Nghiên cứu đặc điểm lâm sàng, chẩn đoán hình ảnh và mô bệnh học của ung thư sàng hàm - Pdf 19


1
Đặt vấn đề
Ung thư sàng hàm là loại ung thư không thường gặp, chiếm khoảng
0,2- 0,8% tổng số các ung thư nói chung và khoảng 3% các ung thư vùng đầu cổ
[45]. Ung thư sàng hàm là ung thư xuất phát từ xoang sàng, xoang hàm,
xương khẩu cái và lan ra lân cận. Về phân loại cổ điển, ung thư sàng hàm
thường xuất phát từ một trong ba tầng: tầng sàng, tầng hàm, tầng khẩu cái. Ở
nước ta ung thư sàng hàm chiếm một tỷ lệ khá cao trong ung thư đầu mặt cổ,
đứng thứ ba sau ung thư vòm mũi họng (NPC) và ung thư hạ họng thanh
quản, khoảng 92,7% các u có nguồn gốc biểu mô 12. Ở các nước Âu - Mỹ,
ung thư sàng hàm đã được nghiên cứu từ lâu. Một số nước Châu Âu đã xếp
ung thư sàng hàm trong danh mục bệnh nghề nghiệp do tỷ lệ gặp ở công nhân
làm nghề xẻ gỗ cao và người đã xác định được axit Tanic, một hoạt chất chiết
xuất từ gỗ là yếu tố gây bệnh 49.
Do đặc điểm về cấu trúc và vị trí giải phẫu của vùng này rất phức tạp, ở
sâu nên các triệu chứng lâm sàng thường kín đáo, bệnh tiến triển chậm, không
có hạch hoặc hạch xuất hiện muộn, Ýt di căn xa nên việc chẩn đoán sớm
thường gặp khó khăn, dễ bị bá qua hay nhầm lẫn và chính vì vậy khi đã được
khám chÈn đoán thường u đã lan rộng ở khối sàng hàm hốc mòi. Vấn đề này
cũng đã được một số tác giả trong nước và nước ngoài đề cập đến [1,16].
Tỷ lệ ung thư sàng hàm được che đậy dưới dạng viêm mòi xoang mạn
tính có thoái hoá cuốn giữa, polyp khe giữa còng hay thường gặp. Ở nước ta
hiện nay mét số tác giả đã lưu ý có một tỷ lệ đáng kể ung thư sàng hàm trên
các bệnh nhân có tiền sử này 9.
Ung thư sàng hàm thường chỉ lan tràn tại chỗ vì Ýt di căn xa và di căn
chậm, có thể phẫu thuật được. Phẫu thuật có nhiều khả quan hơn so với các
loại ung thư đầu mặt cổ khác. Tuy nhiên, thực tế ở Việt Nam, người bệnh ung

2
thư sàng hàm thường đến muộn, vào các giai đoạn cuối của bệnh. Lúc này

Tổng quan tài liệu
1.1. VÀI NÉT LỊCH SỬ NGHIÊN CỨU
Ung thư sàng hàm đã được các tác giả trong nước và ngoài nước đề cập
đến từ lâu.
1.1.1. Một số nghiên cứu trên thế giới
Những nghiên cứu về ung thư sàng hàm đã có từ lâu. Công trình đầu
tiên được ghi nhân trên y văn là của Morgagni, Bichat 43] vào khoảng thế kỷ
17. Đến năm 1906 Sébileau đã mô tả, phân loại u 3 tầng: tầng trên, tầng giữa
và tầng dưới 51]. Tới năm 1920, Hautant và Manod đã đặt vấn đề xếp loại
và đưa ra hướng điều trị ung thư sàng hàm 39. Năm 1979, Colin Parson,
Neil Hodson đã mô tả tỷ trọng khối ung thư sàng hàm tăng lên sau khi tiêm
thuốc cản quang không có giá trị phân biệt các khối tân tạo ở mặt, tuy nhiên
khi ung thư sàng hàm xâm lấn nội sọ làm cho hàng rào máu não bị tổn thương
thì hình ảnh u ngấm thuốc tăng tỷ trọng lại rất có giá trị. Năm 1984, các tác
giả Anton. N. Hasso 16 đã dùng máy CT Scanner có độ phân giải cao, chụp
không và có tiêm thuốc cản quang tĩnh mạch. Có thể phát hiện nguyên uỷ của
khối ung thư sàng hàm, đánh giá mức độ phá huỷ xương và lan tràn của khối
ung thư sàng hàm ra lân cận. Ngoài ra, CT Scanner còn cho phép đánh giá
giai đoạn phát triển của khối ung thư sàng hàm. Vào năm 1998, Yuan.Y và
cộng sự qua nghiên cứu 13 trường hợp u nguyên bào thần kinh khứu giác
bằng CT Scanner phát hiện 6 trường hợp có u tăng tỷ trọng, 3 trường hợp tỷ
trọng không đồng đều và 3 trường hợp có vôi hoá trong u. CT Scanner còn
giúp đánh giá sự tái phát của u sau phẫu thuật. Cùng năm 1998, Wolfgang

