Những hình ảnh biểu tượng trong thơ Tế Hanh giai đoạn 1945 - 1975 ( Luận văn ThS. Văn học ) - Pdf 28


ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƢỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN


TRỊNH THỊ PHƢƠNG
NHỮNG HÌNH ẢNH BIỂU TƢỢNG TRONG
THƠ TẾ HANH GIAI ĐOẠN 1945 - 1975

LUẬN VĂN THẠC SĨ
Chuyên ngành: Lý luận văn học

Hà Nội – 2014

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƢỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN

thành và sâu sắc tới GS.TS. Lê Văn Lân, người thầy tận tình đã dành nhiều thời
gian và công sức giúp đỡ, động viên tôi thực hiện đề tài nghiên cứu và hoàn thành
bản luận văn tốt nghiệp thạc sỹ của mình.
Tôi xin trân trọng cảm ơn các thầy cô trong Ban Giám hiệu, phòng Đào tạo
sau đại học, các Quý thầy cô đã tận tình chỉ bảo và dạy dỗ, truyền đạt kiến thức,
kinh nghiệm cho tôi trong suốt quá trình học tập và nghiên cứu.
Tôi cũng xin bày tỏ lòng biết ơn chân thành tới gia đình, người thân và bạn
bè đã luôn ở bên cạnh khuyến khích, động viên giúp tôi vượt qua những khó khăn
để hoàn thành khóa học của mình.
Xin chân thành cảm ơn!

Hà Nội, ngày 10 tháng 11 năm 2014 Trịnh Thị Phương LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan rằng đề tài Những hình ảnh biểu tượng trong thơ Tế
Hanh giai đoạn 1945 - 1975 là công trình nghiên cứu độc lập của cá nhân tôi.
Tất cả các số liệu, kết quả nghiên cứu trong luận văn là trung thực. Mọi tài
liệu tham khảo, trích dẫn khoa học đều có nội dung chính xác. Các kết luận
khoa học chưa công bố ở bất kỳ công trình nghiên cứu nào khác.
Tôi xin chịu trách nhiệm về lời cam đoan này.
Hà Nội, ngày 10 tháng 11 năm 2014
Học viên

2.2.1. Hình ảnh biểu tượng người mẹ 56
2.2.2 . Hình ảnh người tình 60

2
Chƣơng 3: NGHỆ THUẬT XÂY DỰNG HÌNH ẢNH BIỂU TƢỢNG
TRONG THƠ TẾ HANH GIAI ĐOẠN 1945 - 1975 67
3.1. Hình ảnh 67
3.2. Các biện pháp tu từ 72
3.3. Giọng điệu 78
KẾT LUẬN 85
TÀI LIỆU THAM KHẢO 88 3
MỞ ĐẦU

1. Lí do chọn đề tài
1.1. Biểu tượng nghệ thuật là một dạng mã hóa những cảm xúc, tư
tưởng của người nghệ sĩ về hiện thực đời sống. Những hình ảnh xuất hiện với
tần số cao, mang nhiều giá trị tượng trưng đã trở thành chìa khóa mã hóa thế
giới nghệ thuật. Những biểu tượng đó sẽ bộc lộ cá tính sáng tạo, phong cách
tác giả, khuynh hướng văn học và cả đặc trưng văn hóa của từng dân tộc.
Nghiên cứu tác giả, tác phẩm từ góc độ biểu tượng do đó đã và đang thu hút
sự quan tâm của nhiều nhà nghiên cứu văn học nghệ thuật.
1.2. Trong nền thơ ca Việt Nam hiện đại, Tế Hanh là nhà thơ tiêu biểu
và có nhiều đóng góp đáng kể. Thơ Tế Hanh không hướng về thế giới vĩ mô
xa lạ mà tìm về những cảnh đời bình dị, gần gũi của quê hương trong cách
cảm nghĩ chân thực, hồn nhiên và giàu ý vị của tuổi hoa niên. Đời thơ Tế
Hanh như Xuân Diệu nói là dòng suối trong thầm thì, róc rách đi vào những
mạch thầm kín của tình đời, tình người. Cùng với thế hệ các nhà thơ xuất hiện

1945 - 1975 với việc khảo sát, thống kê, giải mã những hình ảnh biểu tượng
xuất hiện trong những sáng tác của Tế Hanh 1945 - 1975 sẽ giúp chúng ta có
cái nhìn bao quát và toàn diện hơn về diện mạo và quá trình đổi mới của thơ
Việt Nam thời kì 30 năm chiến tranh. Hy vọng, đây sẽ là một hướng đi mới,
có triển vọng, đem lại nhiều kết quả nghiên cứu khả quan và có giá trị.
2. Lịch sử vấn đề
2.1. Trước cách mạng tháng Tám (1945)
Tế Hanh là bông hoa nở muộn, thuộc lớp nhà thơ cuối cùng của phong
trào Thơ mới nhưng đã ít nhiều khẳng định được bản sắc, tài năng của mình.

