Nỗi niềm non nước trong thơ tản đà và trần tuấn khải luận văn thạc sĩ ngữ văn - Pdf 32

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC VINH

LÊ THỊ TUYẾT

NỖI NIỀM NON NƯỚC
TRONG THƠ TẢN ĐÀ VÀ TRẦN TUẤN KHẢI

Chuyên ngành: VĂN HỌC VIỆT NAM
Mã số: 60.22.34

LUẬN VĂN THẠC SĨ NGỮ VĂN

Người hướng dẫn khoa học:

PGS. TS. BIỆN MINH ĐIỀN


2

NGHỆ AN - 2012


MỤC LỤC
Trang
MỞ ĐẦU................................................................................................................................5
1. Lý do chọn đề tài................................................................................................................5
2. Đối tượng nghiên cứu và giới hạn của đề tài......................................................................6
3. Lịch sử nghiên cứu vấn đề..................................................................................................6
4. Nhiệm vụ nghiên cứu.........................................................................................................8
5. Phương pháp nghiên cứu....................................................................................................8

2.3.1. Ý nghĩa xã hội - thẩm mỹ ..........................................................................................69
2.3.2. Sức hấp dẫn của nỗi niềm non nước trong thơ Tản Đà và Trần Tuấn Khải...............74
.............................................................................................................................................79
.............................................................................................................................................79


4
Chương 3
PHƯƠNG THỨC THỂ HIỆN NỖI NIỀM NON NƯỚC
CỦA TẢN ĐÀ VÀ TRẦN TUẤN KHẢI.............................................................................80
3.1. Phương thức thể hiện của Tản Đà..................................................................................80
3.1.1. Lựa chọn các thể thơ và nghệ thuật tổ chức bài thơ ..................................................80
3.1.2. Gia tăng tính mơ hồ, đa nghĩa của từ ngữ và các biểu tượng.....................................87
3.1.3. Tổ chức giọng điệu, ngôn ngữ theo hướng dễ thấm, dễ phổ cập... ...........................92
3.2. Phương thức thể hiện của Trần Tuấn Khải..................................................................101
3.2.1. Thể thơ và nghệ thuật tổ chức bài thơ......................................................................101
3.2.2. Hình ảnh và biểu tượng............................................................................................109
3.2.3. Giọng điệu và ngôn ngữ...........................................................................................114
3.3. Sự gặp gỡ giữa Tản Đà và Trần Tuấn Khải trong tìm tòi phương thức thể hiện .........122
3.3.1. Nhìn các hiện tượng của đời sống qua lăng kính nước non.....................................122
3.3.2. Phát huy đến mức tối đa khả năng nghệ thuật của các thể thơ truyền thống, đặc biệt
các thể thơ dân tộc .............................................................................................................131
3.3.3. Vận dụng và cách tân hữu hiệu các thể thơ ca dân tộc ............................................135
KẾT LUẬN........................................................................................................................143
TÀI LIỆU THAM KHẢO..................................................................................................146


