BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO BỘ Y TẾ
ĐẠI HỌC Y DƯỢC THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
NGUYỄN TUẤN NGHIÊN CỨU ĐẶC ĐIỂM LÂM SÀNG,
HÌNH ẢNH CẮT LỚP ĐIỆN TOÁN,
VÀ KẾT QUẢ ĐIỀU TRỊ PHẪU THUẬT
NHỒI MÁU RUỘT DO TẮC MẠCH MẠC TREO
Chuyên ngành: NGOẠI – TIÊU HÓA
Mã số: 62.72.07.01
TÓM TẮT LUẬN ÁN TIẾN SĨ Y HỌC
THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH – 2014
Công trình được hoàn thành tại:
ĐẠI HỌC Y DƯỢC THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
tính được chẩn đoán và điều trị đặc hiệu thường ở giai đoạn ruột đã
có nhồi máu; tuy nhiên, đa số trường hợp lại được chẩn đoán trong
mổ.
Tại Việt Nam các nghiên cứu về chẩn đoán và điều trị nhồi
máu ruột do tắc mạch mạc treo (TMMT) còn rất ít. Các nghiên cứu
còn chưa hệ thống hóa các triệu chứng lâm sàng và cận lâm sàng,
chưa đánh giá được giá trị của chụp cắt lớp điện toán (CCLĐT) trong
chẩn đoán và chưa có nghiên cứu theo dõi kết quả điều trị phẫu thuật
nhồi máu ruột do TMMT. Các mục tiêu nghiên cứu của đề tài gồm:
1. Xác định các đặc điểm lâm sàng của nhồi máu ruột do TMMT
2. Xác định giá trị của CCLĐT trong chẩn đoán ở bệnh nhân mà lâm
sàng nghi ngờ bị nhồi máu ruột do TMMT
3. Đánh giá kết quả điều trị phẫu thuật của nhồi máu ruột do TMMT.
2. Tính cấp thiết của đề tài
TMCB mạc treo chiếm khoảng 0,1% tổng số bệnh nhân
(BN) nhập viện và có xu hướng tăng lên dần, tỉ lệ tử vong lên đến
khoảng 30% đến 90% tùy thuộc vào nguyên nhân và giai đoạn bệnh.
Hầu hết BN TMCB mạc treo cấp tính được chẩn đoán và điều trị đặc
hiệu ở giai đoạn ruột đã có nhồi máu, hoại tử. Tuy ở giai đoạn nhồi
máu ruột, nhưng các phương tiện cận lâm sàng được thực hiện trong
cấp cứu như xét nghiệm máu, siêu âm bụng, X quang bụng không
sửa soạn (XQBKSS) thường không giúp khẳng định chẩn đoán và
đưa ra quyết định điều trị. Gần đây, CCLĐT được sử dụng rộng rãi,
là phương tiện chẩn đoán đáng tin cậy, cung cấp thông tin về toàn bộ
tình trạng ổ bụng trong một thời gian ngắn; tuy nhiên, giá trị của
phương pháp này trong chẩn đoán nhồi máu ruột do TMMT vẫn còn
nhiều tranh cãi. Ngoài ra, hiện nay tại Việt Nam chưa có nghiên cứu
nào theo dõi được kết quả điều trị phẫu thuật nhồi máu ruột do
TMMT. Do vậy, đề tài nghiên cứu có tính thời sự và cần thiết.
3. Những đóng góp của luận án
ở phía xa có xu hướng nhỏ dần đi một ít.
1.1.2. Huyết khối động mạch mạc treo
Những tổn thương tắc nghẽn do xơ vữa ĐM thường xảy ra
tại nguyên ủy, hoặc rất gần chỗ xuất phát của các ĐM mạc treo.
Huyết khối làm bít phần lòng còn lại của ĐM mạc treo bị hẹp là
nguyên nhân gây ra khoảng 25% các TH TMCB mạc treo cấp tính.
Tình trạng này thường xảy ra sau một khoảng thời gian bị hạ huyết
áp, giảm thể tích tuần hoàn, mà mất nước là một trong những nguyên
nhân thường gặp ở những BN lớn tuổi.
