ĐẶT VẤN ĐỀ
Viêm xoang là một quá trình viêm nhiễm liên quan đến niêm mạc của
một hoặc nhiều xoang [38]. Viêm xoang là một bệnh rất phổ biến trong
chuyên khoa Tai Mũi Họng ở Việt Nam và trên thế giới.
Theo thống kê của Viện Tai Mũi Họng Trung Ương thì tỷ lệ viêm xoang
ở người Việt Nam là 2-5% [1], [2], rất phổ biến trong nhân dân mà lứa tuổi
thường gặp nhất là khoảng 20 - 40 tuổi [34]. Theo báo cáo tại Hội Nghị
chuyên gia tổ chức tại Strasbourg (Pháp) năm 1999 cho biết, mỗi năm có ít
nhất 1 trong 7 người bị một đợt viêm mũi xoang do vi khuẩn như là nhiễm
trùng tự phát hoặc thứ phát sau đợt cảm lạnh [9].
Do cấu tạo phức tạp của các xoang trong khối xương mặt, do các xoang
chỉ được dẫn lưu qua các khe và ống rất hẹp vào hốc mũi, vì vậy viêm xoang
cấp kéo dài hoặc tái đi tái lại nhiều lần thì khả năng tiến triển thành mạn tính
rất cao.
Ngoài ra, mũi xoang còn tiếp giáp với nhiều dây thần kinh và mạch máu
nên viêm mũi xoang có thể gây nên nhiều biến chứng ở mắt, tai, họng, thanh
khí phế quản, viêm thị thần kinh hậu nhãn cầu, suy nhược cơ thể… [2].
Viêm mũi xoang còn chịu ảnh hưởng của khí hậu nhiệt đới, yếu tố tại
chỗ (vẹo vách ngăn, polype, cuốn mũi quá phát…), của những yếu tố gây dị
ứng khác nhau (bụi nhà, nấm mốc, hơi nhiệt, hơi ẩm, lông thú, hóa chất…)
[38]. Điều này lý giải tại sao viêm mũi xoang lại rất đa dạng về mặt bệnh lý.
Bệnh ảnh hưởng nhiều đến sức khỏe và đời sống sinh hoạt của nhân dân,
ảnh hưởng đến hiệu quả và năng suất lao động của cá nhân người bệnh và của
toàn xã hội.
Ở Huế, khí hậu luôn luôn thay đổi, nắng mưa thất thường nên bệnh lý
viêm xoang rất hay gặp [8]. Bệnh nhân đến khám với các triệu chứng của
1
viêm mũi xoang chiếm tỷ lệ cao trong số bệnh nhân đến khám và điều trị tại
Bệnh viện Trường Đại học Y Dược Huế cũng như Bệnh Viện Trung Ương
Huế.
Để chẩn đoán viêm xoang, ngoài việc khám lâm sàng, phim CT scan
liên tục với nhau, cùng chịu ảnh hưởng của tác nhân gây bệnh, trên thực tế
hiếm trường hợp viêm xoang mà không có viêm mũi [38].
Theo Boies L.R. (1964) đã nhận xét tỷ lệ viêm xoang gặp nhiều nhất ở
xoang sàng, tiếp theo là xoang hàm, xoang bướm và xoang trán ít gặp hơn.
Võ Tấn (1989) đã khẳng định rằng với các viêm xoang cấp tính nên điều
trị bằng nội khoa là chính, trong khi đó với viêm xoang mạn tính điều trị bằng
thuốc đóng vai trò thứ yếu [33].
Theo Nguyễn Duy Xuyên (2006), khi lựa chọn kháng sinh trong điều trị
viêm mũi xoang, thầy thuốc nên xem xét mức độ nặng nhẹ, tốc độ tiến triển
của bệnh và kháng sinh đã dùng [39]. Tuy nhiên, xu hướng hiện thời trong
điều trị viêm mũi xoang là điều trị bằng thuốc, bằng phẫu thuật và điều trị dị
ứng. Ba phương pháp này thường được bổ sung và phối hợp với nhau [38].
Năm 1898, với sự phát minh ra tia X thì việc chẩn đoán bệnh lý viêm
mũi xoang có thêm một bước tiến bộ quan trọng. Năm 1903-1906, Killian,
Coakley và E. Caldwell đã chụp X quang để chẩn đoán bệnh viêm mũi xoang.
