1
ĐẶT VẤN ĐỀ
U não là thuật ngữ dùng để chỉ các u trong hộp sọ, bao gồm : U nguyên
phát và u thứ phát. U nguyên phát, xuất phát từ các thành phần trong hộp sọ
như : màng não, nhu mô não, não thất và các dây thần kinh trong sọ…U thứ
phát có nguồn gốc từ các cơ quan bộ phận khác trong cơ thể di căn vào trong
sọ. U não tế bào hình sao là một loại u não nguyên phát, phát triển từ các tế
bào thần kinh đệm hình sao của hệ thần kinh trung ương, chiếm 60% các loại
u thần kinh đệm [31], và chiếm 26,6% các loại u nguyên phát của não. Về mô
bệnh học u sao bào được chia làm nhiều loại khác nhau từ lành tính đến ác
tính, trong đó nhóm u ác tính chiếm tới 75% [93].
Theo Hội Phẫu thuật Thần kinh Hoa Kỳ từ 1973 đến 1987, u thần kinh
đệm ác tính chiếm 1% các loại ung thư và 50% các u não nguyên phát ở
người lớn, 90% vị trí bán cầu đại não [47], [50], [84]. Thống kê của hiệp hội
Quốc tế Nghiên cứu Ung thư (IARC) tỷ lệ mắc u não trên toàn thế giới năm
1990 với nam là 2,96 và nữ là 2,23 trên 100.000 dân [116]. Theo Hội Ung thư
Việt Nam từ năm 1996 - 1999, tỷ lệ mắc u não và hệ thần kinh trung ương là
0,4 - 0,5/100 000 dân. Tại Việt Nam chỉ có một số ít số liệu thống kê về tỷ lệ
mắc u thần kinh đệm bán cầu.
U não tế bào hình sao gặp nhiều ở vùng bán cầu đại não, có các đặc
điểm lâm sàng trong bệnh cảnh u não nói chung, tăng áp lực nội sọ và dấu
hiệu định khu tuỳ thuộc vào vị trí u trên bán cầu, không có triệu chứng đặc
hiệu và không có dấu hiệu lâm sàng báo trước [4],[10].
Đặc điểm hình ảnh u não tế bào hình sao trên phim chụp cắt lớp vi tính
và cộng hưởng từ có vai trò hết sức quan trọng trong chẩn đoán, phân loại u
(khi chưa có kết quả giải phẫu bệnh), vị trí u, tính chất u, từ đó giúp thầy
1
2
thuc chuyờn khoa a ra cỏc phng phỏp ch nh iu tr phự hp, c bit
trong phu thut loi b u.
iu tr u nóo t bo hỡnh sao hin nay bao gm ba phng phỏp chớnh:
Năm 1889, Giltchenco đã công bố một trường hợp u não thất IV. Và từ
năm 1890 trở đi các công bố về u não ngày một tăng.
Năm 1897 được ghi nhận một sự kiện quan trọng trong lịch sử của
ngành ung thư học thần kinh: Nhà thần kinh học lỗi lạc người Nga Bechterew
đã tổ chức ra phân khoa ngoại thần kinh đầu tiên không chỉ ở Nga mà trên
toàn thế giới. Bởi vậy, năm 1897 được coi là năm chính thức bắt đầu của
ngành ung thư học thần kinh như các môn chuyên ngành. Sự tập trung các
bệnh nhân ngoại khoa thần kinh cho phép Bussep vào năm 1912 thông báo về
kết quả 94 trường hợp phẫu thuật ở hệ thống thần kinh. Năm 1916 quyển sách
chuyên khảo "các u não" của Cron được công bố [4].
Cushing (1930)[104], là người đầu tiên đưa ra phân loại tổ chức học
của u ở hệ thống thần kinh dựa trên cấu trúc căn nguyên gây loạn sản phôi
thai học và nguồn gốc tổ chức học các u não một cách đầy đủ và được mọi
người công nhận. Trong đó u tế bào thần kinh đệm bao gồm u tế bào hình sao
chiếm tới 43,2% các loại u não.
Kernohan (1949), đã phân u não tế bào hình sao làm bốn độ dựa vào
hình ảnh giải phẫu bệnh tế bào của u [67].
Độ I: Dạng lông và dạng nguyên sinh
Độ II: Dạng tơ và dạng phồng
3
4
Độ III : U tế bào hình sao thoái sản
Độ IV: U nguyên bào thần kinh đệm
Dựa trên 2000 trường hợp u não từ 1953 đến 1967 Merrem thấy u não
tế bào hình sao chiếm khoảng 5,6% các loại u, còn của Zỹlch nghiên cứu trên
4000 trường hợp u não thì u não tế bào hình sao chiếm 6,4% các u não [3].