5
Năm 1939, tập thơ Nghẹn ngào của Tế Hanh đạt giải thưởng của Tự lực văn
đoàn, tên tuổi ông bắt đầu có sức thu hút đối với giới nghiên cứu, phê bình
văn học. Đánh giá cao tài năng của nhà thơ trẻ này, Hoài Thanh trân trọng
giới thiệu trong Thi nhân Việt Nam: “Tôi thấy Tế Hanh là một người tinh tế,
Tế Hanh đã ghi được đôi nét rất thần tình về cảnh sinh hoạt chốn quê hương.
Người nghe thấy cả những điều không hình không sắc, không âm thanh như
mảnh hồn làng trên cánh buồm giương, như tiếng hát của hương đồng quyến
rũ con đường quê nho nhỏ. Thơ Tế Hanh đưa ta vào một thế giới rất gần gũi
thường ta chỉ thấy một cách mờ mờ, cái thế giới của những tình cảm ta đã âm
thầm trao cho cảnh vật” [40, tr. 140]. “Tế Hanh sở dĩ nhìn đời một cách sâu
sắc như thế là vì người sẵn có một tâm hồn tha thiết”… “Sự thành thực của thi
nhân không thể ngờ tới được” [40, tr. 140].
Cũng với tập thơ đầu tay này, Nhất Linh nhận định: “Ông Tế Hanh có
rất nhiều hứa hẹn trở nên một thi sĩ có tài…Hai bài Quê hương và Những
ngày nghỉ học là hai bài thơ hay của thơ ca Việt Nam và hai bài đó đủ định
giá trị của nhà thơ Tế Hanh” [22, tr. 283], điệu hồn thơ riêng của ông ngay từ
đầu cũng được Nhất Linh nắm bắt tinh tế “Một linh hồn rất phong phú có
những rung động rất sâu sắc và để diễn tả tâm hồn, ông có đủ nghệ thuật và
cách đặt câu, tìm chữ”… “Nghẹn ngào là thơ của một người có tấm lòng giàu,

từng tập thơ, vị trí của mỗi tập thơ trong quá trình sáng tác của Tế Hanh. Qua
đó, chúng ta có thể hình dung được những bước phát triển của đời thơ ông
qua từng mốc cụ thể. Dạng bài viết này phổ biến hơn ở giai đoạn đầu, đặc biệt
ở thập niên 60 và 70.
7
2.2.2. Những bài viết chung về thơ Tế Hanh
Khi Tế Hanh khẳng định được vị trí của mình trong nền thơ ca Việt
Nam hiện đại đã xuất hiện nhiều hơn những bài viết hoặc nhìn nhận lại một
chặng đường thơ, hoặc đi vào những chủ đề đặc sắc trong thơ ông. Đặc biệt,
cuối đời thơ của ông càng xuất hiện nhiều hơn những bài viết tâm huyết, công
phu, đánh giá thấu đáo đời thơ Tế Hanh.
Chế Lan Viên, trong lời bạt viết cho Tuyển tập Tế Hanh (1987): “Nếu
vào trong khu vườn, Xuân Diệu sẽ ngoạm vào cả các trái hồng lẫn các trái
xanh, Huy Cận lắng nghe chất nhựa trên cành, người nào đó hì hục tìm thơ
trong bộ rễ âm thầm, còn với Hanh thì màu xanh của lá cũng đủ cho anh hạnh
phúc” [14, tr. 392]. Phạm Hổ thì giải thích rằng ngay từ khi mới xuất hiện, Tế
Hanh đã mang tâm trạng, giọng thơ riêng, tha thiết, đằm thắm, tinh tế và đặt
biệt là những tình cảm hết sức chân thành, hồn nhiên. Và khi đánh giá, nhận
xét Tuyển tập thơ Tế Hanh trong bài Thơ Tế Hanh - tâm trạng thơ Tế Hanh,
ông viết: “Trong bầu trời thơ ca Việt Nam, góc trời thơ mà Tế Hanh tạo nên
với những màu sắc trầm lặng tin yêu, thật độc đáo và đáng quý. Đó là một
đóng góp lớn” [22, tr. 174].
Mã Giang Lân trong Tế Hanh, về tác giả và tác phẩm nhận định: “Cuộc
hành trình sáng tạo không mệt mỏi của ông đã hơn 60 năm. Ông không gây ấn
tượng mạnh mẽ, ồ ạt như nhiều nhà thơ cùng thời nhưng tinh tế, trong trẻo,
trung thực, thơ ông thấm dần vào người đọc và cư trú lâu dài trong tâm hồn
nhiều lứa tuổi” [22, tr. 40] . Trong bài Đường thơ của Tế Hanh đăng trên Tạp