5

MỞ ĐẦU

trong thơ văn của họ là một nội dung lớn và hết sức cảm động. Đây cũng là
nội dung quan trọng trong thơ hai tác giả được đưa vào dạy - học trong
chương trình ngữ văn ở nhà trường phổ thông...
2. Đối tượng nghiên cứu và giới hạn của đề tài
2.1. Đối tượng nghiên cứu
Nỗi niềm non nước trong thơ Tản Đà và Á Nam Trần Tuấn Khải
2.2. Giới hạn của đề tài
- Đề tài bao quát các sáng tác thơ của Tản Đà và Á Nam Trần Tuấn Khải
(riêng thơ Trần Tuấn khải, chủ yếu là ở giai đoạn cùng thời với Tản Đà).
- Văn bản dùng để khảo sát, luận văn dựa vào các cuốn:
1. Tản Đà toàn tập (5 tập), Nxb Văn học, Hà Nội, 2002.
2. Thơ văn Á Nam Trần Tuấn Khải, Nxb Văn học, TP Hồ Chí Minh, 1984.
3. Lịch sử nghiên cứu vấn đề
3.1. Lịch sử nghiên cứu về Tản Đà và Á Nam Trần Tuần Khải
Tản Đà và Á Nam Trần Tuấn Khải, sáng tác trải qua nhiều biến cố,
thăng trầm, phần có giá trị nhất trong sáng tác của họ là thơ ca. Cho đến nay
đã có một số công trình nghiên cứu về Tản Đà và Trần Tuấn Khải. Có thể kể
đến các công trình tiêu biểu: Việt Nam văn học sử yếu (Nhà học chính Đông
Pháp ấn hành) của Dương Quảng Hàm; Nhà văn hiện đại (Nxb Văn học (tái
bản), 1998) của Vũ Ngọc Phan; Thơ Việt Nam hiện đại (Nxb Hồng Lĩnh Sài
Gòn, 1919) của Uyên Thao; Văn học giao thời 1900 - 1930 (Nxb Đại học và
Giáo dục chuyên nghiệp, 1988) của Trần Đình Hượu, Lê Chí Dũng; Quá
trình hiện đại hóa văn học Việt Nam 1900 - 1945 (Nxb Văn hóa Thông tin,
Hà Nội, 2000) của Mã Giang Lân; Giáo trình Lịch sử văn học Việt Nam (Nxb
Giáo dục, 1965) của Nguyễn Đình Chú, Lê Trí Viễn; Hợp tuyển văn thơ Việt


7

Nam (Nxb Văn hóa, Hà Nội) của Nhiều tác giả; Thơ ca Việt Nam, hình thức

thể thấy hai chữ nước non được nhắc đi nhắc lại nhiều trong thơ Tản Đà, là
điểm nhãn cho bài thơ và nó cho thấy tưởng yêu nước của Tả Đà được biểu
hiện ở đây một cách đầy đủ nhất. Trong luận văn này chúng tôi đề cập đến
Nỗi niềm non nước trong thơ Tản Đà và Trần Tuấn Khải để thấy được những
điểm tương đồng và khác biệt trong tâm sự yêu nước thầm kín của hai tác giả.
4. Nhiệm vụ nghiên cứu
4.1. Đưa ra một cái nhìn chung về sáng tác của Tản Đà và Trần Tuấn
Khải trong bối cảnh văn học Việt Nam ba mươi năm đầu thế kỷ XX, xác lập
những tiền đề hình thành tâm sự non nước trong thơ văn của họ.
4.2. Đi sâu khảo sát, phân tích quan niệm và tâm sự nước non trong thơ
hai tác giả Tản Đà và Trần Tuấn Khải.
4.3. Đi sâu khảo sát, phân tích các phương thức thể hiện nỗi niềm non
nước của Tản Đà và Trần Tuấn Khải.
Cuối cùng rút ra một số kết luận về nỗi niềm non nước trong thơ Tản
Đà và Trần Tuấn Khải...
5. Phương pháp nghiên cứu
Luận văn vận dụng nhiều phương pháp nghiên cứu khác nhau, trong đó
có các phương pháp chính: phương pháp thống kê - phân loại, phương pháp
phân tích - tổng hợp, phương pháp so sánh - loại hình, phương pháp cấu trúc hệ thống...
6. Đóng góp và cấu trúc của luận văn
6.1. Đóng góp của luận văn
- Luận văn là công trình tập trung tìm hiểu Nỗi niềm non nước trong
thơ Tản Đà và Á Nam Trần Tuấn Khải với cái nhìn tập trung và hệ thống...
- Kết quả nghiên cứu của luận văn có thể làm tài liệu tham khảo cho
việc tìm hiểu và nghiên cứu thơ Tản Đà, Trần Tuấn Khải...