3
Ngày nay, nhiều thành tựu mới trong lĩnh vực chẩn đoán và điều trị viêm
mũi xoang đã được áp dụng như: nội soi chẩn đoán mũi xoang, CT scan
xoang, phẫu thuật nội soi chức năng mũi xoang (FESS - Functional
Endoscopic Sinus Surgery)…càng ngày càng đem lại hiệu quả cao trong chẩn
đoán và điều trị bệnh lý viêm mũi xoang [27], [15], [38].
1.2. SƠ LƯỢC VỀ GIẢI PHẪU MŨI XOANG
1.2.1. Giải phẫu về mũi
Mũi là phần đầu của đường hô hấp, ở trung tâm của mặt gồm tháp mũi
và hố mũi [1], [2], [33].
1.2.1.1. Tháp mũi: gồm có phần cứng và phần mềm [29]
+ Phần cứng gồm có xương (hai xương chính mũi hình chữ nhật, nằm
ở hai bên rễ mũi và hình thành vòm hố mũi) và sụn (sụn tam giác, sụn cánh
mũi, sụn tứ giác của vách ngăn giúp cho mũi không bị bẹp xuống).
+ Phần mềm gồm có da, tổ chức liên kết và một số cơ nhỏ là các cơ
mũi và ăn thông với mũi bằng các lỗ thông mũi xoang [33].
Ở người trưởng thành có năm đôi xoang và được chia làm hai nhóm.
Nhóm xoang trước gồm xoang hàm, xoang trán, xoang sàng trước; các xoang
này đều có lỗ thông với hốc mũi đổ vào khe giữa nên các chất xuất tiết đều đổ
ra mũi trước. Nhóm xoang sau gồm xoang sàng sau, xoang bướm; các xoang
này có lỗ thông với hốc mũi đổ vào khe trên nên chất xuất tiết thường chảy
xuống họng [13].
5
1.2.2.1. Xoang trán
Xoang trán là một tế bào đặc biệt của hệ thống sàng. Xoang trán không
có ngay khi sinh mà bắt đầu xuất hiện vào năm thứ hai do sự thông khí ở phần
trước của ngách trán hoặc tế bào sàng trước [37]. Xoang trán giống hình tháp
dựng đứng có ba mặt (trước, sau và trong) và một nền có hai phần; phần
ngoài liên hệ với trần hố mắt, phần trong thấp hơn và liên hệ với phễu sàng.
Xoang trán thông với mũi bởi ống mũi trán, vì đường đi dài và đi ngoằn
ngoèo nên ống mũi trán dễ bị tắc hơn lỗ thông của các xoang khác [33].
1.2.2.2. Xoang hàm
Là hốc nằm trong xương hàm trên, ở hai bên hốc mũi, dưới hai hốc mắt
và trên vòm miệng. Xoang hàm có ba mặt (trên, trước và sau), một nền (có
liên quan đến các răng từ răng số 3 đến răng số 6 hàm trên) và một đỉnh.
Xoang hàm thông với hốc mũi ở khe giữa bởi một lỗ gọi là lỗ thông mũi
xoang đổ ra khe mũi giữa do đó sự dẫn lưu hơi kém [33].
1.2.2.3. Xoang sàng
Hệ thống xoang sàng là cấu trúc phức tạp nhất gồm khoảng một chục cái
hốc nhỏ bằng hạt ngô gọi là tế bào sàng, chúng tập trung trong mê đạo sàng ở
giữa ổ mắt và hốc mũi [20]. Xoang sàng được chia làm hai phần:
- Xoang sàng trước: gồm nhiều hốc nhỏ phân cách nhau bởi các vách
xương mỏng gọi là tế bào sàng. Xoang sàng trước liên quan với xoang hàm,
xoang trán, hốc mắt và đại não. Xoang có lỗ dẫn lưu ra mũi ở khe giữa.
- Xoang sàng sau: gồm nhiều tế bào sàng đi ngang dưới nền sọ với
đi qua bản lưới của xương sàng đến vùng khứu giác của mũi và cuối cùng là
chức năng giao cảm [29].
7
1.3. SINH LÝ CỦA CÁC XOANG
Mũi và xoang bảo đảm 5 chức năng sau:
+ Chức năng hố hấp: là chức năng cơ bản của mũi xoang gồm chức
năng thông khí, làm ấm, làm ẩm và làm sạch khí [29].
+ Chức năng dẫn lưu: với các tế bào lông chuyển và các tế bào tiết tạo
thành hệ thống nhầy – lông chuyển để tống ra khỏi mũi xoang các “vật lạ”
xâm nhập và đưa ra phía sau hốc mũi xuống họng.