Đến năm 1979 theo phân loại của Tổ Chức Y Tế Thế Giới u tế bào hình
sao nằm trong nhóm "u ngoại bì thần kinh" [11].
Daumas- Duport (1988) [34] ở Bệnh viện Saint - Anne (Pháp), phân
loại u não tế bào hình sao thành bốn loại theo mô học:
1990 với nam là 2,96 và nữ là 2,23 trên 100.000 dân [116]. Tại Hoa Kỳ, năm
2000 tỷ lệ mắc u não của nam là 6,5 và nữ là 4,5/100.000 dân. Hàng năm, có
khoảng 15.000 trường hợp u não được phát hiện ở Hoa Kỳ [100], [103]. Tại
Pháp, u thần kinh đệm ác tính có tỷ lệ mắc 2,38/100.000 dân và mỗi năm
khoảng 3.000 - 5.000 trường hợp u não được phát hiện. U thần kinh đệm ác
tính chiếm 33% - 45% u não nguyên phát, trong đó 85% là u nguyên bào thần
kinh đệm [114]. Theo Muller, u thần kinh đệm chiếm khoảng 50%, u màng
não 20%, u tuyến yên 10%, còn lại là các khối u khác[87].
Jing R(2005), nghiên cứu sự xuất hiện của những sợi protein trung gian
trên người phản ứng lại với các tế bào thần kinh đệm hình sao [19].
1.1.2. Nghiên cứu trong nước
Theo Lê Xuân Trung và Nguyễn Như Bằng từ 1957 đến 1972 Bệnh
viện Việt - Đức phẫu thuật 408 trường hợp u não, u thần kinh đệm chiếm
42,6%. Dương Chạm Uyên và Nguyễn Như Bằng từ năm 1991 đến 1993
trong 163 trường hợp u não, 58,4% là u não bán cầu và 37,2% u thần kinh
đệm [13].
Trần Mạnh Chí (1992), đã phân loại các u não và triệu chứng của các u
não theo tài liệu bệnh học Ngoại khoa sau đại học tại Quân Y Viện 103[4].
5
6
Theo Hội Ung thư Việt Nam từ năm 1996 - 1999, tỷ lệ mắc u não và hệ
thần kinh trung ương là 0,4 - 0,5/100 000 dân. Thành phố Hồ Chí Minh năm
1997, u não đứng thứ 14 trong các loại ung thư, với tỷ lệ nam/nữ là 2/1,4 [1].
Tại Việt Nam chỉ có một số ít số liệu thống kê về tỷ lệ mắc u thần kinh đệm
bán cầu.
Dương Chạm Uyên, Lê Văn Trị và cộng sự (2003) phân tích trên 1074
trường hợp đã được mổ có kết quả mô bệnh học, đưa ra các nhận xét về tỷ lệ các
loại u não ở Việt nam, trong đó u não tế bào hình sao nằm trong nhóm u tế bào
thần kinh đệm chiếm 12,5% các loại u não, độ I-II: 3,08%; độ III- IV:
9,16%[14].
1.3.1. Phân loại u tế bào hình sao theo Tổ chức Y tế thế giới :
Phân loại u tế bào hình sao ( Astrocytoma) theo Tổ chức Y tế thế giới : [77]
1.3.1.1 U tế bào hình sao độ I ( WHO grade I ) :
- U tế bào đệm hình sao nền não thất thể tế bào khổng lồ
(Subependymal giant cell astrocytoma)
- U tế bào sao thể lông (Pilocytic astrocytoma)
1.3.1.2 U tế bào hình sao độ II ( WHO grade II) :
- U sao bào lông dạng nhầy ( Pilomyxoid astrocytoma)
- U tế bào đệm hình sao sắc tố vàng đa hình thái (Pleomorph
xanthoastrocytoma)
- U tế bào đệm hình sao lan toả ( Diffuse astrocytoma), bao gồm:
U tế bào đệm hình sao dạng sợi (fibrillary astrocytoma)
U tế bào đệm hình sao dạng nguyên sinh (Protoplasmic astrocytoma)
U tế bào sao phồng (Gemistocytic astrocytoma)
1.3.1.3 U tế bào hình sao độ III ( WHO grade III) :
7
8
U tế bào hình sao giảm biệt hóa (anaplastic astrocytoma)
1.3.1.4 U tế bào hình sao độ IV ( WHO grade IV) :
- U nguyên bào thần kinh đệm (glioblastoma) bao gồm:
U nguyên bào thần kinh đệm thể tế bào khổng lồ (Giant cell
glioblastoma)
Sarcom nguyên bào thần kinh đệm (gliosarcoma)
- U thần kinh đệm não (Gliomatosis Cerebri )
1.3.2. Phân loại u tế bào hình sao theo mô bệnh học :
1.3.2.1. U tế bào hình sao thể lông (Pilocytic Astrocytoma)
Chiếm 5-6% các loại u tế bào thần kinh đệm, 0,37/100.000 người/năm.