9

6.2. Cấu trúc của luận văn

thời này, nền văn học cũ tuy đã ở trên đà suy tàn nhưng vẫn còn giữ một vị trí
đáng kể, vẫn còn một tác dụng tích cực nhất định trong sự phát triển của văn
học dân tộc” [30; 29]. Không chỉ có người thời nay nhìn về văn học của quá
khứ, giai đoạn ba mươi năm đầu thế kỉ XX, phát hiện ra tính giao thời của nó
mà ngay cả đương thời đã có không ít người cảm nhận được điều này. Vì vậy,
giao thời là một thời kì phức tạp trong lịch sử văn học, ở đó có diễn ra cuộc
đấu tranh giằng co quyết liệt giữa cái cũ và cái mới trên mọi phương diện của
văn học. Văn học ở thời điểm này vừa trong tư thế chuyển mình để phá vỡ mô
hình văn học cũ, vừa tập hợp các yếu tố mới để thử nghiệm nhằm thiết lập


11

một cấu trúc mới theo mô hình văn học hiện đại của phương Tây. Một thời kì
đầy thách thức đối với văn học, mà sứ mệnh lịch sử chỉ cho phép tiến chứ
không thể lùi.
Nói đến tính giao thời trong văn học ở giai đoạn này là đề cập đến các
hiện tượng đan cài, pha tạp, chuyển hóa trong văn học, biểu hiện dưới nhiều
hình thức, với nhiều mức độ khác nhau, tất cả góp phần làm nên một diện
mạo đặc biệt cho văn học, không thể tìm thấy ở các giai đoạn trước và sau nó.
Trong lịch sử văn học Việt Nam từ xưa đến nay, đây là giai đoạn duy
nhất có sự hiện diện song song hai loại tác giả cũ (nhà Nho) và mới (trí thức
tân học). Thời trung đại, nhà Nho giữ vị trí độc quyền, đóng vai trò chủ chốt
trong việc sáng tác văn chương. Trí thức tân học chỉ thay thế hoàn toàn ngôi
vị của nhà Nho vào thời kì hiện đại sau năm 1932. Ở giai đoạn này, Nhà Nho
đã thưa thớt dần về số lượng, họ không đáp ứng kịp những nhu cầu mới của
công chúng đương thời nhưng vẫn còn mang tư thế kiêu hãnh của những con
người đã từng tạo dựng nên nền văn học thời phong kiến, kéo dài hàng mười
thế kỉ. Lực lượng trí thức tân học mới hình thành, nhanh chóng chiếm được
ưu thế trên văn đàn và trong xu thế thay dần vị trí của nhà Nho. Tuy nhiên, họ

Hoạt động văn học nghệ thuật là một điểm nhìn khác để nhận ra đây là
giai đoạn văn học giao thời. Chưa bao giờ trong lịch sử văn học Việt Nam có
phổ biến hình thức phê phán công kích, đả phá văn chương học thuật cũ (văn
chương của nhà Nho), cùng với những người sáng tạo ra nó (nhà Nho) như
lúc này. Đả phá một cách quyết liệt trên diễn đàn phê bình nghiên cứu và đưa
cả nội dung đả phá vào trong tác phẩm văn chương:
Ngán nỗi nhà nho bọn hủ ta.
Hủ sao hủ gớm hủ ghê mà.
Thơ suông nước ốc còn ngâm váng.
Rượu bự non chai vẫn chén khà
(Phan Kế Bính)
Lực lượng tích cực trong hoạt động này lại có nhà Nho, tiêu biểu là các
nhà Nho theo phong trào duy tân hồi đầu thế kỉ. Họ nhắm vào những sáng tác


13

ca ngợi suông luân thường đạo lí của phong kiến. Với họ, văn chương cũ của
nhà Nho có nhiều chỗ phi lí vô nghĩa, trở nên lạc điệu trước thời đại, cần phải
bác bỏ nhanh chóng và thay thế kịp thời. Không chỉ có nhà Nho, mà lực
lượng trí thức mới cũng rất nhiệt tình bài bác văn chương cũ. Song song với
việc phê phán, chỉ trích văn chương cũ, mong muốn loại bỏ bộ phận sáng tác
này trên văn, thi đàn đương thời, lại có hoạt động vận động, kêu gọi, khuyến
khích việc thiết lập một nền quốc văn mới. Nhiều cuộc thi viết tiểu thuyết, thi
sáng tác thơ, đã nhằm vào mục đích tìm kiếm, cổ súy cái mới trong văn
chương. Nhu cầu đặt ra và thực tế được giải quyết lúc này chưa có sự thỏa
mãn. Nhìn vào văn học ba mươi năm đầu thế kỉ thấy rõ tính bề bộn, đa dạng
của sự kiện, ngổn ngang trăm điều và chưa có vấn đề nào được giải quyết
thấu đáo. Dường như giữa ý thức bên trong của con người và tác động của
điều kiện khách quan bên ngoài chưa có được sự hòa hợp.