một dòng suối trong thầm thì, róc rách, đi vào những mặt thầm kín của tình
đời, tình người. Với trên 20 tập thơ - một số lượng không nhỏ cho một đời

9
thơ, Tế Hanh đã góp vào thi đàn thơ ca Việt Nam hiện đại một diện mạo
riêng, độc đáo.
Nhìn lại những đánh giá, nhận xét, phê bình trên, chúng ta có thể thấy
rõ Tế Hanh có vị trí không nhỏ trên văn đàn Việt Nam.
2.2.3. Những bài viết đánh giá về chủ đề
Để đánh giá chính xác tài năng, sự cống hiến và đóng góp của Tế Hanh
đối với nền văn học dân tộc, các nhà nghiên cứu đã tập trung khai thác, tiếp
cận thơ ca Tế Hanh ở phương diện những chủ đề chính. Có thể dễ dàng nhận
ra những chủ đề về quê hương đất nước, đấu tranh thống nhất nước nhà, tình
yêu đôi lứa. Trong đó, chủ đề về quê hương đất nước là nội dung cảm hứng
xuyên suốt đời thơ Tế Hanh, tiêu biểu cho diện mạo tác giả.
Mã Giang Lân trong bài Tế Hanh - tinh tế, trong trẻo đã viết: “Trong
các nhà thơ Việt Nam hiện đại không mấy và hầu như không có nhà thơ nào
có được tình cảm đặc biệt thường trực da diết như Tế Hanh với quê hương và
cũng không có nhà thơ nào lại có nhiều thơ viết về quê hương như ông. Quê
hương là nguồn mạch chính xuyên chảy dạt dào trong cả đời thơ ông và cũng
là mạch thơ hay nhất, thành công nhất” [22, tr. 25]. Trong Lời giới thiệu tuyển
tập thơ Tế Hanh (1997), Hà Minh Đức nhận định “Đi suốt cuộc đời, tình yêu
quê hương đất nước như một cảm hứng lớn bao trùm thơ Tế Hanh và trên
nhiều bình diện, nhiều thời điểm Tế Hanh đã để lại những bài thơ hay về chủ
đề gẫn gũi này”.
Bên cạnh chủ đề tình yêu quê hương đất nước, Tế Hanh còn ghi lại dấu
ấn riêng của mình trong mảng thơ tình. Cùng với Xuân Diệu, Huy Cận, Hàn
Mặc Tử, Nguyễn Bính,…Tế Hanh đã góp vào vườn thơ tình Việt Nam một
sắc diện riêng không thể lẫn. Trần Hoài Anh đã từng nhận xét trong bài Về
một nét riêng trong thơ tình Tế Hanh: “Khác với Xuân Diệu, Hàn Mặc Tử,