Hay gặp nhất của u thần kinh đệm ở trẻ em và người trẻ tuổi hay ở trên bệnh
nhân bị đa u xơ thần kinh loại I (NFI). Ở trẻ em gặp 67% ở tiểu não, não thất
III (dưới đồi), dây thân kinh và giao thoa thị giác. U tiến triển chậm, rất ít khi
phát triển thành u mạch. Có thể gặp u có nhiều nhân cùng với nang kích thước
không đều, có vôi hoá trong u.
Vi thể u có tế bào lớn hình chóp hay hình thoi cùng với lông ngắn và dầy,
bào tương lớn ưa eosin, nhân lớn cùng với hình dạng nhân quái phồng. Một số tế
bào giống tế bào sao phồng, một số giống u nguyên bào đệm hình sao.
9
10
Hình 1.2: Ảnh u tế bào sao nền não thất thể tế bào khổng lồ (subependymal
gaint cell astrocytoma) [77]
1.3.2.3. U tế bào hình sao vàng đa hình ( Pleomorph xanthoastrocytoma)
Thường gặp ở bề mặt vùng thái dương và vùng chẩm, tủy sống ranh
giới khá rõ, có thể tạo nang, xâm nhập vào nhu mô não và khoảng quanh
mạch.
Tên gọi của u phần nào nói lên tính chất đa hình thái của tế bào, trong
bào tương chứa nhiều hạt mỡ, tuy nhiên hình ảnh này không thường gặp.
Phần lớn các trường hợp u gồm các tế bào thoi xếp thành đám lỏng lẻo, xen
kẽ là các tế bào nhân lớn, thậm chí nhân quái, bào tương dạng bọt chứa những
giọt mỡ nhỏ. [65].
H×nh 1.3: U não tế bào hình sao đa hình (Pleomorph
xanthoastrocytoma) [77]
1.3.2.4. U tế bào sao lan toả (Diffuse Astrocytoma)
10
11
U xuất hiện từ sự tăng sinh của các tế bào hình sao (astrocyte) có các
sợi thần kinh trong bào tương, là một u nguyên phát hay gặp thuộc hệ thần
kinh trung ương, đôi khi đi kèm với bệnh u xơ thần kinh loại I (neuro -
fibromatose de Reckling Hausen) [65].
U tế bào hình sao lan toả (độ II) trên hình ảnh mô học có tăng sinh tế
bào dạng, tế bào thưa thớt trên nền sợi mảnh, dầy. Có khi gặp các nang nhỏ
trong u, có khi kèm các ổ can - xi rải rác, kèm xâm nhập các lympho bào
không chứa sợi [3],[5].
Hình 1.5: Ảnh u tế bào sao nguyên sinh(Protoplasmic astrocytoma)
[77]
• U tế bào sao thể phồng (Gemistocytic Astrocytoma)
12
13
U cấu tạo chủ yếu bởi các tế bào hình sao có kích thước lớn, bào tương
rộng toan tính, với một hoặc nhiều nhân nằm lệch về một phía [2], [47].
Hình 1.6: Ảnh u tế bào sao thể phồng (Gemistocytic Astrocytoma)
[77]
1.3.2.5. U tế bào hình sao giảm biệt hóa (anaplastic astrocytome)
Đây là loại u tiến triển ác tính của u tế bào hình sao lan toả, hay gặp ở
người lớn, vị trí gặp chủ yếu ở hai bán cầu đại não.