+ Chức năng miễn dịch gồm miễn dịch thể dịch và miễn dịch tế bào.
+ Chức năng ngửi là vai trò của vùng nhạy cảm khứu giác với các tế
bào Schultze [22].
+ Chức năng phát âm gồm chức năng thông khí với vai trò của mũi và
chức năng cộng hưởng của hốc mũi và xoang hàm.
1.4. NGUYÊN NHÂN CỦA VIÊM MŨI XOANG
Có nhiều nguyên nhân gây viêm mũi xoang nhưng cho tới ngày nay thì
người ta vẫn đề cập đến các nguyên nhân chính như sau:
1.4.1. Nhiễm khuẩn
Đây là nguyên nhân chiếm tỷ lệ cao nhất, thường thứ phát sau viêm
họng, viêm amygdale, viêm mũi, các bệnh răng miệng hoặc các bệnh nhiễm
khuẩn từ đường hô hấp trên do virut, sởi, cảm cúm… [21]. Sự bội nhiễm này
thường do các chủng vi khuẩn như tụ cầu khuẩn, Haemophilus influenzae và
phế cầu khuẩn… [39], [43]. Cần chú ý tới đường lan truyền qua răng đặc biệt
là các răng số 4,5,6,7 hàm trên có liên quan mật thiết với xoang hàm; đây là
một nguyên nhân viêm xoang ở trẻ em đáng chú ý [33].
1.4.2. Dị ứng
Thể viêm mũi xoang dị ứng rất hay gặp và thường kèm theo bội nhiễm.
Thể này hay gặp trên cơ địa dị ứng (theo mùa trong năm, tiền sử hen phế
quản, chàm, nổi mề đay…), các dị ứng nguyên hay gặp là nấm mốc, mạt, bụi
Tắc nghẽn phức hợp lỗ - ngách
Tình trạng thiếu ôxy
Giãn mạch Lông chuyển bất động Dịch nước giảm
Tăng tiết dịch Chấy nhầy ứ đọng Chất nhầy đặc lại
Hình thành hỗn hợp dịch quánh ở trong xoang
Sơ đồ bệnh sinh viêm xoang từ tình trạng tắc nghẽn phức hợp lỗ - ngách
1.6. TRIỆU CHỨNG LÂM SÀNG CỦA VIÊM MŨI XOANG
1.6.1. Triệu chứng của viêm mũi xoang cấp
1.6.1.1. Triệu chứng toàn thân
Sốt 38-39
o
C, người mệt mỏi, kém ăn, suy nhược.
1.6.1.2. Triệu chứng cơ năng
Ở các thể viêm xoang cấp, bệnh nhân có thể có các triệu chứng cơ năng
thường gặp như đau dữ dội ở trán, má hoặc thái dương; chảy mũi, một bên
hoặc hai bên, lúc đầu trong về sau đục vàng, đôi khi có lẫn máu, chảy nhiều
bên viêm xoang; nghẹt mũi, hai bên hoặc nghẹt mũi bên viêm đặc biệt khi
nằm vào ban đêm; giảm hoặc mất khứu giác [1], [2].
1.6.1.3. Triệu chứng thực thể
Thăm khám trên bệnh nhân có thể phát hiện: niêm mạc mũi đỏ rực, các
cuốn mũi sung huyết phù nề, chấm Éphédrine thì niêm mạc co lại và mủ chảy
ra ở khe giữa (viêm xoang trước). Soi mũi sau, có mủ chảy từ khe trên và
xuống thành sau họng (viêm xoang sau). Ấn các điểm xoang như điểm hố
10
nanh với xoang hàm, Grunwald ở bờ trong trên hố mắt với xoang sàng, Ewing
ở trước xoang trán đối với xoang trán thì bệnh nhân có thể van đau khi ấn [2].
1.6.2. Triệu chứng của viêm mũi xoang mạn tính
1.6.2.1. Triệu chứng toàn thân
+ Một số hình ảnh viêm xoang trên phim CT scan [13], [27], [31], [32]
- Viêm xoang cấp: ít được khảo sát bằng CT scan, nếu có có thể thấy
hình ảnh mức hơi, dày niêm mạc.
- Viêm xoang mạn: thấy được hình ảnh bệnh lý của xoang như mờ dày
niêm mạc, polype trong xoang hoặc ứ đọng chất xuất tiết.