kêu gọi đấu tranh chống giặc, vốn rất phổ biến vào những thời kì nước mất
nhà tan, được các tác giả dòng văn học yêu nước tập trung thể hiện. Xã hội
với mặt trái đầy chuyện phi lí, bất công, thối nát, v.v... được nói nhiều trong
cả thơ (thơ Tản Đà, thơ Trần Tuấn Khải và thơ của các nhà chí sĩ cách mạng
đương thời); văn xuôi (tiểu thuyết Hồ Biểu Chánh, Trọng Khiêm, Đặng Trần
Phất; truyện ngắn Nguyễn Bá Học, Phạm Duy Tốn, Trần Quang Nghiệp). Bên
cạnh những đề tài quen thuộc ấy, thơ văn đầu thế kỉ XX bắt đầu đi sâu vào
một số vấn đề mới trước kia chưa được quan tâm hoặc quan tâm chưa nhiều
như: số phận người nông dân (tiểu thuyết Hồ Biểu Chánh, Nguyễn Bửu Mọc);
cuộc sống của tầng lớp thị dân thời kì tư sản hóa hay sự sa sút của các gia
đình phong kiến (tiểu thuyết Đặng Trần Phất, truyện ngắn Nguyễn Bá Học,
kịch của Nam Xương, Vũ Đình Long); tình yêu lãng mạn, tự do, phóng túng
(thơ Tản Đà, tiểu thuyết của Hoàng Ngọc Phách), v.v... Hai loại đề tài cũ và
mới đã làm nên sự đa dạng về nội dung cho các sáng tác. Điều đáng nói là nó
đã vô tình tạo ra tính chất phức tạp cho văn học đương thời.
Trong quá trình tồn tại của văn học trung đại (mười thế kỷ), văn học
viết Việt Nam lấy chữ Hán và chữ Nôm làm phương thức thể hiện duy nhất.


15

Sau khoảng thời gian thử thách, tập dượt ở Nam bộ hồi cuối thế kỉ XIX, đến
ba mươi năm đầu thế kỉ XX chữ Quốc ngữ đã được sử dụng rộng rãi trong
sáng tác văn học của cả nước. Khi chữ Quốc ngữ chính thức bước vào tác
phẩm, chữ Hán không vì thế bị đẩy lùi ngay. Tác phẩm viết bằng chữ Hán
vẫn chiếm số lượng không ít trong thơ văn giai đoạn này (tác phẩm của Phan
Bội Châu, Phan Chu Trinh và nhiều nhà nho yêu nước khác). Việc đưa chữ
Quốc ngữ vào sáng tác vừa làm nên những giá trị nghệ thuật mới mẻ vừa thể
hiện sự hiện đại hóa trong văn học (như Tản Đà và Trần Tuấn Khải). Buổi
giao thời, chữ Quốc ngữ vẫn phải đồng hành cùng chữ Hán. Đối với các nhà

tác của nhiều nhà văn Nam bộ như Hồ Biểu Chánh, Nguyễn Chánh Sắt, Trần
Thiên Trung, Sơn Vương, một số cây bút truyện ngắn,... khiến cho tác phẩm
đến với độc giả bình dân dễ dàng, phá vỡ tính chuẩn mực, cầu kì kiểu văn
chương nhà Nho nhưng chưa vươn tới đỉnh cao của tính thẩm mĩ về ngôn từ.
Một phương diện tiêu biểu thể hiện tính giao thời là nghệ thuật xây
dựng nhân vật. Các nhà văn đương thời vẫn chú ý miêu tả ngoại hình, hành
động và ngôn ngữ của nhân vật như các nhà Nho trước kia.
Trên đây là một số biểu hiện nổi bật, cho thấy văn học giai đoạn này
đang có sự hiện diện đồng thời cái cũ và cái mới ở mọi yếu tố thuộc về
phương thức thể hiện. Thực trạng trên còn có thể nhận ra từ nhiều vấn đề
khác, như: Vấn đề xây dựng kết cấu tác phẩm, tạo dựng cốt truyện, lựa chọn
chi tiết, hình ảnh và cả việc thiết lập không gian nghệ thuật, thời gian nghệ
thuật cho tác phẩm.
Sự tồn tại song song cái cũ và cái mới đã nói lên tính giao thời của
văn học giai đoạn này. Các cách kết hợp, đan cài, pha tạp cái cũ và cái mới
khéo léo, nhuần nhuyễn còn làm nổi rõ vấn đề hơn. Chính việc làm đó đã tạo
nên những giá trị đặc biệt, không thể xếp vào văn học trung đại mà cũng
chưa thể công nhận là tác phẩm hiện đại. Trong văn học giai đoạn 19001930 phổ biến ba dạng kết hợp: nội dung mới - hình thúc cũ (thơ văn yêu
nước, tiêu biểu nhất là sáng tác của Phan Bội Châu); nội dung cũ - hình thức
mới (kịch nói của Nam Xương, của Vũ Đình Long); nội dung và hình thức