1.1.3. Huyết khối tĩnh mạch mạc treo
Sự hiện diện của huyết khối trong hệ thống TM cửa và TM
MTTT có thể gây ra TMCB ruột, đe dọa khả năng sống của ruột bị
ảnh hưởng. Vì tuần hoàn bàng hệ TM mạc treo rất phong phú, đặc
biệt là các cung TM (venous arcades) và các mạch thẳng (vasa recta),
nên phần lớn các TH có huyết khối TM mạc treo không dẫn đến
TMCB mạc treo nặng. Tuy nhiên, nhồi máu ruột do huyết khối TM
mạc treo chiếm 5% đến 10% TMCB mạc treo cấp tính. 1.2. Biểu hiện lâm sàng
Biểu hiện lâm sàng của TMCB mạc treo cấp tính rất đa dạng,
tùy thuộc vào nguyên nhân và giai đoạn bệnh.
Ở giai đoạn sớm của TMCB mạc treo cấp tính do thuyên tắc
hay huyết khối ĐM MTTT, BN thường có đau giữa bụng khởi phát
đột ngột, đau kiểu quặn thắt liên tục kèm với nôn ói và/ hoặc tiêu
chảy ngay tức thì. Triệu chứng đau thường không tương xứng với
các dấu hiệu lâm sàng khi thăm khám. Các TH thuyên tắc ĐM
MTTT thường xảy ra ở BN có biến cố thuyên tắc ĐM trước đây,
rung nhĩ, mới xảy ra nhồi máu cơ tim, bệnh tim hậu thấp, có van tim
nhân tạo, có can thiệp qua mạch máu gần đây. Còn các TH huyết
Hơi trong thành ruột và hơi trong TM cửa-TM mạc treo là các dấu
hiệu hiếm gặp nhưng đặc hiệu hơn của TMCB ruột cấp tính, hơi
trong thành ruột thấy ở 6-28% các TH, và hơi trong TM cửa-TM mạc
treo có ở 3-14% các TH TMCB mạc treo cấp tính.
Giãn lòng ruột – Dấu hiệu giãn lòng ruột và/ hoặc các mức
khí-dịch là khá thường gặp trong nhồi máu ruột cấp tính, chiếm
khoảng 56%-91% các TH.
Tắc ruột – Trong nghiên cứu của Taourel và cs, 10% BN
nhồi máu ruột do TMMT có dấu hiệu tắc ruột.
Phù mỡ mạc treo và dịch ổ bụng – Phù mỡ mạc treo
(mesenteric fat stranding) và dịch ổ bụng cũng là các dấu hiệu
CCLĐT không đặc hiệu trong TMCB ruột cấp tính. Trong nhồi máu
mạc treo cấp tính, phù mỡ mạc treo hiện diện ở 58% đến 69% TH và
dịch ổ bụng xuất hiện trong khoảng từ 49% đến 88% các TH.
Dấu hiệu trên mạch máu mạc treo – Trên hình ảnh CCLĐT
có tiêm thuốc tương phản ở thì ĐM, cục thuyên tắc và huyết khối
biểu hiện là những chỗ khuyết thuốc trong ĐM MTTT và các nhánh
của nó; ngoài ra, một dấu hiệu gián tiếp có thể thấy là kích thước
ĐM MTTT lớn hơn TM MTTT. Khả năng phát hiện cục thuyên tắc
hoặc huyết khối trong ĐM mạc treo là từ 18% đến 88%.
Trên hình ảnh CCLĐT có tiêm thuốc tương phản ở thì TM
cửa, huyết khối trong TM MTTT, TM cửa và TM lách biểu hiện là
một vùng đậm độ thấp được bao quanh bởi một đường viền của
thành mạch máu bắt cản quang. Huyết khối trong lòng TM MTTT có
thể được khẳng định bởi CCLĐT trên 90% TH nhồi máu ruột do
huyết khối TM MTTT.