- Hình ảnh vẹo vách ngăn, túi hơi cuốn giữa, hình ảnh tắc nghẽn của
phức hợp lỗ - ngách
1.7. CHẨN ĐOÁN VIÊM MŨI XOANG
Muốn chẩn đoán viêm mũi xoang, có thể dựa vào một số dấu hiệu sau:
+ Dấu hiệu lâm sàng: rất quan trọng, cần khai thác tỉ mỉ, khám xét chu
đáo, đặc biệt trong viêm mũi xoang dị ứng cần khai thác tiền sử hen phế quản,
chàm, nổi mề đay… [4], [38].
+ Các xét nghiệm cận lâm sàng:
- Soi bóng mờ: hiện nay ít dùng [2]
- Chọc xoang hàm vừa chẩn đoán vừa điều trị
- X quang cổ điển với phim Blondeau - Hirtz
- Nội soi mũi xoang
- CT scan xoang đắt tiền nhưng chính xác
12
1.8. CÁC BIẾN CHỨNG CỦA VIÊM MŨI XOANG
1.8.1. Biến chứng đường hô hấp: thường gặp các biến chứng viêm họng
mạn tính (bệnh nhân hay bị rát họng, vướng họng. khám có thể thấy niêm mạc
họng đỏ, xuất tiết, amygdale khẩu cái cũng sưng đỏ, hai trụ trước trụ sau cũng
đỏ [11]).Viêm thanh khí phế quản; gặp trong vêm xoang hàm hay viêm xoang
sàng mạn tính, bệnh nhân đi khám vì ho, khạc đờm, khi soi mũi thấy mủ ở
khe giữa, chụp phim thấy xoang mờ [2], [11].Viêm tai giữa xuất tiết tắc vòi;
thường do viêm xoang sau, mủ dịch chảy ra từ lỗ mũi sau gây viêm lỗ vòi
Eustach gây viêm tai giữa thanh dịch mủ nhầy hay mủ mạn [21].
1.8.2. Biến chứng ổ mắt: Ổ mắt tiếp giáp với các xoang mặt ở cả 3 phía
trong, dưới và trên, vách xương ngăn cách các xoang này với ổ mắt rất mỏng
1.10. Điều trị ngoại khoa
+ Các phẫu thuật ở mũi
- Nếu vẹo vách ngăn thì xén vách ngăn dưới niêm mạc - phẫu thuật
Killian hoặc phẫu thuật Hajek.
- Nếu cuốn dưới quá phát thì cắt bỏ bằng kẹp Luc, bằng thòng lọng
hoặc cắt bỏ dưới niêm mạc cốt xương theo phẫu thuật của House [24].
- Phẫu thuật cắt cuốn giữa thường được chỉ định phối hợp với dẫn lưu
xoang trong trường hợp có túi hơi cuốn giữa.
- Nếu có polype mũi thì cắt bỏ bằng thòng lọng hoặc bằng kẹp Luc
trước khi mổ xoang. Tuy nhiên, điều trị tại chỗ kháng viêm là cơ bản, tránh
nguy cơ tái phát của polype mũi [10].
+ Các phương pháp phẫu thuật xoang
- Đối với xoang hàm: chọc súc rửa xoang hàm trong viêm xoang hàm
xuất tiết đơn thuần, chống chỉ định trong viêm cấp [21]. Nạo mổ dẫn lưu
14
xoang trong viêm xoang hàm mạn tính mủ đặc biệt ở trẻ em. Phẫu thuật tiệt
căn xoang hàm (phẫu thuật Caldwell - Luc), chỉ định trong các viêm xoang
cấp và mạn [1], [2], [19]. Ngoài ra còn có các phẫu thuật khác như phương
pháp Claoué, phương pháp Denker nhưng tốt nhất và triệt để hơn cả là phẫu
thuật tiệt căn [5], [41].
- Đối với xoang trán: có thể chọc thông xoang trán hoặc phương pháp
Vacher hoặc phẫu thuật tiệt căn xoang trán trong viêm mạn tính có ứ tắc mủ.
- Đối với xoang sàng: có thể phẫu thuật nạo sàng hàm trong viêm
xoang sàng mạn kèm thoái hóa polype, viêm xoang có biến chứng hoặc mổ
nạo sàng qua đường ngoài trong u vùng sàng, chấn thương đầu sọ [24].
- Đối với xoang bướm: có 3 phương pháp tùy thuộc đường đi: đường
qua hốc mũi đơn thuần, đường qua khe sàng sau, đường qua vách ngăn (phẫu
thuật Ségura) [33].
