1 ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
HOÀNG THỊ KIM NHẪN BIỂU TƯỢNG THƠ TỐ HỮU GIAI ĐOẠN 1945 - 1975
LUẬN VĂN THẠC SĨ
Chuyên ngành: Văn học Việt Nam
HÀ NỘI - 2014
2 ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
6. Kết cấu luận văn 8
PHẦN NỘI DUNG …9
CHƢƠNG 1: BIỂU TƢỢNG TRONG THƠ VÀ HÀNH TRÌNH SÁNG
TẠO THƠ TỐ HỮU………………………………………………… 9
1.1. Biểu tƣợng 9
1.1.1 Quan niệm về biểu tƣợng từ các góc độ khác nhau 9
1.1.2 Quan niệm về biểu tƣợng của luận văn 14
1.1.3 Phân biệt biểu tƣợng và một số khái niệm gần gũi 17
1.2 Hành trình sáng tạo thơ Tố Hữu 21
1.2.1 Tập thơ "Từ ấy" 21
1.2.2 Tập thơ "Việt Bắc" 23
1.2.3 Tập thơ "Gió lộng" 26
1.2.4 Tập thơ "Ra trận" và "Máu và Hoa" 28
1.2.5 Tập thơ " Một tiếng đờn" 30
1.2.6 Tập thơ " Ta với ta" 30 4
CHƢƠNG 2: CÁC HỆ BIỂU TƢỢNG TRONG THƠ TỐ HỮU GIAI
ĐOẠN 1945- 1975 32
2.1 Những biểu tƣợng tiêu biểu diễn tả hiện thực chiến tranh 32
2.1.1Biểu tƣợng lửa 32
2.1.2 Biểu tƣợng máu 46
2.2. Những biểu tƣợng diễn tả tình cảm lãng mạn Cách mạng 55
2.2.1. Biểu tƣợng lá cờ 55
2.2.2 Biểu tƣợng ngôi sao 62
CHƢƠNG 3: NGHỆ THUẬT XÂY DỰNG BIỂU TƢỢNG TRONG
THƠ TỐ HỮU GIAI ĐOẠN 1945- 1975 68
3.1 Cách sử dụng các hình ảnh thơ 68
tranh, khoảng từ năm 1945 đến 1975, chính là những lúc thơ Tố Hữu thể hiện
rõ nhất phong cách trữ tình chính trị của ông, và ở đó, ta thấy có những hình
ảnh được tác giả nhắc đến nhiều lần. Đó không chỉ là những hình ảnh ngẫu
nhiên mà có sức ám ảnh lớn đối với tác giả và mang tính biểu tượng cao.
Những biểu tượng ấy có ý nghĩa sâu sắc, bởi qua đó, tác giả gửi gắm nhiều
thông điệp đến người đọc, mà trước hết là nó phản ánh được rõ nét hiện thực
cách mạng, hơn thế, còn thể hiện được tình cảm, lý tưởng cách mạng cao đẹp
của nhà thơ.
Đã có không ít các học giả, nhà nghiên cứu có cảm hứng, xây dựng
những công trình khoa học về thơ Tố Hữu. Ở một vài công trình cũng đã đề
cập đến biểu tượng trong thơ Tố Hữu, nhưng nguồn biểu tượng đa dạng cùng
với nét đặc sắc của nó vẫn rất hấp dẫn người yêu thơ Tố Hữu, và vẫn sẽ là
nguồn đề tài hứng thú để tiếp tục giải mã những ý nghĩa ẩn sâu mà nhà thơ
muốn chuyển tải.Với xu thế đó, đề tài "Biểu tượng thơ Tố Hữu giai đoạn
1945- 1975" của chúng tôi cũng mong muốn khảo sát toàn diện hơn, đầy đủ
hơn hệ thống các biểu tượng nghệ thuật đã góp phần làm nên nét đặc sắc
6
trong thơ Tố Hữu, khẳng định được phong cách của Tố Hữu và vị trí của Tố
Hữu trên thi đàn Việt Nam.