Các u tế bào đệm hình sao sau khi tái phát thường có xu hướng ác tính
hóa (gặp trên 80% sau phẫu tích tử thi). Hay gặp nhiều ổ hoại tử chảy máu. Cấu
trúc vi thể của u tế bào đệm hình sao giảm biệt hóa độ III gần giống với u
nguyên bào thần kinh đệm đa hình (glioblastoma multi - forme) (chiếm 80% số
tế bào u) là sự thoái biệt hóa làm tiến triển của u tăng nhanh. Đặc biệt ở trẻ em
có 60% là u thể lan tỏa. Do u thường phát triển từ một tổn thương biệt hóa có
trước, nên có thể thấy một số vùng của u có hình ảnh lành tính hơn. U gồm nhiều
tế bào đa hình to, nhỏ không đều, nhân thô, bắt màu kiềm đậm, đôi khi thấy hình
nhân chia. Các tế bào này có nhiều nhánh bào tương ngắn. Có các phản ứng
mạch máu, nhưng không thấy hình ảnh hoa hồng giả. Vùng não lành liền kề có
một số tế bào thần kinh kích thước nhỏ có thể bị tổn thương hay bình thường về
mặt hình thái, giữa các đám tế bào u thường thấy một số điểm hoại tử nhỏ và
chảy máu.
13
14
Loại u nguyên bào đệm hình sao (astroblastoma) thường được xếp vào u
nguyên bào thần kinh đệm (gliobastoma) vì chúng có hình ảnh vi thể như u
vùng “cấm”.
Hình ảnh đại thể của u nguyên bào thần kinh đệm khá điển hình với
ranh giới hình vòng cung không rõ rệt, cắt ngang u có thể gặp màu xám hay
hồng, có điểm hoại tử màu vàng hoặc ở vùng có chảy máu thì đỏ màu nâu
thẫm. Thành mạch máu trong u não tăng sinh dày. Có thể gặp thể nang hay
nhiều ổ, u thường có mật độ mềm và chỉ cứng khi xâm lấn dính vào màng
não, gây chảy máu. Các hạch thần kinh hay bị khối u xâm lấm, tạo các ổ sâu
và xốp, đa phần chỉ có một ổ, đôi khi kèm các ổ vệ tinh nhỏ. Đường viền
hình cầu của u có khi chiếm cả phần chủ yếu của chất trắng, còn ở thùy trán
(thái dương) không lan tỏa đến hạch nền não. Thể “con bướm” là u xâm lấn
vào đến thể chai và lan sang hai bên bán cầu.
Hình ảnh mô học vi thể của các khối u nguyên bào thần kinh đệm rất
khác nhau. Khối u luôn dày đặc tế bào, nhưng có thể đồng dạng hoặc đa hình
15
16
với nhiều giai đoạn trung gian giữa hai loại tế bào. Lấy tế bào áp trên nền ướt
dễ dàng cho thấy mật độ tế bào u cao. Tính biệt hóa thấp, tạo sự giảm thiểu
các nhánh bào tương (sợi) và bắt màu nhân đậm, đa hình thái thường cho
phép chẩn đoán là u nguyên bào thần kinh dệm. Nhiều tác giả cho là thường
gặp ba thể u chủ yếu sau [55],[97],[126]:
Hình 1.8: Ảnh u nguyên bào thần kinh đệm(Glioblastoma) [77]
- U nguyên bào thần kinh đệm đa hình (Glioblastoma Multiforme): u gồm
chủ yếu những tế bào thần kinh đa hình xen kẽ một số tế bào thần kinh của vỏ
não. Các tế bào này ít biệt hóa, nhân bắt màu đậm, thô, nhiều hình nhân chia,
chúng cụm xung quanh một số điểm hoại tử nhỏ. Mao mạch u thành dày, tăng
sản mạnh tế bào nội mô, nhiều điểm chảy máu rải rác, có chỗ lòng mạch bị
chít hẹp và tổ chức hóa hay vôi hóa.
- U nguyên bào thần kinh đệm thể hỗn hợp với fibrosarcoma: mô não
lành liền kề xen kẽ với tổn thương sát bề mặt u, gồm dày đặc tế bào đa hình
thái, chủ yếu là tế bào dạng thoi, ít nhánh thần kinh đệm. Vùng não lành xung
một năm, có thể là triệu chứng duy nhất của u phát triển.
1.4.1.2. Nôn
17
18
Nôn gặp 65-68% các trường hợp u não, nôn thường là dấu hiệu của
tăng ALNS. Nôn trong u não có đặc điểm là nôn vọt, nôn không liên quan với
bữa ăn, không có biểu hiện cơn đau bụng trước nôn. Nôn hay xuất hiện vào
buổi sáng, vào lúc đói và nôn khi thay đổi tư thế mạnh, đột ngột.