4
Dahnert nhận thấy tần suất carcinoma sàng hàm chiếm 5- 6% của carcinoma
xoang cạnh mũi, 90% là carcinoma tế bào vẩy, sau đó là sarcoma, carcinoma
tuyến ống, carcinoma tuyến kén và thường thứ phát từ carcinoma xoang hàm.
1.1.2. Một số nghiên cứu trong nước
Ở Việt Nam ung thư sàng hàm đã được quan tâm nghiên cứu từ thập

Nguyên uỷ của các xoang chính là nguyên uỷ của hốc mũi tạo nên, do
đó còn gọi xoang là những hốc phụ của mũi.

Hình 1.1. Bào thai học

30


Xoang sàng xuất hiện sớm nhất từ đầu thời kỳ bào thai và điểm xuất phát
chính là nụ phễu sàng bài thai (Infundibilum embryonnaire), nó là điểm xuất
phát chính của tiến trình xâm nhập và phát triển các xoang. Các tế bào sàng
có trước tiên, chủ đạo, nó phát triển theo nhiều hướng và tạo nên tế bào các
xoang khác tùy theo hướng đi.
Xoang hàm xuất hiện muộn hơn, bắt đầu từ tuần lễ thứ 4 của bào thai.
Khởi đầu xoang xuất phát từ mét khe ở thành bên của hốc mũi, giữa cuốn
giữa và cuốn dưới. Khe này ngày càng tăng thể tích và di chuyển sâu vào thân
xương hàm. Hốc xoang được bao phủ niêm mạc từ xoang sàng bó vào. Xoang
hàm phát triển đến 6 tuổi thì hoàn chỉnh và tới 20 tuổi thì ngừng phát triển.
1.2.2. Giải phẫu khối sàng hàm
1.2.2.1. Giải phẫu khối sàng

6
Theo Rouviere - Brizon và Gastaing, Legent và Vanden – Brouck [7]
có thể mô tả như sau:
Khối sàng được tạo bởi 4 phần, một mảnh dọc ở chính giữa, một mảnh
ngang cắt phần trên mảnh dọc ở phía trước và hai khối bên dính vào hai đầu
bên của mảnh ngang. Khối sàng giống hình hộp chữ nhật có 6 mặt.
- Mặt trên: Liên quan đến nền sọ, chia làm 2 phần: một phần ba trước
thành trên xoang sàng tạo nên sàn xoang trán. Hai phần ba sau ngăn cách với
hố não trước bởi một mảnh xương rất mỏng gọi là mảnh sàng, liên quan với

gồm 8-12 hốc nhỏ bằng hạt ngô, gọi là tế bào sàng, các tế bào sàng có dạng đa
giác với các mặt dẹt. Thể tích to nhỏ khác nhau, trung bình 2-3mm
3
, sắp xếp
lộn xộn, nên còn gọi là mê đạo sàng.
Các tế bào sàng chia làm hai loại:
- Sàng trước có 5-7 tế bào, kích thước nhỏ hơn tế bào sàng sau và đổ
vào khe giữa.
- Sàng sau có 3-5 tế bào đổ vào mũi ở khe bướm sàng
1.2.2.2. Xoang hàm
Là một hốc hình tháp nằm ở trong xương hàm trên có ba mặt một nền
và một đỉnh.