1.4. Các phương pháp điều trị phẫu thuật tắc mạch mạc treo
1.4.1. Phẫu thuật lấy huyết khối động mạch mạc treo tràng trên
Năm 1951, Klass là người đầu tiên báo cáo TH lấy huyết
khối trong ĐM MTTT giúp tái tưới máu ruột thành công, và tránh
máu ruột do TMMT.
2.1.2. Tiêu chuẩn loại trừ
- BN có chẩn đoán ra viện là TMMT nhưng không được điều
trị phẫu thuật.
- BN có chẩn đoán ra viện là TMMT nhưng mô tả phẫu thuật
không rõ ràng là tắc ĐM hay tắc TM mạc treo.
2.2. Phương pháp nghiên cứu
2.2.1. Loại hình nghiên cứu: Nghiên cứu loạt ca, đoàn hệ cho mục
tiêu (1) và (3), nghiên cứu bệnh chứng cho mục tiêu (2).
2.2.2. Thu thập số liệu
Tất cả các bệnh án được ghi nhận chi tiết về thời điểm khởi
bệnh, triệu chứng cơ năng, thực thể, toàn thân, thời điểm CCLĐT,
dấu hiệu CCLĐT, chẩn đoán của CCLĐT, chẩn đoán trước mổ,
thương tổn khi mổ (vị trí TMMT, mức độ hoại tử ruột…), phương
pháp phẫu thuật, điều trị sau mổ, biến chứng, tử vong, thời gian
nằm viện.
Theo dõi lâu dài sau mổ: Có 27 BN còn sống sau mổ, 2 TH
mất liên lạc sau mổ 2 tháng và 3 tháng. Chúng tôi theo dõi được 25
BN đến khi kết thúc nghiên cứu là tháng 05 năm 2012. Có 5 TH
(20%) tử vong trong thời gian theo dõi. Đa số TH chúng tôi phỏng
vấn qua điện thoại, có 2 TH chúng tôi đến nhà để khám lại BN.
2.2.3. Người đọc phim chụp cắt lớp điện toán
- Bác sĩ khoa chẩn đoán hình ảnh bệnh viện Chợ Rẫy đọc
phim trước mổ (không biết kết quả mổ).
- Người làm nghiên cứu đọc lại phim trên cơ sở đối chiếu
lâm sàng, hình ảnh CCLĐT với thương tổn khi mổ ở tất cả các BN.
- Tất cả các dấu hiệu ghi nhận được trên hình ảnh CCLĐT
đều được tham khảo và đồng thuận của bác sĩ có nhiều kinh nghiệm
của khoa chẩn đoán hình ảnh bệnh viện Chợ Rẫy (không biết kết quả
tắc ĐM (34 TH: 70,8%) và nhồi máu ruột do tắc TM (14 TH:
29,2%). Nhóm tuổi thường gặp nhất là 70-79 tuổi. Tuổi nhỏ nhất: 24,
tuổi lớn nhất: 88, tuổi trung bình: 56 ± 19, trung vị (khoảng tứ phân
vị) là 55 (42; 76) tuổi. Có 20 BN dưới 50 tuổi (41,7%)
29 TH (60,4%) là nam và 19 TH (39,6%) là nữ. Tỉ lệ nam/nữ
vào khoảng 1,5/1. Tuổi trung bình của nhóm BN có nguyên nhân tắc
TM là 39 ± 13 (thấp nhất là 24 tuổi, cao nhất là 75 tuổi) và của nhóm
tắc ĐM là 66 ± 16 tuổi (thấp nhất là 37 tuổi, cao nhất là 88 tuổi).
Bảng 3.1. So sánh tuổi, giới tính và thời gian đến viện theo nhóm
nguyên nhân
Đặc điểm
Tổng số
(n = 48)
Tắc ĐM
(n = 34)
Tắc TM
(n = 14)
Giá trị p
Trung vị tuổi
55 (42-76)
73 (50-78)
37 (26-44)
< 0,001*
Giới
Nam
29 (60,4%)
18 (52,9%)
11 (78,6%)
0,099
Nữ
tắc ĐM ngoại biên đồng thời với tắc ĐM mạc treo. Còn trong nhóm
tắc TM thì không có TH nào có tắc TM đồng thời.