Trong u não nôn thường xuất hiện khi bệnh nhân đau đầu tăng, liên
quan với tăng ALNS. Nếu u ở thân não, não thất IV và tiểu não thì nôn không
liên quan với đau đầu vì u không những chỉ gây tăng ALNS mà còn kích thích
trực tiếp vào trung khu nôn. Nôn hay gặp trong u hố sau, đặc biệt là u não thất
IV, còn u trên lều thì nôn ít gặp hơn.
1.4.1.3. Chóng mặt.
Gặp ở 50% các bệnh nhân u não. biểu hiện chóng mặt: bệnh nhân có
cảm giác như là các đồ vật quay xung quanh mình hoặc bệnh nhân quay xung
quanh các đồ vật.
Chóng mặt có thể đồng thời với nôn và buồn nôn, và cũng xuất hiện
từng cơn. Chóng mặt có hệ thống được xem như là triệu chứng đầu tiên của u
não ở não thất IV, góc cầu tiểu não, thuỳ giun tiểu não.
1.4.1.4. Thay đổi ở đáy mắt.
Là triệu chứng khách quan của u não, có thể gặp ứ phù hoặc teo gai thị.
Biểu hiện hay gặp là ứ phù gai thị. Phù gai thị nguyên nhân là do tăng ALNS
đè ép vào các bó dây thần kinh thị giác, vào tĩnh mạch trung tâm của dây thần
kinh thị giác làm cản trở dòng máu tĩnh mạch từ võng mạc trở về, kết quả ứ
máu tĩnh mạch dẫn đến phù gai thị. Phù gai thị kéo dài dẫn tới teo gai thị.
1.4.1.5. Động kinh.
Các cơn động kinh trong u não có thể thấy ba thể sau:
- Động kinh toàn thể: được xếp vào triệu chứng chung của u não, còn cơn động
kinh cục bộ và thân não được xếp vào triệu chứng khu trú. Cơn động kinh
19
20
1.4.2.5 U nóo tht.
U to lm tc lu thụng ca dch nóo tu gõy gión cỏc nóo tht, xut hin
sm cỏc triu chng ca hi chng tng ALNS. U chốn ộp vo vựng di i
gõy cỏc triu chng di i nh: n nhiu, ung nhiu, ỏi nhiu, ri lon
sinh dc, ri lon chuyn hoỏ nc,mui, ng, ri lon gic ng
1.4.2.6. U hố sau ( tiểu não) :
Chức năng của tiểu não chủ yếu là phối hợp các hoạt động. Vì vị trí của
tiểu não liên quan mật thiết đến thân não, não thất IV và nằm trên các đờng
vận động, cảm giác lớn nên các triệu chứng lâm sàng khi tổn thơng vùng này
rất đa dạng, tùy thuộc vào vị trí, kích thớc và loại u. Có thể gặp các dấu hiệu
sau :
- Hội chứng tiểu não : mất thăng bằng, rối loạn t thế trong lúc đng và đi.
- Hội chứng thùy bên : rối loạn các động tác phối hợp và trơng lực cơ.
- Giảm trơng lực cơ.
- Mất điều hòa cử động các chi.
1.5. c im hỡnh nh ca u t bo thn kinh m hỡnh sao trờn phim chp
ct lp vi tớnh v phim chp cng hng t
Mt s c im h tr ỏnh giỏ mc ỏc tớnh ca u t bo thn
kinh m trờn phim chp ct lp vi tớnh v chp cng hng t:
* Kazner v cng s (1981) xut mc phự nóo trờn phim chp ct lp
vi tớnh [63]:
- Phự nóo I: phự khong 2cm t chu vi u.
- Phự nóo II: trờn 2cm t chu vi u.
- Phự nóo III: phự 1/2 bỏn cu nóo.
* Mc dch chuyn ng gia
- I : < 5 mm
- II: 5 - 10 mm
20
chụp cộng hường từ là: u nang vùng tiểu não, tăng tín hiệu của nhân u nằm trên
vách u, u của dây thần kinh số II, vùng giao thoa thị giác.Vị trí u hay gặp lần lượt
21
22
theo thứ tự: tiểu não 60%, dây II và giao thoa thị giác (25-30%), não thất III,
thân não. Những u có kích thước lớn thường gặp ở tiểu não, kích thước nhỏ ở
dây II và giao thoa thị giác. Về hình thái gặp chủ yếu u ở dạng nang, với u dây II
có hình thoi dài kéo dài theo dây thần kinh, có điểm thắt tại đáy hốc mắt [69]
[78].