Hình 1.3. Sơ đồ giải phẫu xoang hàm (cắt đứng giữa)

10


1. Xương trán 9. Mỏm khẩu cái xương hàm trên
2. Xoang trán 10. Lỗ thông xoang hàm
3. Xương chính mũi 11. Xương bướm
4. Xương sàng 12. Xoang bướm
5. Xương lệ 13. Lỗ bướm khẩu cái
6. Xương hàm trên 14. Mảnh đứng của xương khẩu cái
7. Cuốn dưới 15. Chân bướm trong

8
8. Mỏm huyệt răng xương hàm trên 16. Mảnh ngang xương khẩu cái.
* Mặt trong của xoang còn gọi là nền của hốc xoang hay là vách mũi
xoang. Là một mảnh tứ giác có những cạnh gần bằng nhau:

Tĩnh mạch xoang sàng và xoang hàm tập trung theo ba nhóm: dẫn lưu
trước đổ vào tĩnh mạch mặt, dẫn lưu sau đổ vào tĩnh mạch bướm khẩu cái,
ngoài ra tĩnh mạch sàng còn đổ trực tiếp vào các tĩnh mạch nội sọ.
C. Bạch mạch
Hệ thống bạch huyết của xoang sàng và xoang hàm, nối liền với nhau
và cùng lưu thông với hệ bạch mạch của hốc mũi. Chúng đổ vào hạch dưới
hàm hoặc hạch thuộc dãy cảnh. Hệ bạch huyết của mòi xoang nghèo hơn hệ
bạch huyết của vòm mũi họng.
D. Thần kinh
- Thần kinh sàng: Chi phối cảm giác cho xoang sàng xuất phát từ dây thần
kinh tam thoa (dây V) bởi nhánh mũi của dây mặt Willis, nhánh mũi này cho hai
nhánh mũi trong và mũi ngoài cảm giác cho niêm mạc vùng sàng. Ngửi do các
dây thần kinh khứu giác chui qua mảnh sàng, xuất phát từ 1/3 trên hốc mũi.
- Thần kinh hàm: Do dây thần kinh tam thoa chi phối các mặt trong,
vùng dẫn lưu, góc sau trên mặt trong. Mặt mắt do nhánh thần kinh dưới ổ mắt.
Mặt sàn do thần kinh khẩu cái, bướm khẩu cái, thần kinh hàm trên.
1.2.3. Giải phẫu ứng dụng khối sàng hàm
Ung thư sàng hàm có khả năng lan tràn, xâm lấn vào các cấu trúc lân
cận bằng cách phát triển trực tiếp hoặc tạo các u nhầy xâm lấn. Tuỳ thuộc vào
vị trí lan từ xoang sàng hay xoang hàm mà có thể có các cách lan tràn khác nhau.
1.2.3.1. Lan từ xoang sàng

10
Ung thư từ đây có thể lan vào hốc mũi, vào các xoang lân cận, vào ổ
mắt, lên nền sọ.
* Lan lên trên
- Xoang trán: Xoang trán có liên hệ mật thiết với xoang sàng. U lan lên
đây có thể bằng con đường trực tiếp hoặc qua đường ống mũi trán. Tuy nhiên
u thực sự lan vào xoang trán thường chỉ thấy trong giai đoạn muộn. Các biểu
hiện ở xoang trán thường là viêm, u nhầy do bít tắc phức hợp lỗ ngách.

xương lân cận qua 4 cuống xương:
2 cuống chắc chắn: Xương gò má và xương khẩu cái
1 cuống yếu và dễ thâm nhập: Xương sàng
1 cuống ở phía sau: Xương bướm
U có thể phát triển từ niêm mạc xoang hoặc niêm mạc khẩu cái rồi từ
đó có thể lan theo các hướng sau:
* Lan lên trên (vào ổ mắt)
Trần xoang hàm là hàng rào xương có vùng yếu là đường lệ và ống
dưới ổ mắt (thường bị hở). Tuy nhiên, có một hàng rào khá chắc chắn là màng
xương phía ổ mắt.
* Lan ra trước
Phía trước xoang có một vùng xương yếu đó là hố nanh. Vùng này
có sức đề kháng kém. U thường lan qua vùng này để vào tổ chức phần
mềm ở phía trước.
* Lan ra sau
Ở đây là vùng đề kháng yếu với sự xâm lấn của u, có các tổ chức giàu
mạch máu, thần kinh hố chân bướm hàm và các cơ chân bướm.
* Lan vào trong
Đây là vùng dễ xâm lấn nhất với các khe hở xương tự nhiên của vách