17

đều có cả cũ và mới (đây là dạng phổ biến ở nhiều sáng tác của các tác giả
thuộc dòng văn học hợp pháp đương thời). Phân tích bài thơ Hoa sen nở
trước nhất đầm của nhà thơ Tản Đà, vấn đề sẽ được hình dung cụ thể. Với
một thể thơ quen thuộc, được các nhà Nho xưa học tập từ Trung Quốc (thơ
thất ngôn bát cú Đường luật); với những chất liệu cũ: hình ảnh ( hoa sen),
ngôn ngữ, lối vào đề (Trong đầm gì lại đẹp hơn sen), lấy từ văn học dân

phát triển theo quy luật tất yếu của lịch sử văn học. Đối với người cầm bút và
cả người tiếp nhận lúc ấy, văn học hiện đại là một khu vườn quyến rũ đầy
những hoa thơm cỏ lạ. Phát hiện ra nó là một chuyện, nhưng đến với nó là
một chuyện khác. Bởi vì, văn học truyền thống của nhà Nho tuy đang mất dần
vị thế nhưng đã tạo nên nhiều thói quen trong sáng tác, trong tiếp nhận. Đâu
dễ một sớm một chiều thay đổi được các thói quen đó. Hoàn cảnh khách quan
đã khác trước quá nhiều, quan điểm thẩm mĩ cũng thay đổi, thế giới quan và
nhân sinh quan cũng thay đổi nhưng để tìm thấy cảm hứng mới không phải
chuyện giản đơn.
Công chúng đương thời đòi hỏi một món ăn tinh thần mới lạ. Nhưng
nếu đi quá xa với truyền thống thì lập tức họ sẽ phản ứng, lên án quyết liệt.
Chính vì thế người cầm bút phải chú ý tạo nên những giá trị văn học không
quá cũ mà cũng không quá mới. Do đó đã có hiện tượng phản ánh hiện thực
xã hội mà không quên yếu tố đạo lí. Câu văn xuôi được chấp nhận lúc này
phải là những câu văn có đối, có vần, đọc lên nghe nhịp nhàng như thơ, gần
gũi với lời ăn tiếng nói hằng ngày. Những nỗi niềm thầm kín, cùng với tình
yêu lãng mạn tự do được thổ lộ qua bài thơ Đường luật, câu thơ thất ngôn...
Nhìn chung, việc thỏa mãn được thị hiếu độc giả đương thời cũng góp phần
làm cho văn học giai đoạn này có được tính giao thời.
Vận động để phát triển, đó là quy luật tất yếu của xã hội, cũng là của
văn học. Hiện đại hóa văn học nhằm hướng đến một sự đổi mới toàn diện và
phổ biến, trên nền tảng của truyền thống, trong sự giao lưu rộng rãi với văn
học hiện đại nước ngoài. Tính giao thời đã góp phần thể hiện ý thức thực hiện
sứ mệnh lớn lao ấy của văn học ba mươi năm đầu thế ki XX.