1.5.1.2. Hình ảnh u trên phim chụp cắt lớp vi tính
Trên phim không tiêm thuốc cản quang: Hay gặp u ở dạng nang (đồng
hoặc tăng nhẹ tỷ trọng so với dịch não tuỷ), u dạng đặc ít gặp (thường giảm tỷ
trọng, số ít có thể đồng tỷ trọng so với tổ chức quanh u). Hình ảnh vôi hoá
trong u gặp 20%, hiếm khí có chảy máu trong u. Có thể thấy u là nguyên nhân
tắc lưu thông dịch não tủy gây giãn não thất. Phù não quanh u có thế có ít
hoặc không có [93], [94].
Trên phim chụp cắt lớp vi tính có tiêm thuốc cản quang: Với u nang:
50% không tăng tỷ trọng phần dịch, tăng tỷ trọng mạnh phần nhân đặc. Với
những u dạng đặc trên 95% trường hợp có tăng tỷ trọng, 40% có hoại tử trung
tâm, tăng tỷ trọng không đồng nhất, 10% u đặc đồng nhất [94].
1.5.1.3. Hình ảnh phim chụp cộng hưởng từ
Phim chụp cộng hưởng từ có giá trị chẩn đoán chính xác cao u sao bào
thể lông nếu, gặp u nang ở tiểu não, giảm hoặc đồng tín hiệu với dịch não tuỷ
trên phim T1 và tăng tín hiệu trên phim T2, nhân đặc trên vỏ nang hoặc u đặc
đồng hoặc giảm tín hiệu so với chất xám trên phim T1 và tăng tín hiệu mạnh
so với chất xám trên phim T2. Với u vùng giao thoa thị giác hay vùng đồi thị
ở trên bệnh nhân bị bệnh u xơ thần kinh loại I khó phân biệt với các loại u
khác bằng phim chụp cộng hưởng từ, khi đó kết hợp với lâm sàng sẽ có chẩn
đoán chính xác [94].
1.5.2. U tế bào hình sao sắc tố vàng đa hình thái (Xanthoastrocytoma)
não tuỷ trên phim T1. Trên phim T2, tăng tín hiệu không đồng nhất của vỏ u,
23
24
nhõn c tng tớn hiu mnh cú hỡnh uụi tng tớn hiu vin theo v u, xung
quanh u him khi cú phự [94]. Him khi thy u xõm ln v nóo. Hỡnh minh
ho s 3 di õy l hỡnh nh in hỡnh c hiu ca u t bo m hỡnh sao
sc t vng a hỡnh thỏi.
1.5.3. U t bo hỡnh sao nn nóo tht th t bo khng l (Subependymal
giant cell astrocytoma).
U tế bào đệm hình sao nền não thất thể tế bào khổng lồ nằm trong bệnh
cảnh của đa u xơ cứng bì. T l gp 10-15% ca cỏc bnh nhõn mc bnh a u x
cng bỡ. Triu chng bnh thng biu hin khi bnh nhõn nh hn 20 tui. Theo
T Chc Y T Th Gii u thuc nhúm ỏc tớnh thp nht ( I) [50],[94].
1.5.3.1. c im chung
U cú kớch thc ln, tng tớn hiu, v nm trong nóo tht trờn bnh
nhõn b bnh a u x cng bỡ. T chc u phỏt trin t thnh nóo tht gn l
Monro, do ú u nm gn l Monro trong nóo tht. U phỏt trin chm, thng
gõy ra triu chng lõm sng khi t kớch thc 2-3cm, do tc lu thụng dch
nóo ty.V hỡnh thỏi, u cú b rừ, thng cú cỏc thựy con, u cú th ging u
mng mch [94].
1.5.3.2. Hỡnh nh u trờn phim chp ct lp vi tớnh
Trờn phim chp khụng cú thuc cn quang: U cú t trng khụng ng
nht, gim t trng hoc ng ty trng. Trong u cú th cú hỡnh nh vụi hoỏ.
U thng lm tc l Monro gõy gión nóo tht bờn.
Trờn phim cú thuc cn quang: U tng t trng mnh, khụng ng
nht [94].
1.5.3.3. Hỡnh nh trờn phim chp cng hng t
U nm trong nóo tht bờn cú tớn hiu khụng ng u trờn c phim T1
v phim T2. U t bo m hỡnh sao nn nóo tht th t bo khng l hu ht
24