12
mũi xoang và các lỗ thông xoang. Hàng rào tương đối chắc chắn như đã nêu
trên là vách ngăn.
1.2.4. CÊu tạo mô học của khối sàng hàm 13
- Niêm mạc khứu giác phủ mặt dưới mảnh sàng ở phía trước, phần trên của
vách ngăn và cuốn trên. Niêm mạc nhẵn, màu vàng nhạt gồm một lớp biểu mô trụ
tầng. Lớp này gồm ba loại tế bào: tÕ bào cảm nhận khứu giác, tế bào đỡ, tế bào
đáy.
- Phần còn lại của xoang sàng và xoang hàm được phủ bởi lớp niêm
mạc thở (niêm mạc Schneider) là lớp niêm mạc đỏ hồng được lợp bởi lớp

cổ nói chung và các ung thư vùng sàng hàm nói riêng. Tuy nhiên, có một số
yếu tố được coi là yếu tố nguy cơ bao gồm: các viêm mạn tính tại chỗ, các
trường hợp nhiễm HPV (vi rut sinh u nhó), EBV, yếu tố nghề nghiệp, thói
quen sinh hoạt như hút thuốc, uống rượu và một số yếu tố về gen, liên quan
tình trạng thai nghén [22, 23, 27, 36, 44].
1.3.2.1. Viêm nhiễm mạn tính tại chỗ
Vấn đề viêm nhiễm tại chỗ như viêm mũi xoang (VMX) mạn tính,
VMX mạn tính thoái hoá polyp, có nhiều ý kiến khác nhau: Bourguet [46]:
56%. J.Traser- Parareda [50] 33% liên quan tới ung thư sàng hàm. Người ta
cũng chưa phân biệt được rõ những trường hợp viêm mũi xoang mạn tính ung
thư hoá hay đó chính là biểu hiện sớm của một ung thư mà ta chưa phát hiện ra.
1.3.2.2. U nhú đảo ngược (Inverted Papilloma)
Các tác giả còn quan tâm tới một loại u lành tính có thể biến đổi thành
ác tính đó là các u nhú đảo ngược.
- U nhú đảo ngược xuất phát từ lớp biểu mô Schneider lót ở xoang và
thành ngoài hốc mũi, nên còn gọi là u nhú đảo ngược Schneider.

14
- Mô học của u nhú đảo ngược. Thể hiện cấu trúc biểu mô thuộc loại
chuyển tiếp nên còn gọi theo tên cũ là u nhú tế bào chuyển tiếp.
- U nhú đảo ngược khác u nhú thường: Các u nhú không chồi ra ngoài
mà găm sâu xuống lớp tổ chức phía dưới, nhưng không phá vỡ màng đáy.
1.3.2.3. Yếu tố nghề nghiệp
Ở châu Âu sự liên quan giữa ung thư sàng hàm với những người làm
nghề tiếp xúc với bụi gỗ đã được nhận thấy từ lâu. Theo TCYTTG, tỷ lệ mắc
bệnh cao ở những người tiếp xúc với bụi gỗ, đặc biệt là các loại gỗ cứng như
gỗ sồi. Đặc biệt sự gia tăng của các ung thư biểu mô tuyến ở các nếp niêm mạc
và thời gian xuất hiện u thường sau lần tiếp xúc đầu tiên khoảng 40 năm hoặc
lâu hơn. Một yếu tố nguy cơ khác trong việc làm gia tăng các ung thư sàng hàm
xuất hiện ở nhóm công nhân tiếp xúc với niken, crom trong công nghệ mạ hoặc

- Bệnh nhân đau trong hốc mắt hoặc dưới ổ mắt hoặc đau nửa đầu.
- Biểu hiện về mắt: Chảy nước mắt, nhìn đôi, nhiễm khuẩn ở mi mắt
tuyến lệ.
1.4.1.2. Triệu chứng thực thể
- Khám mũi: Không có gì đặc biệt, có thể thấy polyp một bên mũi.
+ Giai đoạn toàn phát
Cơ năng: Các triệu chứng gợi ý rõ rệt hơn.
- Dấu hiệu mũi: Ngạt mũi, xì mũi nhầy máu, chảy máu mòi một bên.
- Dấu hiệu mắt: Chảy nước mắt, nhìn đôi, nhìn mờ, lồi mắt, sưng nề
hốc mắt.
- Các triệu chứng đau: Đau trong hốc mắt, hốc mũi rõ rệt hơn, đau nửa
đầu, đau trán.
Thực thể:

16
- Mũi: Thấy u sùi ở khe giữa hoặc choán đầy hốc mũi màu đỏ hoặc tím
có thể thấy giả mạc phủ. U dễ chảy máu khi chạm phải.
- Mắt: Các u tầng trên triệu chứng về mắt nổi trội nhất. Có sự biến dạng
mặt chủ yếu ở gốc mũi, vùng trong hốc mắt, có thể thấy một khối đẩy lồi góc
trong mắt ranh giới không rõ, Ên hơi đau, mật độ chắc không đều.
Mi mắt sưng nề đỏ, nhất là mi dưới, có thể thấy xung huyết kết mạc mi.
Mắt đầy lồi ra ngoài và ra trước. Liệt vận nhãn hoặc nhìn đôi. Ên nhãn cầu
hơi đau. Mất cảm giác đau hoặc tê bì dưới ổ mắt.
+ Giai đoạn lan tràn: U phát triển từ xoang sàng có thể lan tràn vào ổ
mắt, hốc mũi, não, xoang trán, xoang bướm, nhưng hay gặp là:
- Lan tràn vào ổ mắt:
U phá vỡ thành trong ổ mắt, gây đẩy lồi mắt, chèn Ðp cơ thẳng trong gây
liệt vận nhãn, thấy phồng góc trong mắt nhiều, gây sụp mi.
Nặng hơn thị lực giảm (do ảnh hưởng thần kinh thị giác), có thể gây mù
cho người bệnh.

thâm nhiễm vào niêm mạc hốc mũi, niêm mạc vách ngăn. Một số trường hợp
u ăn thủng vách ngăn mũi lan sang bên đối diện.
Lan vào hố chân bướm hàm. Thâm nhiễm vào cơ chân bướm gây co thắt
nửa mặt, khít hàm. Tổn thương thần kinh hàm trên gây đau răng nửa hàm trên.
Có thể lan vào ổ mắt qua việc phá vỡ sàn ổ mắt.
Lan tràn phần mềm ngoài mặt: Sờ thấy u ngay dưới da. U dính vào da,
thâm nhiễm gây co kéo biến dạng, có hình sần da cam.
* U tầng dưới
+ Giai đoạn sớm: Ngoài các dấu hiệu gợi ý ở mũi giống u tầng giữa, còn có
các dấu hiệu răng miệng.
- Sưng nề chân răng 6, 7 lung lay răng do nhổ răng chỗ nhổ không liền,
dễ chảy máu hoặc có những nụ sùi.

18
- Có các biểu hiện khác quanh răng như: Viêm tấy lợi, quanh răng,
phồng vòm khẩu cái cứng hoặc phồng rãnh tiền đình lợi môi hoặc có lỗ thủng
hàm Õch nhá, xung quanh thâm nhiễm.
+ Giai đoạn toàn phát: Nổi bật là dấu hiệu răng, hàm Õch.
- Hố răng đầy nụ sùi, bẩn, giả mạc, dễ chảy máu. Răng bên cạnh lung
lay có thể rụng tự nhiên. Bờ lợi xung quanh loét hôi thối và chảy máu.
- U đẩy phồng hàm Õch rãnh tiền đình lợi môi một cách rõ rệt, gây biến
dạng hàm Õch và cung răng, sờ thấy mật độ không đều, Ên hơi đau, u có thể
loét, ăn lan ra vùng lợi và chân răng lân cận gây một ổ loét lớn.
+ Giai đoạn lan tràn
Có thể lan tràn giống như u tầng giữa như vào hốc mũi, hố chân bướm
hàm, da ngoài mặt Ngoài ra còn có thể thấy.
- Lan tràn ra phía sau về vòm khẩu cái mềm, gây đẩy phồng màu hầu.
- Lan tràn tới vùng răng số 8 hàm trên, hố chân bướm hàm gây khít hàm.
Ung thư trong giai đoạn muộn có thể lan tràn ra cả 3 tầng.
Ngoài ra ung thư còn có thể di căn xa tới hạch và các tạng khác trong cơ thể.