- Bệnh kèm: 34/48 TH (70,8%) có bệnh kèm (Bảng 3.5).
Ngoài ra, trong nhóm BN nhồi máu ruột do nguyên nhân tắc TM mạc
treo có 1 TH đang mang thai 7 tháng, 1 TH mắc hội chứng thận hư.
Bảng 3.5. So sánh bệnh kèm giữa hai nhóm
Tình trạng
Tổng số
(n = 48)
Tắc ĐM
(n = 34)
Tắc TM
(n = 14)
Giá trị p
Rung nhĩ
19 (39,6%)
19 (55,9%)
0
< 0,001
Bệnh van tim
10 (20,8%)
10 (29,4%)
0
0,023
Bệnh tim TMCB
9 (18,8%)
7 (20,6%)
2 (14,3%)
1
Nhóm BN tắc ĐM có tỉ lệ bị rung nhĩ, tăng huyết áp cao hơn
nhóm BN tắc TM có ý nghĩa (phép kiểm
2
, p < 0,001). Cũng vậy, tình
trạng mắc bệnh van tim ở nhóm BN tắc ĐM cao hơn nhóm BN tắc TM
có ý nghĩa (phép kiểm Fisher, p = 0,023).
- Tiền căn phẫu thuật và sử dụng thuốc:
Bảng 3.6. So sánh tiền sử bệnh tật giữa hai nhóm
Tiền căn
Tổng số
(n = 48)
Tắc ĐM
(n = 34)
Tắc TM
(n = 14)
Giá trị p
Tắc ĐM ngoại biên
14 (29,2%)
12 (35,3%)
2 (14,3%)
0,181
Tắc TM ngoại biên
7 (14,6%)
0
7 (50%)
< 0,001
Phẫu thuật tim, mạch máu
7 (14,6%)
6 (17,6%)
1 (7,1%)
Giới
Nam
29 (60,4%)
32 (65,3%)
0,618
Nữ
19 (39,6%)
17 (34,7%)
Thời gian (giờ)
5,5 (3,4-9,4)
5,0 (3,5-7,0)
0,576
Như vậy, xét về tuổi trung bình, giới tính, thời gian trung
bình từ khi CCLĐT đến khi được phẫu thuật thì hai nhóm bệnh và
chứng khác biệt không có ý nghĩa, nên thỏa điều kiện tương đương
để so sánh.
Trong các dấu hiệu CCLĐT có độ đặc hiệu cao trên 95% đối
với chẩn đoán nhồi máu ruột do TMMT cấp tính bao gồm: huyết
khối ĐM MTTT, huyết khối TM MTTT, hơi trong thành ruột, hơi
trong TM cửa và nhồi máu tạng khác trong ổ bụng thì không có dấu
hiệu nào có độ nhạy cao (Bảng 3.13). Có ít nhất một trong các dấu
hiệu này ở 41/48 TH (85,4%) của nhóm bệnh và ở 1/49
TH (2,0%)
của nhóm chứng. Khi sự xuất hiện của ít nhất một trong các dấu hiệu
đặc hiệu này được sử dụng làm tiêu chuẩn chẩn đoán nhồi máu ruột
do TMMT thì CCLĐT có độ nhạy là 85,4%, độ đặc hiệu là 98%, độ
chính xác là 91,8% và giá trị tiên đoán dương tính là 97,6%.
Bảng 3.13. Phân tích dấu hiệu hình ảnh CCLĐT
Dấu hiệu
100
Hơi trong thành ruột
12 (25,0)
1 (2,0)
25
98
61,8
92,3
Hơi TM cửa
3 (6,2)
0
6,2
100
53,6
100
Nhồi máu tạng khác
4 (8,3)
0
8,3
100
54,6
100
Ruột giảm bắt cản quang khu trú
45 (93,8)
10 (20,4)
93,8
79,6
86,5
81,8
Ruột giãn
52,1
38,8
45,4
45,5
Có ít nhất một dấu hiệu đặc hiệu
41 (85,4)
1 (2,0)
85,4
98,0
91,8
97,6
3.4. Kết quả điều trị
3.4.1. Thời gian được can thiệp phẫu thuật
Thời gian từ khi có triệu chứng đến khi phẫu thuật trung bình
của nhóm tắc TM dài hơn của nhóm tắc ĐM. Bảng 3.14. So sánh thời gian chờ phẫu thuật và thời gian có triệu
chứng trung bình
Thời gian
Tổng số
(n = 48)
Tắc ĐM
(n = 34)
Tắc TM
(n = 14)
Giá trị p
Chờ phẫu thuật (giờ)
7,6 (4,5-16,8)
7,3 (4,5-13,2)
2
, p < 0,001).