1945 - 1975.
3. Phạm vi nghiên cứu
Luận văn tập trung nghiên cứu xuyên suốt chặng đường thơ của Tế
Hanh từ năm 1945 đến năm 1975. Đó là các tập thơ: Lòng miền Nam, Gửi
miền Bắc, Tiếng sóng, Hai nửa yêu thương, Khúc ca mới, Đi suốt bài ca, Câu
chuyện quê hương, Theo nhịp tháng ngày và một phần đầu tập Giữa những
ngày xuân. Ngoài ra, chúng tôi còn tham khảo thêm sáng tác của một số nhà
thơ khác để có căn cứ làm sáng rõ hơn những biểu tượng trong thơ Tế Hanh.
4. Mục đích nghiên cứu
Qua việc thống kê, khảo sát, phân tích, giải mã các hình ảnh biểu
tượng nghệ thuật trong thơ Tế Hanh giai đoạn 1945 - 1975, luận văn nhằm
hướng tới những mục đích sau:
- Nghiên cứu một cách có hệ thống và toàn diện những hình ảnh biểu tượng
trong thơ Tế Hanh, từ đó nhìn nhận rõ hơn sự sáng tạo và đặc điểm của tư duy
nghệ thuật thơ Tế Hanh, thấy được vai trò của hệ thống hình ảnh biểu tượng
trong việc góp phần làm nên phong cách độc đáo của nhà thơ này.
- Tìm hiểu hệ thống hình ảnh biểu tượng trong thơ Tế Hanh không chỉ là cơ
sở để thâm nhập vào thế giới thơ Tế Hanh mà còn giúp chúng ta có được cái
nhìn bao quát hơn về diện mạo và quá trình phát triển của thơ ca Việt Nam
giai đoạn 1945 - 1975.
- Trên cơ sở đó, góp phần lý giải và phân tích những yếu tố tạo nên sự độc
đáo, sức hấp dẫn và phần đóng góp có giá trị của thơ Tế Hanh. Từ đó, khẳng
định được tài năng, vị trí của nhà thơ trong nền văn học Việt Nam hiện đại.
5. Phƣơng pháp nghiên cứu
Trong quá trình làm luận văn, chúng tôi sử dụng kết hợp một số
phương pháp nghiên cứu cơ bản sau đây:

12
- Phương pháp nghiên cứu tác giả văn học
- Phương pháp thống kê, hệ thống hóa

hiện tượng đến giác quan” [42, tr. 98].
Như vậy, nhìn từ góc độ triết học, biểu tượng thuộc về giai đoạn tiền ý
thức, nó xuất phát từ hiện thực khách quan và được tái tạo lại trong đầu óc
con người. Với cách hiểu như vậy, tất cả các sự vật tồn tại trong thế giới
khách quan sẽ trở thành biểu tượng khi được con người tiếp nhận theo ý thức
chủ quan của mình. Vì thế, mỗi người sẽ có thế giới biểu tượng của riêng
mình. Thế giới biểu tượng ấy có phong phú hay không còn tùy thuộc vào môi
trường sống, năng lực hoạt động cá nhân trong việc chiếm lĩnh, thâm nhập
vào thế giới xung quanh. Và như vậy, trong chúng ta ẩn chứa một kho biểu
tượng vô tận mà nói như Guy Schoeler: “sẽ là quá ít, nếu nói rằng chúng ta

14
sống trong một thế giới biểu tượng, một thế giới biểu tượng sống trong chúng
ta” [2, tr. 419].
1.1.1.2. Biểu tượng dưới góc độ tâm lí
Theo Từ điển Tiếng Việt: “Biểu tượng là một hiện tượng tâm sinh lí do
một số sự việc ở ngoại giới tác động vào giác quan khiến ý thức nhận biết
được sự vật, kích thước hoặc nhìn thấy hình ảnh của nó trở lại trong trí tuệ
hay ý thức” [33, tr. 67].
Như vậy, nhìn từ góc độ tâm lí, biểu tượng chỉ có thể xuất hiện khi có
những sự vật, sự việc ở ngoại giới tác động vào giác quan của con người và
nó là hình thức cao nhất của giai đoạn nhận thức cảm tính trực quan. Với đặc
điểm như vậy, biểu tượng luôn gắn liền với trí tưởng tượng của con người và
nó có thể chuyển hóa thành biểu tượng trong lĩnh vực nghệ thuật, đặc biệt ở
thể loại thơ ca.
1.1.1.3. Biểu tượng dưới góc độ văn hóa
Mỗi một nền văn hóa được cấu thành bởi nhiều yếu tố khác nhau và
một trong những yếu tố đó chính là biểu tượng. Trong cuốn Từ điển biểu
tượng văn hóa thế giới, nhiều tác giả cho rằng: “Mọi nền văn hóa đều có thể
xem như một tập hợp các hệ thống biểu tượng trong đó xếp hàng đầu là ngôn

qua hình tượng nghệ thuật. Muốn làm được như vậy, nhà văn phải mã hóa
ngôn từ, tạo ra một hình thức “lạ hóa” nhằm tạo ra một thế giới nghệ thuật in
đậm dấu ấn của chủ thể sáng tạo và xuất hiện những hình ảnh, hình tượng
nghệ thuật có giá trị. Những hình ảnh, hình tượng nghệ thuật này ra đời có
sức sống sẽ vượt lên ý nghĩa biểu đạt và làm thành các biểu tượng nghệ thuật
đa nghĩa trong văn học. Quan niệm này đề cập đến vấn đề biểu tượng gắn với
những hình ảnh, hình tượng nghệ thuật trong tác phẩm văn học. Tuy nhiên, ở
đây chúng ta cũng cần chú ý đến tính đa nghĩa của biểu tượng trong văn học