Ở tư thế này thực hiện các lớp cắt vuông góc với đường nối lỗ ống tai
ngoài tới điểm hố mắt ngoài (đường OM)(Orbito - Meatal) với các lớp cắt liên
tục từ bờ trước xoang trán đến bờ sau của xoang bướm độ dày lớp cắt 3mm.
* Chụp tư thế trục (Axial): Bệnh nhân nằm ngửa trên bàn, hai tay
buông xuôi theo người, đầu dựa trên giá đỡ.
Ở tư thế này các lớp cắt song song với đường OM, các lớp cắt liên tục
từ mào huyệt răng hàm trên tới đỉnh xoang trán độ dày lớp cắt 3mm. Đặc biệt,
trong các trường hợp bệnh nhân không thể ngửa đầu hết cỡ như trường hợp
bệnh nhân có đặt ống nội khí quản, bệnh nhân có tật ở đốt sống, bệnh nhân có
tổn thương đốt sống ta cần chụp bằng tư thế Axial sau đó có thể dựng lại
bằng tư thế Coronal nếu cần .
+ Hình ảnh giải phẫu chụp CT Scanner vùng sàng hàm [4]

20
- Lớp cắt trán (Coronal): Tư thế này cho phép đánh giá tốt về cấu
trúc giải phẫu bình thường và tổn thương theo mặt phẳng đứng ngang của
xoang là: mảnh sàng, bờ bên và bờ dưới của ổ mắt, cuốn mũi, thành hốc
mũi, các xoang đặc biệt là xoang sàng và xoang hàm, nền sọ, lỗ mũi sau và
thành họng.
Hình1.4. Hình ảnh giải phẫu trên phim
CT (tư thế Coronal)

4


Hình1.5. Hình ảnh giải phẫu trên
phim CT (tư thế Axial)

4


- U thâm nhiễm niêm mạc xoang, phá huỷ cấu trúc xương thành xoang làm
biến dạng xoang và u xâm lấn vào các tổ chức lân cận. Hay gặp u xoang xâm lấn
vào hốc mũi, phá huỷ các cuốn mũi, vách ngăn mũi. U xoang hàm phát triển ra
phía sau vào lỗ mũi sau vòm họng, hố chân bướm hàm và hố dưới thái dương, u
được nhận ra như một khối xâm lấn làm lớp mỡ bao bọc giữa các cơ bị mất do
sù lan tràn của các tế bào có tỷ trọng cao hơn mỡ trên cửa sổ mỡ. U phá huỷ
mảnh chân bướm hàm, u sàng hàm xâm lấn vào nền sọ xuyên qua trần sàng,
mảnh sàng lúc đó sẽ có hình ảnh đẩy phồng hoặc khuyết xương trần sàng, u có
thể xâm lấn vào thuỳ trán, hình ảnh nhu mô não bị xâm lấn ngấm thuốc cản
quang mạnh hơn vùng nhu mô não không bị tổn thương ở xung quanh. U sàng
hàm xâm lấn phá huỷ xương giấy họăc rãnh dưới hốc mắt, sàn hốc mắt xâm lấn
vào hốc mắt, hình ảnh khối tỷ trọng nhu mô mÒm lan vào chiếm chỗ, thâm
nhiễm các thành phần trong hốc mắt như: thần kinh thị giác, cơ vận nhãn gây lồi
mắt.
- Giá trị của chụp CT Scanner ở giai đoạn này là đánh giá chính xác sự

22
lan tràn của u để phân loại giai đoạn bệnh, giúp các nhà lâm sàng tiên lượng
bệnh và đưa ra chiến lược điều trị thích hợp cho từng bệnh nhân.
Trong chẩn đoán ung thư sàng hàm, tư thế Coronal đánh giá được sự xâm
lấn, đè đẩy theo thứ tự lần lượt từ trước ra sau của u vào các thành ổ mắt, thành
ngoài hốc mũi, nền sọ, khẩu cái, đây là các hướng lan căn bản của loại ung thư này.