25/34 TH (73,5%) tắc ĐM có đoạn ruột hoại tử dài trên 100
cm, trong khi chỉ 5/14 TH (35,7%) tắc TM có chiều dài đoạn ruột bị
hoại tử trên 100 cm. Khác biệt này là có ý nghĩa (phép kiểm
2
, p =
0,014).
46/48 TH (95,8%) có cắt ruột, còn lại 2 TH (4,2%) không cắt
ruột. Trong đó, 1 TH bị nhồi máu ruột quá nhiều (từ góc tá-hỗng
tràng đến đại tràng chậu hông và nguyên nhân tắc là do huyết khối
trên nền xơ vữa ĐM MTTT tại gốc); 1 TH còn lại là BN bị nhồi máu
ruột do thuyên tắc ĐM MTTT, được phẫu thuật sau khi có triệu
chứng 14 giờ, phẫu thuật mở ĐM MTTT lấy huyết khối trước, sau đó
đánh giá lại tình trạng ruột thì không phân định được rõ ranh giới
vùng ruột hoại tử và vùng ruột còn sống, chúng tôi quyết định không
cắt ruột và theo dõi chờ phẫu thuật xem lại để xác định rõ vùng ruột
hoại tử. Tuy nhiên, cả 2 TH này đều tử vong sau phẫu thuật 1 ngày.
7/48 TH (14,6%) có mở mạch máu mạc treo để lấy huyết
khối, trong đó 3/34 TH (8,8%) mở ĐM lấy huyết khối thì các BN
này đều tử vong sau phẫu thuật, còn 4/14 TH (28,6%) mở TM lấy
huyết khối đều ghi nhận có những đoạn ruột hồng trở lại và không có
TH nào tử vong sau mổ.
3.4.3. Biến chứng và tử vong sau mổ
Biến chứng sau mổ gặp ở 28/48 TH (58,3%).
Biến chứng hô hấp xảy ra ở 10/48 TH (20,8%), trong đó có 1
TH thuyên tắc phổi sau mổ 8 ngày. 9/48 TH (18,8%) có suy thận.
TMCB ruột tiếp diễn xảy ra ở 6/48 TH (12,5%), trong đó ở nhóm
BN có nguyên nhân tắc ĐM xảy ra 2 TH và nhóm tắc TM có 4 TH.
4/48 TH (8,3%) tử vong sau mổ 1 ngày, tất cả đều thuộc
Thời gian nằm viện trung bình ở nhóm tắc TM dài hơn nhóm
tắc ĐM (p = 0,015), tỉ lệ tử vong sau mổ ở nhóm BN tắc ĐM cao
hơn ở nhóm tắc TM (p = 0,001).
3.4.4. Khả năng sống còn
27/48 TH (56,2%) còn sống sau mổ. Thời gian theo dõi trung
bình là 41,8 ± 25 tháng (ngắn nhất là 2 tháng, dài nhất là 97 tháng).
Có 2 TH mất liên lạc sau mổ 2 tháng và 3 tháng. Cuối cùng chúng tôi
có 25 TH được theo dõi đến tháng 05 năm 2012, trong đó nhóm tắc
ĐM còn 13 BN và nhóm tắc TM còn 12 BN. Có 5/25 TH (20%) tử
vong trong thời gian theo dõi.