19

1.1.2. Hoàn cảnh thuộc địa và hai bộ phận văn học
Năm 1858, giặc Pháp nổ súng vào Đà Nẵng, mở đầu cuộc xâm lược

cách mạng, chống lại âm mưu của kẻ địch trong việc nuôi dưỡng một thứ văn
hóa có tính chất cải lương và nô dịch.
Đặc biệt báo chí và nghề xuất bản phát triển mạnh; chữ quốc ngữ dần
thay thế chữ Hán, chữ Nôm; phong trào dịch thuật phát triển; lớp trí thức Tây
học thay thế lớp trí thức Nho học, đóng vai trò trung tâm trong đời sống văn
hóa thời kì này.
Tất cả những nhân tố trên đã góp phần quan trọng tạo nên những điều
kiện chín muồi cho sự hình thành và phát triển nền văn học Việt Nam hiện đại.
Văn học đổi mới mạnh mẽ theo hướng hiện đại hóa vì nó thoát khỏi sự
ràng buộc của hệ thống thi pháp văn học trung đại, tạo nên những đặc điểm,
tính chất của một nền văn học hiện đại. Cho nên hiện đại hóa văn học là một
yêu cầu tất yếu, khách quan của lịch sử. Nội dung hiện đại hóa diễn ra trên
mọi phương diện: đổi mới quan niệm về văn chương, sự thay đổi kiểu nhà
văn, hệ thống thi pháp... Hiện đại hóa trước hết là về mặt nội dung là tư
tưởng, tình cảm, cách nhìn... của nhà văn trước hiện thực đời sống.
Do đặc điểm của một nước thuộc địa, chịu sự ảnh hưởng sâu sắc của
quá trình đấu tranh giải phóng dân tộc, văn học từ đầu thế kỉ XX đến Cách
mạng tháng Tám năm 1945 đã hình thành hai bộ phận văn học: công khai và
không công khai hay “hợp pháp” và “bất hợp pháp”.
Bộ bận văn học công khai hay là bộ phận văn hợp pháp tồn tại trong
vòng pháp luật của chính quyền thực dân, phong kiến. Do khác nhau về quan
điểm nghệ thuật và khuynh hướng thẩm mĩ nên bộ phận văn học văn học công
khai lại phân hóa thành nhiều xu hướng, trong đó nổi lên hai xu hướng chính
văn học lãng mạn và văn học hiện thực.
Văn học lãng mạn là tiếng nói của cá nhân tràn đầy cảm xúc, đồng thời
phát huy cao độ trí tưởng tượng để diễn tả những khát vọng, ước mơ, coi con
người là trung tâm của vũ trụ, khẳng định “cái tôi” cá nhân, đề cao con người
thế tục, quan tâm đến số phận cá nhân và những quan hệ riêng tư. Nhưng bất





22

phán xã hội trên tinh thần dân chủ và nhân đạo, chú trọng miêu tả, phân tích
và lí giải một cách chân thực, chính xác quá trình khách quan của hiện thực xã
hội thông qua những hình tượng điển hình. Nhìn chung, văn học hiện thực có
tính chân thực cao và thấm đượm tinh thần nhân đạo. Tuy nhiên, các nhà văn
hiện thực phê phán chỉ thấy tác động một chiều của hoàn cảnh đối với con
người, coi con người là nạn nhân bất lực của hoàn cảnh.
Tiêu biểu cho xu hướng văn học hiện thực từ đầu thế kỉ XX đến khoảng
năm 1930, là sáng tác của Nam Xương, Phạm Duy Tốn, Nguyễn Bá Học, Hồ
Biểu Chánh,... Từ khoảng năm 1930 đến năm 1945, có thể nói đã thực sự hình
thành trào lưu hiện thực chủ nghĩa trong văn học Việt Nam. Thành tựu đạt
được của văn học hiện thực được kết tinh ở các thể loại văn xuôi: truyện ngắn
của Nguyễn Công Hoan, Nguyên Hồng, Nam Cao, Tô Hoài, Bùi Hiển; tiểu
thuyết của Vũ Trọng Phụng, Ngô tất Tố, Nguyên Hồng, Mạnh phú Tư, Nam
Cao; phóng sự của Tam Lang, Vũ Trọng Phụng, Ngô Tất Tố. Trào lưu văn
học này cũng có những sáng tác giá trị ở thể thơ trào phúng như Dòng nước
ngược của Tú Mỡ, Thơ ngang của Đồ Phồn.
Dòng văn học hiện thực có nhiều giá trị tích cực. Các tác phẩm thường
thấm đượm tinh thần nhân đạo và dân chủ. Nó “đã vạch trần bộ mặt tàn bạo
và thối nát của chế độ thực dân và phong kiến, diễn tả những nỗi thống khổ
của các tầng lớp nhân dân đang hướng về cách mạng” (Trường Chinh).
Văn học lãng mạn và văn học hiện thực cùng tồn tại song song, vừa đấu
tranh với nhau, vừa ảnh hưởng, tác động qua lại, có khi chuyển hóa lẫn nhau.
Nhìn chung, hai xu hướng văn học này luôn ở trong quá trình diễn biến, đổi
thay, giữa chúng không có ranh giới thật rạch ròi, không đối lập nhau về giá
trị. Xu hướng văn học nào cũng có những cây bút tài năng và những tác phẩm
xuất sắc.