2. Lịch sử nghiên cứu vấn đề
Tố Hữu đến với thi ca khá sớm, từ năm 18 tuổi, và được coi là con chim
đầu đàn vạch hướng cho cả nền thi ca cách mạng Việt Nam hiện đại. Có
những giai đoạn, thơ ông đã trở thành chỗ dựa tâm hồn cho mọi người. Sự
nghiệp thơ ca của ông đã được khẳng định qua các giải thưởng cao quý như:
Giải nhất giải thưởng Văn học Hội Văn nghệ Việt Nam 1954 - 1955 cho tập
thơ Việt Bắc; Giải thưởng Văn học ASEAN năm 1996 cho tập thơ Một tiếng
đờn; Giải thưởng Hồ Chí Minh về Văn học - Nghệ thuật (đợt I, 1996). Ông
cũng là người có nhiều thơ được sử dụng giảng dạy trong nhà trường, từ bậc
học phổ thông đến đại học. Chính vì thế đã có hàng trăm bài viết, công trình
những chủ đề lớn trong thơ Tố Hữu như: chủ đề về Nhân dân, Đất nước,
Đảng, Lãnh tụ…Ngoài ra là những đặc điểm phong cách, tư tưởng, nghệ thuật
trong sáng tác của nhà thơ như: lãng mạn cách mạng, trữ trình cách mạng,
phong cách dân tộc đậm đà… Có thể nói đây là chuyên luận trình bày rất cơ
bản về sự nghiệp sáng tác, phong cách thơ Tố Hữu. Chuyên luận của Lê
Đình Kỵ rất có ý nghĩa trong đời sống phê bình, nghiên cứu văn học. Tuy
vậy, tác giả của chuyên luận vẫn là bước đầu tiếp cận thơ Tố Hữu về phương
diện xã hội học. Vấn đề biểu tượng trong thơ Tố Hữu chưa thấy được nghiên
cứu, tìm hiểu.
Thơ Tố Hữu, tiếng nói đồng ý, đồng tình, tiếng nói đồng chí của Nguyễn
Văn Hạnh (NXB Thuận Hóa, 1985) dài hơn hai trăm trang, về mặt phương
pháp nghiên cứu, công trình vẫn tuân thủ chặt chẽ, tiếp cận theo hệ hình đi
tìm sự tương đồng giữa tác phẩm văn học và đời sống trong phản ánh, tái tạo
hình tượng nghệ thuật, phô diễn cảm xúc của chủ thể trữ tình. Cuốn sách cũng
góp phần làm rõ đặc sắc nội dung tư tưởng và phong vị đậm đà trong thơ Tố
Hữu qua ngôn từ, hình ảnh, nhịp điệu, thể loại. Tuy nhiên mảng đề tài về biểu
tượng trong thơ của Tố Hữu cũng chưa được bàn đến.
Và nếu hai công trình trên khai thác thơ Tố Hữu về các mặt chủ đề, đề
tài, những nét lớn trong phong cách chủ yếu theo phương diện xã hội học thì
công trình Thi pháp thơ Tố Hữu của tác giả Trần Đình Sử - được xuất bản lần
đầu tiên vào năm 1987 (NXB Hội Nhà văn), tái bản vào năm 1995 (NXB
Giáo dục), đã đặt ra và giải quyết hàng loạt vấn đề mà trước đây phê bình văn
học của Việt Nam ít quan tâm đến. Đó là những vấn đề quan niệm nghệ thuật
về con người, không gian và thời gian nghệ thuật, chất thơ và phương thức thể
hiện dưới góc nhìn thi pháp học, một góc nhìn mới mẻ và hiện đại trong
nghiên cứu văn học. Đặc biệt, chương III của chuyên luận, mang tên Không
gian nghệ thuật là một trong những chương rất đặc sắc Trần Đình Sử đã nói
đến không gian nghệ thuật trong văn học từ cổ chí kim, từ đông sang tây rồi
từ đó khẳng định không gian nghệ thuật chủ yếu trong thơ Tố Hữu là không
8
Riêng với Tố Hữu, tác giả nhận định "trong thế giới nghệ thuật thơ Tố Hữu,
hình tượng con đường chiếm vị trí quan trọng." "Con đường là biểu tượng cho
những cuộc lên đường từ gian khổ đến chiến công" [22, tr.139] . Cũng là Tố
Hữu, tác giả còn nhận định thêm về hình ảnh người mẹ mang tính biểu tượng
cao: "Khi nói đến hình tượng người mẹ trong thơ Tố Hữu, chúng ta nghĩ tới
tầm vóc, tính khái quát về người mẹ đã trở thành biểu tượng của non sông đất
nước"[22, tr.132]. Hướng nghiên cứu này của tác giả Mã Giang Lân có tính
9
chất gợi mở rất lớn đối với luận văn trong việc tìm hiểu giá trị của các biểu
tượng phản ánh sự vận động và phát triển của đời thơ Tố Hữu.