3/25 TH có hội chứng ruột ngắn, trong đó có 2 TH lệ thuộc
vào nuôi ăn bằng đường TM, cả 2 TH này đã tử vong do suy dinh
dưỡng. 1 TH ngưng nuôi ăn đường TM sau mổ 1 tháng. 8/25 TH
(32%) có sử dụng thuốc kháng đông liên tục sau mổ. Biểu đồ 3.5. Tỉ lệ sống còn ở hai nhóm BN nhồi máu ruột do tắc ĐM
và tắc TM bằng cách sử dụng phân tích Kaplan-Meier.
Tỉ lệ sống còn
Tắc tĩnh mạch
- Huyết khối TM mạc treo cấp tính: Theo Kumar và cs, biểu
hiện lâm sàng phần lớn phụ thuộc vào phạm vi của huyết khối, kích
thước của mạch máu bị ảnh hưởng, và độ sâu của TMCB thành ruột.
Có 83% đến 100% BN huyết khối TM cấp tính có đau bụng. Theo
Morasch và cs, thông thường, BN bị huyết khối TM mạc treo có đau
bụng, cơn đau này có thể khởi phát đột ngột, nhưng thường là bắt
đầu với tính chất âm thầm, và tiến triển xấu dần.
4.1.2. Bệnh kèm và các yếu tố nguy cơ
Trong nghiên cứu của chúng tôi, ở nhóm tắc ĐM có 19 BN
(55,9%) có rung nhĩ, 10 BN (29,4%) có bệnh van tim, 22 BN
(64,7%) có tăng huyết áp. Tỉ lệ BN có rung nhĩ, bệnh van tim và tăng
huyết áp ở nhóm tắc ĐM nhiều hơn ở nhóm tắc TM. Batellier,
Edwards, Kassahun đã lý giải rằng rung nhĩ, suy tim và bệnh van tim
chính là các nguồn tạo huyết khối từ tim, gây ra sự di trú huyết khối
đến ĐM mạc treo. Các tác giả cũng gợi ý rằng, khi BN vào viện với
triệu chứng đau bụng cấp tính kèm với các dấu hiệu thuyên tắc mạch
máu ngoại biên, TMCB mạc treo mạn tính, hoặc rối loạn nhịp thì nên
được nghi ngờ ở mức độ cao đối với TMCB ruột cấp tính và cần
được đánh giá nhanh chóng để khẳng định hoặc loại trừ chẩn đoán.
Trong nghiên cứu này, 10 BN (71,4%) huyết khối TM mạc
treo có nguyên nhân rõ ràng bao gồm 7 TH có huyết khối TM ngoại
biên, một TH phẫu thuật nhồi máu ĐM mạc treo cách 4 năm, một TH
mắc hội chứng thận hư và một TH cắt tử cung kèm cắt ruột thừa cách
nửa tháng. Tất cả các BN này đều liên quan đến yếu tố tăng đông đã
được đề cập trong nghiên cứu của các tác giả khác. 4.2. Giá trị của chụp cắt lớp điện toán trong chẩn đoán nhồi máu
ruột do tắc mạch mạc treo
Từ kết quả nghiên cứu hồi cứu của Taourel, các dấu hiệu
ảnh hưởng đến đại tràng (55% so với 11% của nhóm huyết khối
TM), sự khác biệt này có ý nghĩa.
Phương pháp phẫu thuật:
- Mở ĐM mạc treo lấy huyết khối: Trong nghiên cứu của
chúng tôi có 3/34 TH (8,8%) mở ĐM mạc treo lấy huyết khối thì các
BN này đều tử vong sau phẫu thuật. Tỉ lệ BN được phẫu thuật phục
hồi lưu thông mạch máu không nhiều là do tất cả BN trong nghiên
cứu này đều đã có nhồi máu ruột, kết quả này tương tự như các
nghiên cứu khác có tỉ lệ BN nhồi máu ruột cao thì tỉ lệ BN được
phẫu thuật mở mạch máu mạc treo lấy huyết khối thấp, chiếm từ 3%
đến 22,8% TH.
