khuẩn P. aeruginosa trên thực nghiệm.
4.3.2. Điều trị bỏng nông bằng dung dịch và kem Berberin clorid
0,1% so sánh với Silver Sulfadiazine 1%:
4.3.2.4. Tác dụng giảm tế bào viêm:
Số lượng bạch cầu đa nhân trung tính ở hai vùng bỏng nghiên
cứu và đối chứng giảm một cách có ý nghĩa (P<0,05). Các chỉ số
giảm tương đương nhau giữa hai nhóm (P>0,05). Số lượng đại thực

qua đó, giúp cho tiến trình lành tổn thương bỏng nông thuận lợi.
4.3.3. Điều trị bỏng sâu bàn tay bằng dung dịch và kem Berberin
clorid 0,1%:
4.3.3.2. Tác dụng giảm tế bào viêm:
Số lượng bạch cầu đa nhân trung tính ở mô bỏng sâu giảm có ý
nghĩa sau 8-10 ngày điều trị bằng dung dịch và kem Berberin clorid
0,1% (P<0,05. Mức độ giảm số lượng bạch cầu đa nhân trung tính ở
hai nhóm nghiên cứu và đối chứng tương đương nhau (P>0,05). Số
lượng đại thực bào trên bề mặt bỏng sâu cũng thay đổi tăng sau 4-5 20

ngày điều trị bằng dung dịch và kem Berberin clorid 0,1% (P<0,05);
mức độ thay đổi các chỉ số trên tương đương với sự thay đổi số
lượng đại thực bào ở nhóm chứng (P>0,05). Sự thay đổi trên phù hợp
với kết quả nghiên cứu của các tác giả Nguyễn Gia Tiến (1998) , Vũ
Trọng Tiến (2003). Như vậy, dung dịch và kem Berberin clorid 0,1%
có hiệu quả giảm tế bào viêm, tăng số lượng đại thực bào trong quá
trình tạo mô hạt; qua đó thúc đẩy quá trình tạo mô hạt diễn ra thuận
lợi hơn.
4.3.3.3. Hiệu quả kháng khuẩn:


 Chủng loại vi khuẩn:
Kết quả nghiên cứu cho thấy mức độ giảm số vùng bỏng nhiễm
khuẩn tương đương nhau ở hai nhóm nghiên cứu và đối chứng. Mức
độ giảm số vùng bỏng nhiễm vi khuẩn trong nghiên cứu tương
đương với nghiên cứu của Nguyễn Gia Tiến (1998).


dụng kích thích quá trình tân tạo mạch trong tiến trình mọc mô hạt.
4.3.3.5. Phẫu thuật điều trị bỏng sâu bàn tay:
11/16 bệnh nhân được cắt bỏ hoại tử kiểu tiếp tuyến
(69,23%). Số lần cắt lọc trung bình là 1,13 ± 0,34. Kết quả này tương
đương ở cả hai nhóm nghiên cứu và đối chứng (P>0,05). Tất cả bàn
tay bỏng sâu được ghép da mảnh rời sau khi lên mô hạt; các mảnh da
ghép đều bám dính và sống tốt. Như vậy, việc sử dụng dung dịch và
kem Berberin clorid 0,1% có hiệu quả ngăn ngừa nhiễm khuẩn trên
tổn thương bỏng sâu bàn tay, qua đó tạo điều kiện thuận lợi cho mô
hạt phát triển, giúp cho việc che phủ tổn thương bỏng sâu gặp nhiều
thuận lợi. Hiệu quả này tương đương với hiệu quả của nhóm sử dụng
thuốc đối chứng kem SSD 1%.
Theo dõi kết quả gần (6 tuần) và kết quả xa (3 tháng): 100%
các bàn tay bỏng sâu độ IV và độ V (chỉ lộ gân hoặc hoại tử gân một
phần) đều đạt kết quả chức năng khá sau 3 tháng điều trị. 22

KẾT LUẬN:
Qua kết quả nghiên cứu 104 bệnh nhân bỏng với 184 bàn tay bị
bỏng chúng tôi rút ra kết luận sau:
1. Về đặc điểm lâm sàng bỏng bàn tay:
- Bỏng bàn tay gặp nhiều hơn ở nam giới so với nữ giới (P<0,05);
thường xảy ra trong độ tuổi từ 20-40 tuổi (56,34%). Tác nhân gây bỏng
thường gặp là nhiệt (83%), hoàn cảnh bị bỏng thường gặp là các tai nạn
trong sinh hoạt (53%).
- Đa số các trường hợp bỏng bàn tay kết hợp bỏng nhiều nơi trên cơ
thể (97,18%). Bỏng bàn tay thường bị ở nhiều chỗ (24,58%); bỏng ở mu
tay và ngón tay hay gặp nhất (24,58%).


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status