Nghiên cứu về thơ Tố Hữu còn có nhiều tác giả khác: Hoài Thanh, Xuân
Diệu, Chế Lan Viên, Nguyễn Đăng Mạnh, Hà Minh Đức, Phan Cự Đệ, Huỳnh
Lý, Vũ Đức Phúc, Nguyễn Đình Thi… Trải qua gần bảy mươi năm, các bài
viết, phê bình, nghiên cứu về thơ Tố Hữu ngày một nhiều hơn. Nhìn chung
sáng tác của Tố Hữu đã được soi chiếu, phát hiện nhiều giá trị nội dung tư
tưởng và nghệ thuật. Mỗi người có một cách đánh giá, phân tích riêng, song
đều nhất trí cho rằng Tố Hữu là một nhà thơ cách mạng, là lá cờ đầu của văn
học cách mạng Việt Nam. Nói như vậy không có nghĩa là vẻ đẹp thơ Tố Hữu
đã được khai thác đến tận cùng. Vấn đề biểu tượng trong thơ Tố Hữu vẫn chưa
thành các đề tài, các công trình lớn. Trong khi đây là đề tài thú vị và là vấn đề
có ý nghĩa trong nghiên cứu sự vận động và phát triển của tư tưởng nhà thơ.
Với đề tài :"Biểu tượng thơ Tố Hữu giai đoạn 1945-1975", chúng tôi
mạnh dạn bước đầu tìm hiểu, nghiên cứu giá trị của các biểu tượng tiêu biểu
có ý nghĩa nổi bật trong những sáng tác thời chiến của Tố Hữu, và qua đó có
thể nhận ra phong cách nghệ thuật Tố Hữu.
3. Phạm vi nghiên cứu
Luận văn tập trung nghiên cứu xuyên suốt chặng đường thơ thời chiến
của Tố Hữu từ năm 1945 đến năm 1975.Tác phẩm thuộc chặng đường thơ này
bao gồm trọn vẹn tập thơ Việt Bắc, tập thơ Gió Lộng, tập thơ Ra trận,và một
biểu tượng trong thơ Tố Hữu như một đặc điểm riêng, một nét đặc sắc để tìm
ra bản sắc thơ thơ ông.
6. Kết cấu luận văn
Ngoài phần mở đầu, và kết luận, tài liệu tham khảo, luận văn được trình
bày trong 3 chương:
Chương 1: Biểu tượng trong thơ và hành trình sáng tạo thơ Tố Hữu.
Chương 2: Các hệ biểu tượng trong thơ Tố Hữu giai đoạn 1945-1975.
Chương 3: Nghệ thuật xây dựng biểu tượng trong thơ Tố Hữu giai đoạn
1945-1975.