- Mở TM mạc treo lấy huyết khối: Gần đây có một vài báo
cáo lẻ tẻ về phẫu thuật mở TM lấy huyết khối, nhưng lấy huyết khối
TM thường khó khăn vì ở hầu hết BN, huyết khối TM lan tỏa và trải
rộng ra các nhánh xa nên kết quả chưa được cải thiện rõ và chưa
được khuyến cáo rộng rãi. Mặc dù vậy, trong TH phát hiện huyết
khối TM MTTT trong mổ thì mở TM lấy huyết khối trong thân chính
và các nhánh lớn của TM cửa, TM lách và TM MTTT vẫn được chấp
nhận. Tại bệnh viện Chợ Rẫy, các tác giả Vũ Hữu Vĩnh và Nguyễn
Văn Khôi đã cho thấy phẫu thuật lấy huyết khối TM mạc treo kèm
với cắt ruột hoại tử đã cho kết quả tốt. Trong nghiên cứu của chúng
tôi có 4 trong 14 TH (28,6%) nhồi máu ruột do tắc TM mạc treo
được mở TM lấy huyết khối đều ghi nhận có những đoạn ruột hồng
trở lại và không có TH nào tử vong sau mổ.
- Cắt ruột: Trong TH thuyên tắc chỉ ở một nhánh hoặc phần
xa của ĐM MTTT sau khi phân nhánh ĐM hồi-đại tràng gây ra hoại
tử một đoạn ruột ngắn thì chỉ cần cắt đoạn ruột hoại tử mà không cần
phối hợp lấy cục thuyên tắc. Trong 34 TH nhồi máu ruột do tắc ĐM
của chúng tôi, 26,5% TH có đoạn ruột hoại tử dài dưới 100 cm là
không cần mở ĐM lấy huyết khối.
mạch máu kịp thời trước khi có nhồi máu ruột thì sẽ không cần cắt
ruột phối hợp hoặc chỉ cắt bỏ một đoạn ngắn ruột hoại tử sau khi tái
lưu thông mạch máu.
Nghiên cứu của chúng tôi cũng cho kết quả tương tự như các
nghiên cứu khác là tỉ lệ tử vong sau mổ của nhóm BN nhồi máu ruột
do tắc TM thấp hơn so với nhóm tắc ĐM.
4.3.4. Kết quả lâu dài của điều trị phẫu thuật tắc mạch mạc treo
Trong nghiên cứu của chúng tôi có 27 BN (56,2%) còn sống
sau mổ. Chúng tôi theo dõi được 25 TH đến khi kết thúc nghiên cứu,
thời gian theo dõi trung bình là 41,8 ± 25 tháng. Tỉ lệ sống còn sau 5
năm trong nghiên cứu của chúng tôi là khoảng 44%, trong đó tỉ lệ
sống còn lâu dài ở nhóm BN bị nhồi máu ruột do tắc TM là 60%,
nhóm BN có tắc ĐM là 30%, khác biệt này có ý nghĩa (phép kiểm
log-rank). Kết quả nghiên cứu của Klempnauer cho thấy tỉ lệ sống
còn sau 5 năm là khoảng 50%, phụ thuộc vào bệnh sinh của TMCB
mạc treo cấp tính, trong đó BN bị huyết khối ĐM có dự hậu xấu
nhất.
KẾT LUẬN
Qua nghiên cứu 48 BN nhồi máu ruột do TMMT được điều
trị phẫu thuật tại bệnh viện Chợ Rẫy từ tháng 01 năm 2004 đến
tháng 06 năm 2010, chúng tôi rút ra các kết luận sau đây:
1. Về đặc điểm lâm sàng của nhồi máu ruột do TMMT
- Tuổi trung bình của BN nhồi máu ruột do tắc TM (37 tuổi)
thấp hơn rõ rệt so với nhóm tắc ĐM (73 tuổi).
- Tất cả BN nhồi máu ruột do TMMT đều có đau bụng, mức
độ đau bụng nhiều xảy ra ở tất cả BN tắc ĐM mạc treo.
- Các BN nhồi máu ruột do tắc ĐM thường có bệnh kèm là
rung nhĩ (55,9%), bệnh van tim (29,4%), tăng huyết áp (64,7%),
trong khi 50% BN tắc TM mạc treo có tiền căn tắc TM ngoại biên.\