- Đối với viêm đa xoang: chủ yếu áp dụng phương pháp Pietrantoni -
De Lima [33].
2.2.3. Các chỉ tiêu nghiên cứu
2.2.3.1. Các đặc điểm chung
Tuổi - Giới - Nghề nghiệp - Địa dư
2.2.3.2. Nguyên nhân của viêm xoang
- Nguyên nhân: do virút, do nhiễm khuẩn, do dị ứng, do chấn thương.
16
Nếu do nguyên nhân nhiễm khuẩn chúng tôi sẽ xác định tiêu điểm từ
viêm họng, viêm VA, viêm amygdale hay sâu răng viêm lợi.
- Các yếu tố thuận lợi của viêm xoang:
+ Yếu tố môi trường: khói thuốc lá, bụi, hóa chất, hơi độc, điều kiện
nhà ở chật chội thiếu vệ sinh, môi trường có độ ẩm cao…
+ Yếu tố tại chỗ: vẹo vách ngăn, polype mũi, cuốn dưới quá phát…
+ Yếu tố toàn thân: suy nhược cơ thể, sức chống đỡ kém, rối loạn
chuyển hóa nước, muối, bệnh lý mạn tính (lao, đái tháo đường, viêm phế quản
mạn tính…)
2.2.3.3. Đặc điểm lâm sàng
- Thời gian viêm xoang: tính từ khi có các triệu chứng cơ năng về mũi
xoang đến thời điểm thăm khám lúc vào viện.
- Triệu chứng toàn thân: bình thường, sốt, mệt mỏi gầy sút.
- Triệu chứng cơ năng: nhức đầu; chảy mũi, có thể chảy mũi trước hoặc
chảy mũi sau hoặc cả chảy mũi trước và sau; chất xuất tiết có thể gặp là dịch
trong, dịch nhầy, dịch nhầy lẫn mủ, dịch mủ thối hoặc thậm chí có khi còn có
dịch lẫn máu; nghẹt mũi thường gặp nghẹt mũi một bên hoặc cả hai bên; ngứa
mũi hắt hơi.
- Triệu chứng thực thể:
+ Ấn điểm đau xoang: điểm hố nanh, điểm Grunwald, điểm Ewing.
+ Soi mũi: soi mũi trước và soi mũi sau: khám thông thường và khám
nội soi (khi khám bằng dụng cụ thông thường không rõ).
- Khám thông thường: Bộ khám tai mũi họng thông thường: đèn
Clar và các dụng cụ khám mũi, banh mũi, họng, đè lưỡi, gương soi mũi sau.
phát kéo dài ít nhất 7 ngày.
- Theo vị trí tổn thương: viêm xoang một bên (phải, trái) hay hai bên.
18
2.2.3.5. Hình ảnh tổn thương trên phim CT scan
Phim CT scan xoang được chụp theo hai bình diện trán (coronal) và
ngang (axial), cửa sổ xương, không tiêm thuốc cản quang, chiều dày các nhát
cắt khoảng 5mm.
+ Đánh giá các tổn thương trên phim CT scan xoang bao gồm:
- Vị trí tổn thương: một bên (phải, trái) hoặc hai bên.
- Xoang bị tổn thương: xoang trán, xoang hàm, xoang sàng trước,
xoang sàng sau, xoang bướm.
- Mức độ mờ trên phim: hình ảnh mờ dày niêm mạc, mờ không
toàn bộ hay mờ toàn bộ xoang.
- Ghi nhận các hình ảnh bất thường khác trên phim: như hình ảnh túi
hơi cuốn giữa, mỏm móc quá phát, vẹo vách ngăn, polype trong xoang.
+ Chia độ viêm xoang và cho điểm theo phim CT scan xoang:
Dựa theo thang điểm của Lund-Mackay của Hội Tai Mũi Họng và
Phẫu Thuật đầu cổ Mỹ kết hợp với Viện nghiên cứu đánh giá sức khỏe Hoa
Kỳ ban hành năm 1998. Đây là cách cho điểm và chia mức độ theo CT scan
xoang được nhiều tác giả công nhận và sử dụng [8], [28], [42], [45].