11
PHẦN NỘI DUNG
CHƢƠNG 1
BIỂU TƢỢNG TRONG THƠ VÀ HÀNH TRÌNH SÁNG TẠO THƠ
TỐ HỮU
1.1. Biểu tƣợng
1.1.1 Quan niệm về biểu tƣợng từ các góc độ khác nhau
"Biểu tượng" trong tiếng Việt là một thuật ngữ có nguồn gốc ra đời từ
rất sớm, trong buổi bình minh của nhân loại ở Hi Lạp (symbolon) để chỉ đối
tượng giữ vai trò như một loại ''kí hiệu'' cổ. Thực tế đã khẳng định biểu tượng
phát triển cùng quá trình tiến hoá của nhân loại. Cho tới ngày nay, thuật ngữ
"biểu tượng" đã trở nên rất quen thuộc và là đối tượng nghiên cứu của nhiều
ngành khoa học xã hội khác nhau. Theo triết tự Hán Việt: Biểu có nghĩa là:
"bày ra", "trình bày", "dấu hiệu", để người ta dễ nhận biết một điều gì đó,
Tượng có nghĩa là "hình tượng". "Biểu tượng" là một hình tượng nào đó được
phô bày ra trở thành một dấu hiệu, ký hiệu tượng trưng, nhằm để diễn đạt về
1.1.1.1 Biểu tượng, nhìn từ góc độ triết học
Theo Từ điển triết học: "Biểu tượng là hình ảnh trực quan, cảm tính,
khái quát về các sự vật và hiện tượng của hiện thực, được giữ lại và tái tạo lại
trong ý thức và không có sự tác động trực tiếp của bản thân các sự vật và các
hiện tượng đến giác quan"[38, tr.98].
Như vậy, nhìn từ góc độ triết học, biểu tượng là hình ảnh cảm tính về
hiện thực khách quan, ngược lại hiện thực khách quan là điều kiện hàng đầu
tạo nên biểu tượng. Theo đó, biểu tượng chỉ phản ánh những dấu hiệu đặc
trưng của sự vật hiện tượng một cách khái quát, lược bỏ đi những nét riêng
biệt, cụ thể, chỉ giữ lại những gì chung nhất, tiêu biểu nhất mà thôi.Từ cách
hiểu này, mọi sự vật của tồn tại khách quan đều có thể trở thành biểu tượng
khi được con người tiếp nhận theo ý thức chủ quan của mình.Và, có thể hiểu:
"biểu tượng" là khái niệm dùng để chỉ một thực thể bao gồm hai mặt: mặt tồn
tại cảm tính trong hiện thực khách quan hoặc trong sự tưởng tượng của con
người (cái biểu trưng) và mặt ý nghĩa có mối quan hệ nội tại, tất yếu với mặt
tồn tại cảm tính đó nhưng không bị rút gọn trong những đặc điểm bản thể của
sự tồn tại này (cái được biểu đạt).
1.1.1.2 Biểu tượng, nhìn từ góc độ tâm lý
Theo quan điểm tâm lí học, biểu tượng là hiện tượng tâm sinh lí do có
một sự việc ở ngoại giới tác động vào giác quan khiến ý thức nhận biết được
hình ảnh của vật kích thích trở lại trí tuệ hay cảm giác. Từ điển tâm lý học do
Vũ Dũng chủ biên (Nxb Khoa học xã hội, 2000) định nghĩa rằng: "Biểu tượng
là hình ảnh các vật thể, cảnh tượng và sự kiện xuất hiện trên cơ sở nhớ lại hay
tưởng tượng. Khác với tri giác, biểu tượng có thể mang tính khái quát. Nếu tri
13
giác chỉ liên quan đến hiện tại, thì biểu tượng liên quan đến quá khứ và tương
lai"[6, tr.41].
Quan niệm tương tự về biểu tượng cũng thấy trong Từ điển Tiếng Việt do
giáo sư Hoàng Phê chủ biên: "Biểu tượng là hình ảnh tượng trưng, là hình ảnh
14
rằng: "Văn hoá là cơ chế của các hiện tượng, vật thể, hành động, tư tưởng,
cảm xúc. Cơ chế này được tạo ra nhờ việc sử dụng các biểu tượng hoặc phụ
thuộc vào các biểu tượng đó".