16
vì đối lập với tư duy suy lý đơn nghĩa thì tính đa nghĩa là một đặc trưng của tư
duy nghệ thuật, nó phản ánh những mối quan hệ phong phú và sinh động của
văn học và hiện thực.
Các nhà nghiên cứu lý luận văn học cho rằng: Biểu tượng là “phương
tiện tạo hình và biểu đạt” có tính đa nghĩa trong tác phẩm văn học. Trong lĩnh
vực thơ ca, biểu tượng chính là một trong những phương tiện biểu đạt có hiệu
quả. M.Bakhin đã coi biểu tượng là đặc trưng khu biệt quan trọng nhất của tác
phẩm trữ tình với tiểu thuyết : “Chính sự vận động của biểu tượng thơ ca sẽ
giả định phải có một ngôn ngữ thống nhất, tương hợp trực tiếp với đối tượng
của mình” [22, tr. 54].
Như vậy, trong văn học dù được xem xét ở nhiều khía cạnh khác nhau
nhưng hầu hết các nhà nghiên cứu đều nhấn mạnh đến vai trò, giá trị khái quát
và tượng trưng của biểu tượng, đồng thời nêu bật tính đa nghĩa của biểu tượng
trong tác phẩm văn học.
1.1.2. Đặc trưng của biểu tượng
Ở trên, chúng ta đã tìm hiểu nhiều cách hiểu khác nhau về khái niệm biểu
tượng. Trong luận văn này, chúng tôi tiếp thu cách hiểu của TS. Nguyễn Thị
Ngân Hoa trong luận án tiến sĩ Sự phát triển ý nghĩa của hệ Biểu tượng trang
phục trong ngôn ngữ thơ ca Việt Nam: “Theo nghĩa rộng nhất, khái niệm Biểu
tượng dùng để chỉ một thực thể gồm hai mặt: mặt tồn tại cảm tính trong hiện

thức ra nhiều cái được biểu đạt, hoặc giản đơn hơn, cái được biểu đạt dồi
dào hơn cái biểu đạt” [2, tr. 414], hay nói cách khác, trong biểu tượng có sự
“không thích hợp giữa tồn tại và hình thức …sự ứ tràn của nội dung ra ngoài
hình thức biểu đạt của nó” (Tevezan Todorov) [2, tr. 417].
Thứ ba, theo TS. Nguyễn Thị Ngân Hoa, biểu tượng còn có một đặc
trưng nữa là tính sản sinh: “Biểu tượng khác cơ bản với các dấu hiệu, kí hiệu

18
khác (kể cả tín hiệu ngôn ngữ tự nhiên) ở chỗ, ngoài chức năng thay thế, chức
năng biểu hiện, chức năng giao tiếp, chức năng quan trọng nhất của biểu
tượng là chức năng thẩm mĩ: sản sinh ra các hình tượng nghệ thuật” [15, tr.
17]. Con đường sản sinh biểu tượng ngôn ngữ bắt đầu từ “mẫu gốc” hay còn
gọi là “nguyên mẫu”, “nguyên hình huyền thoại”, “nguyên sơ tượng” hay
“siêu mẫu”. Trong thực tế cuộc sống “bản tổng kết đã được công thức hóa của
khối kinh nghiệm to lớn của các thế hệ tổ tiên” có thể đi vào đời sống văn hóa
và đời sống nghệ thuật. Khi đi vào đời sống văn hóa, mỗi mẫu gốc có thể sản
sinh ra nhiều biểu tượng văn hóa khác nhau mà “dấu vết của nó có thể được
tìm thấy trong các thần thoại, truyền thuyết, nghi lễ, phong tục” [15, tr. 20].
Còn khi đi vào nghệ thuật, từ một mẫu gốc, một biểu tượng gốc sẽ sản sinh ra
các biến thể loại hình. Văn học là nghệ thuật ngôn từ nên cũng không nằm
ngoài quy luật đó. Chẳng hạn như biểu tượng gốc là “nước” nhưng khi đi vào
trong tác phẩm thơ văn nó sẽ sản sinh ra các biến thể loại hình như: dòng
sông, biển, suối, mưa, sương, sóng, thác…Trong loại hình nghệ thuật ngôn từ,
biểu tượng bắt buộc phải rời xa đời sống, nguyên khởi của nó để khoác lấy cái
vỏ âm thanh ngôn ngữ. Để giải mã một biểu tượng nghệ thuật, hoặc cảm thụ
một tác phẩm giàu tính biểu tượng, chúng ta cần hiểu rõ: tư duy biểu tượng
luôn đối nghịch với tư duy khoa học, không vận hành “theo lối rút gọn từ cái
bội đến cái đơn mà bằng lối bùng nổ từ cái đơn đến cái bội” [15, tr. 19]. Vì
vậy, con đường giải mã biểu tượng trong tác phẩm văn học sẽ phải đi từ cái
cụ thể như ngôn từ, các thủ pháp nghệ thuật…để tìm ra những cái hàm ẩn