Bảng tiêu chuẩn cho điểm theo phim chụp CT scan xoang
Vị trí Bình thường
Mờ không toàn
bộ
Mờ toàn bộ
Xoang trán 0 1 2
Xoang hàm 0 1 2
Xoang sàng trước 0 1 2
Xoang sàng sau 0 1 2
Xoang bướm 0 1 2
+ viêm mũi xoang có polype to làm tắc nghẽn dẫn lưu và thông khí
các xoang không đáp ứng với liệu pháp steroid
+ có biến chứng u nhầy xoang trán (Mucocele)
20
+ viêm mũi xoang hồi viêm tái phát 4 lần/năm trở lên
+ viêm mũi xoang mạn không đáp ứng với điều trị nội khoa
* Điều trị thực tế ở bệnh nhân (nội khoa, ngoại khoa).
* Trong nghiên cứu này chúng tôi chỉ khảo sát một số đặc điểm trong
phẫu thuật như sau: phương pháp phẫu thuật (xén vách ngăn, mổ xoang hay
cả hai), đường mổ (đường mũi, đường ngoài hay đường nội soi mũi xoang),
mức độ phẫu thuật ở các xoang (trán, hàm, sàng, bướm), các phẫu thuật khác
kèm theo (cắt đầu cuốn giữa, cắt túi hơi cuốn giữa, cắt polype).
2.2.4. Xác định các mối liên quan
+ Liên quan giữa các đặc điểm lâm sàng, hình ảnh tổn thương trên phim
CT scan trong chẩn đoán bệnh viêm xoang.
+ Liên quan giữa các đặc điểm lâm sàng, hình ảnh tổn thương trên phim
CT scan trong chỉ định điều trị viêm xoang.
So sánh kết quả nghiên cứu của chúng tôi với kết quả nghiên cứu của
các tác giả khác.
2.2.5. Phương pháp xử lý số liệu
- Số liệu được nhập và xử lý số liệu bằng phần mềm Epi Ifo 2002.
- Lập các bảng, các biểu đồ để tổng hợp và phân tích số liệu.
- Đánh giá: p > 0,05 sự khác biệt không có ý nghĩa thống kê
p < 0,05 sự khác biệt có ý nghĩa thống kê
p < 0,01 sự khác biệt rất có ý nghĩa thống kê21
Chương 3
KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU
có ý nghĩa thống kê (p < 0,05).
Biểu đồ 3.2: Tỷ lệ viêm xoang theo thời gian mắc bệnh (n=100)
Đại đa số bệnh nhân (85%) có thời gian mắc bệnh ≥ 2 năm, cao hơn tỷ lệ
bệnh nhân mắc bệnh ≤ 2 năm (15%); sự khác biệt này rất có ý nghĩa thống kê
(p < 0,01).
3.2. ĐẶC ĐIỂM LÂM SÀNG
23
3.2.1. Nguyên nhân
Bảng 3.3: Tỷ lệ các nguyên nhân gây viêm xoang (n=100)
Nguyên nhân Số bệnh nhân Tỷ lệ %
Vi khuẩn
(82 bệnh nhân, 82%)
Viêm họng 48 48
Viêm mũi 36 36
Viêm amygdale 33 33
Sâu răng viêm lợi 0 0
Dị ứng 56 56
Vi rút 2 2
Chấn thương 0 0
Nguyên nhân do vi khuẩn chiếm tỷ lệ cao nhất 82%, kế đến là dị ứng
(56%), thấp nhất là do vi rút (2%) và không có bệnh nhân nào trong nghiên
cứu của chúng tôi có nguyên nhân do chấn thương. Trong nguyên nhân vi
khuẩn, cao nhất là do viêm họng (48%), kế đến là do viêm mũi (36%), thấp
nhất là do viêm amygdale (33%). Các sự khác biệt này đều rất có ý nghĩa
thống kê (p < 0,01).
3.2.2. Yếu tố thuận lợi của viêm xoang
Bảng 3.4: Tỷ lệ các yếu tố thuận lợi của viêm xoang (n = 100)
Yếu tố thuận lợi Số bệnh nhân Tỷ lệ %
Yếu tố tại chỗ
(79 bệnh nhân, 79%)
Khịt khạc 89 89
Ngứa mũi hắt hơi 56 56
Các triệu chứng cơ năng đều chiếm tỷ lệ cao: nhức đầu (96%), tắc mũi
(94%), chảy mũi trước (90%), khịt khạc (89%) và ngứa mũi hắt hơi (56%).
Bảng 3.7: Tỷ lệ các vị trí nhức đầu ở bệnh nhân viêm xoang (n=100)
Vị trí nhức đầu Số triệu chứng Tỷ lệ %
Trán 46 46
Đỉnh 32 32
Chẩm 14 14
Thái dương 20 20
Lan tỏa 30 30
Nửa đầu 4 4
Hố nanh 4 4
25