Quan niệm của các tác giả về những định nghĩa văn hoá nhìn chung đã
có một sự tương đối đồng thuận. Họ thống nhất với nhau ở một điểm, văn
hóa, đó là cái làm nên sự khác biệt giữa người và động vật và là cái đặc trưng
cho xã hội loài người. Nhà văn hoá học Nga L. Iô-nhin trong lời kết thúc bản
tóm tắt giới thiệu các định nghĩa khác nhau về văn hoá đã nhận định " Các
tác giả định nghĩa về văn hoá đã đồng ý với nhau, rằng văn hoá di truyền
không theo con đường sinh học mà bằng con đường học tập. Tiếp đó, họ thừa
nhận văn hoá trực tiếp gắn liền với các ý tưởng, chúng tồn tại và được truyền
đạt dưới hình thức biểu tượng (Symbol)"
Qua một số quan niệm về văn hoá nêu ở trên ta thấy có sự tương đồng về
mặt ý nghĩa. Các tác giả đều cho rằng, yếu tố cốt lõi của văn hoá chính là "hệ
thống các biểu tượng", nó được xem là "tế bào" của văn hoá. Có thể xem "thế
giới biểu tượng "- hệ thống các "ký hiệu hàm nghĩa" là hình thái ngoại hiện
của văn hoá, còn "hệ giá trị - xã hội" nằm trong lòng mỗi biểu tượng là nội
dung cơ bản của nó. Do vậy, "đơn vị cơ bản" của văn hoá chính là "biểu
tượng", vật hàm chứa những thông tin - xã hội. Đó cũng là "hạt nhân di
truyền" của xã hội, nó làm nên toàn bộ đời sống văn hoá và chi phối mọi hoạt
động, mọi ứng xử của con người trong đời sống xã hội, và là cái làm nên sự
khác biệt giữa hoạt động của người với động vật.
1.1.1.4 Biểu tượng, nhìn từ góc độ ngôn ngữ học
Ngôn ngữ, đặc biệt ngôn ngữ văn học là "kho tàng" bảo lưu những giá trị
văn hóa của một dân tộc. Do đó, nghiên cứu về biểu tượng, không thể không
xem xét trong mối quan hệ với ngôn ngữ. Các nhà ngôn ngữ học dựa trên sự
phân tích bản chất tín hiệu của ngôn ngữ thấy rằng: với mỗi một tín hiệu ngôn
ngữ, theo nguyên lí chung của việc thành lập một tín hiệu, bao giờ cũng phải
và cái được biểu hiện.Về chức năng, tín hiệu ngôn ngữ thực hiện chức năng
giao tiếp thuần túy, hướng vào đối tượng giao tiếp, còn biểu tượng thực hiện
chức năng nhận thức và biểu hiện đối tượng, chức năng đó "không chỉ hướng
vào đối tượng mà còn hướng vào bản thể đối tượng".
1.1.1.5 Biểu tượng, nhìn từ góc độ văn học:
Từ góc độ văn học, theo Từ điển thuật ngữ văn học thì trong nghĩa
rộng, biểu tượng thể hiện "đặc trưng phản ánh cuộc sống bằng hình tượng văn
học nghệ thuật".Theo nghĩa hẹp, "biểu tượng là một phương thức chuyển
nghĩa của lời nói hoặc một loại hình nghệ thuật đặc biệt có khả năng truyền
cảm lớn vừa khái quát được bản chất của một hiện tượng nào đấy, vừa thể
hiện một quan niệm, một tư tưởng hay một triết lý sâu xa về con người và
cuộc đời" [12, tr.24].Văn học, nhìn nhận biểu tượng ở hai mặt. Thứ nhất, biểu
tượng là hình ảnh cảm tính về hiện thực khách quan. Thứ hai, biểu tượng
16
không chỉ mang nghĩa đen, nghĩa biểu vật, nghĩa miêu tả… mà nói đến biểu
tượng là nói đến hiện tượng chuyển nghĩa, nghĩa bóng, nghĩa biểu cảm.