Hình1.6. Hình ảnh tổn thương trên
phim CT (tư thế Coronal)

55


Hình 1.7. Hình ảnh tổn thương trên

- Ung thư biểu mô vảy typ nhó
- Ung thư biểu mô vảy typ dạng đáy
- Ung thư biểu mô vảy typ tế bào hình thoi
- Ung thư biểu mô vảy tuyến
- Ung thư biểu mô vảy tiêu gai
Ung thư dạng biểu mô lympho
Ung thư biểu mô không biệt hóa
Ung thư biểu mô tuyến
- Ung thư biểu mô tuyến typ ruột
- Ung thư biểu mô tuyến không phải typ ruột
Ung thư typ tuyến nước bọt
- Ung thư biểu mô dạng tuyến nang
- Ung thư biểu mô nang
- Ung thư dạng biểu bì nhầy
- Ung thư biểu mô- cơ biểu mô
- Ung thư biểu mô tế bào sáng cổ điển
- Ung thư cơ biểu mô
- Ung thư biểu mô với thành phần u tuyến đa hình
- Ung thư biểu mô tuyến đa hình độ ác tính thấp
U thần kinh nội tiết
- U cacxinoit điển hình
- U cacxinoit không điển hình
- Ung thư biểu mô tế bào nhỏ typ thần kinh nội tiết
1.4.3.2. Kỹ thuật nhuộm hóa mô miễn dịch
a, Nguyên lý chung: Trong số các kỹ thuật bổ trợ, hoá mô miễn dịch đang càng
ngày chứng tỏ là một công cụ hữu Ých, góp phần đắc lực cho các nhà bệnh học
nâng cao tính chính xác của chẩn đoán. Hiện nay, kỹ thuật này đang được áp
dụng rộng rãi trong các phòng xét nghiệm giải phẫu bệnh (GPB) trên thế giới để
chẩn đoán, tiên lượng và lựa chọn phương án điều trị tối ưu cho người bệnh [20,
34]. Trong chẩn đoán các ung thư, HMMD không những phát hiện sự biệt hóa

các phức hợp này thể hiện dưới dạng các thành tố có màu và để đạt được điều
này, người ta phải sử dụng các KT được đánh dấu với các chất hiện màu. Về

25
nguyên lý, hệ thống hiển thị này gồm 2 phần: KT bắc cầu (KT thứ 2), hệ
thống phóng đại và bắt màu. KT thứ hai là cầu nối KT thứ nhất với hệ thống
phóng đại và bắt màu, thực chất đó là KT chống globulin miễn dịch (Ig) của
vật chủ sản xuất ra KT thứ nhất.
Trong các phương pháp nhuộm HMMD, phương pháp Avidin- Biotin-
Complex (ABC) được sử dụng phổ biến nhất. Sử dụng phương pháp ABC,
KT thứ 2 phải được gắn với biotin. Hệ thống phóng đại và bắt màu gồm một
enzyme và chất màu. Enzyme được sử dụng rộng rãi là peroxidase được chiết
xuất từ rễ cây cải ngựa hoặc alkaline phosphatase (AP) chiết xuất từ vi khuẩn
E.Coli. Enzyme này được gắn với KT thứ 2 (gắn trực tiếp hoặc bằng cầu nối
hoá học như gắn enzyme với với KT thông qua cầu nối avidin và biotin). Chất
màu hiển thị hiện hay được sử dụng là hợp chất diaminobenzidin (DAB) vì nó
tạo ra màu nâu khá bền vững.
b, Một số dấu Ên miễn dịch thường được sử dụng trong chẩn đoán ung thư
sàng hàm
Cytokeratin (CK) là một nhóm gồm 19 polypeptid riêng biệt có trọng
lượng phân tử từ 40- 67 Kd. CK được phân bố trong biểu mô của nhiều loại tế
bào và u khác nhau. Sự biểu lộ của CK phụ thuộc vào loại tế bào và mức độ
biệt hoá. Những kháng thể đơn dòng với từng chủng loại của nó cho phép
phân loại sâu hơn những u biểu mô, nhưng quan trọng hơn, những kháng thể
đơn dòng này thường cho phép phân biệt những u biểu mô với những u không
phải biểu mô.
LCA (leucocyte common antigen, kháng nguyên chung bạch cầu) là mét
glycoprotein màng chỉ có ở các bạch cầu và được xác định trên các mẫu mô
đã chuyển đúc trong các khối nến. Nó được sử dụng trong chẩn đoán phân
biệt giữa u lymphô và những u không thuộc lymphô.


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status