chặt chẽ với nhau trong quá trình hình thành nên một tác phẩm nghệ thuật.
Dưới góc độ nghệ thuật thì biểu tượng được xem là một dạng chuyển nghĩa
trong ngôn từ nghệ thuật và là một phạm trù thẩm mỹ. Nó được xác lập bởi
hai yếu tố cơ bản: một bên là hình tượng nghệ thuật (ký hiệu biểu thị), một

20
bên thuộc về nghĩa bóng (ký hiệu ẩn dụ). Biểu tượng là hình tượng được hiểu
ở bình diện ký hiệu và phải là một ký hiệu hàm nghĩa (đa nghĩa). Như vậy
mọi biểu tượng trước hết phải là hình tượng (ký hiệu biểu thị), và mọi hình
tượng đều có thể trở thành biểu tượng (ký hiệu hàm nghĩa). Phạm trù biểu
tượng nhằm chỉ cái phần mà hình tượng vượt khỏi chính bản thân nó (ký hiệu
hiển ngôn) và luôn hàm chứa những ý nghĩa mang giá trị trừu tượng (ký hiệu
mật ngôn).
C.G. Jung cho rằng: "Biểu tượng không phải là một phúng dụ, cũng
chẳng phải là một ký hiệu đơn giản, mà đúng hơn là một hình ảnh thích hợp
để chỉ ra đúng hơn cả cái bản chất, ta mơ hồ, nghi hoặc của tâm linh”. Henry
Corbin cũng nhận định về biểu tượng như sau: "Biểu tượng báo hiệu một bình
diện ý thức khác với cái hiển nhiên lý tính; nó là "mật mã" của một bí ẩn, là
cách duy nhất để nói ra được cái không thể nắm bắt bằng cách nào khác, nó
không bao giờ có thể cắt nghĩa được một lần là xong mà cứ phải "giải mã" lại
mãi, cũng giống như một bản nhạc không bao giờ chơi một lần là xong, mà
đòi hỏi mỗi lần biểu diễn đều phải phát hiện ra cái mới”. Theo TS. Nguyễn
Thị Ngân Hoa: “Biểu tượng văn hóa, biểu tượng nghệ thuật, biểu tượng nghệ
thuật, biểu tượng thơ ca trong những tác phẩm nhất định, phải được tổ chức
lại thành các hình tượng với chất liệu đặc trưng cho từng ngành nghệ thuật”
[15, tr. 17]. Và từ đó, tác giả khẳng định: “Biến thể của biểu tượng trong tác
phẩm phải là hình tượng. Với văn học viết, hình tượng có thể tồn tại ở bình
diện chủ thể của biểu tượng”.
Tóm lại, sự thống nhất giữa hai bình diện của một tác phẩm nghệ thuật
- hình tượng nghệ thuật và nghĩa hàm của nó - có thể hoặc là đương nhiên, sẽ

mang tính khái quát cao về các hiện tượng của đời sống. Điều đó đã dẫn đến
sự gần gũi với hình tượng nghệ thuật.

Trích đoạn Hình ảnh biểu tượng hoa Hình ảnh biểu tượng người mẹ 2 Hình ảnh người tình Các biện pháp tu từ Giọng điệu
Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status