con người mới của thời đại - những chiến sĩ kiên cường bất khuất, sẵn sàng hi
sinh vì lí tưởng cách mạng và sự nghiệp giải phóng dân tộc.
Nhìn bao quát, giữa bộ phận văn học công khai và văn học không
công khai, giữa các xu hướng văn học có sự khác biệt và đấu tranh với nhau


24

về mặt khuynh hướng tư tưởng và quan điểm nghệ thuật. Nhưng trong thực
tế, chúng ít nhiều vẫn tác động, thậm chí có khi chuyển hóa lẫn nhau để
cùng phát triển. Điều đó đã tạo nên tính chất đa dạng, phong phú, phức tạp
của văn học thời kì này.
1.1.3. Thơ ca thuộc bộ phận văn học “hợp pháp”
Văn học Việt Nam đầu thế kỷ XX là giai đoạn văn học giao thời, là
chiếc cầu nối giữa văn học trung đại và văn học hiện đại. Ở đó chúng ta bắt
gặp một sự thay đổi trên mọi phương diện của văn học từ quan niệm sáng
tác đến phương thức sáng tác. Tuy nhiên, phải thấy rằng sự thay đổi đó là
chưa mạnh mẽ, mới chỉ là bước đầu. Nhưng yêu cầu hiện đại hóa văn học
trong giai đoạn này đang đặt ra cho những người làm văn hóa - văn nghệ
cũng như những người làm văn chương một câu hỏi lớn “Phải đổi mới văn
chương thế nào?”. Đúng lúc đó, những người như Phan Bội Châu, Tản Đà,
Trần Tuấn Khải, Tương Phố, Đông Hồ... đã là những người tiên phong, đi
trước đón đầu đưa văn học Việt Nam bước sang một trang mới. Phong trào
Tân Thư, luồng văn hóa của “mưa Âu gió Mỹ” và sự phát triển một cách
mạnh mẽ của báo chí và công tác dịch thuật đã trở thành những điều kiện
cần và đủ cho sự bứt phá của nền văn học trong buổi giao thời. Những
gương mặt ưu tú trên đã bước sang bên này của quá trình hiện đại hóa văn
học. Điều đó đã làm cho diện mạo văn học Việt nam đầu thế kỷ XX khác
biệt hơn trước.
Trong giai đoạn giao thời, mảng thơ ca của bộ phận văn học hợp pháp

Đối tượng tập trung để miêu tả trong tác phẩm bấy giờ là cuộc sống hiện thực,
cuộc sống đời thường và những con người có trong cuộc sống ấy.
Sự thay đổi quan niệm sáng tác văn học và sự hình thành phương pháp
sáng tác mới là cả một quá trình lâu dài giằng co, tranh chấp giữa cái cũ và cái
mới. Hiện tượng này tìm thấy trong toàn bộ đời sống nền văn học mới.
Chính vì vậy mà trên thi đàn công khai, thơ ca như một ngọn gió tràn
tới gieo vào lòng công chúng thành thị một nỗi buồn thê lương, dai dẳng. So
với các thể loại khác như tiểu thuyết, kịch thì thơ đối với dân tộc ta có truyền



Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status