Tóm lại, mỗi ngành khoa học tiếp cận biểu tượng lại có quan niệm, cách
định nghĩa về biểu tượng khác nhau căn cứ theo đặc trưng của chuyên ngành
mình. Trong mỗi định nghĩa về biểu tượng bên cạnh những nét chung, cơ bản
(dấu hiệu - biểu trưng; vật biểu trưng mang một ý nghĩa lớn hơn nó ) lại có
những nét riêng phụ thuộc vào từng khoa học khác nhau và trong từng thời kì
lịch sử, từng nền văn hóa khác nhau. Vậy, có thể hiểu một cách cơ bản biểu
tượng là những hình ảnh tượng trưng được phô bày khiến người ta có thể cảm
nhận một giá trị trừu xuất nào đó đang tiềm ẩn trong lòng của nó. Cấp độ đầu
tiên của biểu tượng là mẫu gốc. Khi đi vào đời sống văn hoá, mỗi mẫu gốc có
thể sản sinh những biểu tượng văn hoá khác nhau, dấu vết của nó có thể được
tìm thấy trong các thần thoại, truyền thuyết, nghi lễ, phong tục. Vì vậy, con
đường giải mã biểu tượng để tìm ra cái ẩn chìm đằng sau những hình tượng
có nguồn gốc từ biểu tượng. Riêng biểu tượng ngôn từ có nét đặc biệt ở chỗ,
1.1.2.2 Tính chất của biểu tượng
Từ khái niệm biểu tượng đã nêu, có thể xác định được những tính chất
cơ bản của biểu tượng, cụ thể như sau:
Tính chất thứ nhất, không thể thiếu của biểu tượng là tính có lý do. Biểu
tượng luôn có hai mặt:"Cái biểu trưng" và "cái được biểu trưng", hai mặt này
được kết hợp theo tư duy liên tưởng và theo một quan hệ mang "tính có lí do,
tính tất yếu". Có lẽ ví dụ tiêu biểu nhất cho điều này, chính là một ví dụ của
F.Saussure, cái "biểu trưng công lý là cái cân không phải muốn lấy cài gì thay
thế cũng được" [5, tr.124]. Cái cân - "cái biểu trưng" - trong thực tế, khi ở
trạng thái thăng bằng nó giữ thế dung hòa, tránh lệch lạc, tránh xung đột giữa
hai bên đĩa cân và quả cân, giữ được thế yên ổn, vì lí do như thế, mà người ta
đã gán cho nó ý nghĩa biểu trưng cho công lí - lĩnh vực luật pháp luôn đặt
mục đích giữ công bằng trong xã hội lên hàng đầu, nhằm giải quyết các mâu
thuẫn xung đột của cuộc sống, giữ cho đời sống được ổn định. Ở đây đã có
một mối quan hệ nội tại giữa hai bình diện của biểu tượng, chứ không phải là
sự quy ước hoàn toàn võ đoán (rất hay gặp trong tín hiệu ngôn ngữ). Cái được
biểu trưng (biểu đạt) của biểu tượng chỉ nảy sinh trên cơ sở những đặc điểm
bản thể của cái biểu trưng. Các ý nghĩa biểu trưng của biểu tượng là có thể lí
giải được chứ không phải là sự quy ước tùy tiện. Các tác giả Từ điển biểu
tượng văn hoá thế giới đã chỉ ra rất đúng rằng: "Biểu tượng cơ bản khác với
dấu hiệu là một quy ước tùy tiện trong đó cái biểu đạt và cái được biểu đạt
(khách thể hay chủ thể) vẫn xa lạ với nhau, trong khi biểu tượng giả định có
sự đồng chất giữa cái biểu đạt và cái được biểu đạt theo nghĩa một lực năng
động tổ chức"[4, tr.XIX].
Tính chất thứ hai: Biểu tượng mang tính đa trị. Thực ra, ngôn ngữ tự
nhiên cũng có tính đa trị nhưng là đa trị trên bình diện hệ thống, còn khi đi
vào hoạt động cụ thể thì tính đa trị trùng với tính đơn trị (chỉ có một nghĩa
18
được hiện thực hóa trong hoạt động giao tiếp). Ở biểu tượng, tính đa trị thể
gốc nói một cách đơn giản là biểu tượng mẹ, nguyên mẫu của các biểu
tượng.
19
Biểu tượng văn hóa: Các cổ mẫu khi đi vào trong những nền văn hóa
khác nhau, chịu sự tác động về những điều kiện kinh tế, xã hội, về tự nhiên,
về tôn giáo thì có thể sản sinh ra các biểu tượng văn hóa. Biểu tượng văn hóa
là những thực thể vật chất hoặc tinh thần (sự vật, hành động, ý niệm…) có
khả năng biểu hiện những ý nghĩa rộng hơn chính hình thức cảm tính của nó,
tồn tại trong một tập hợp hệ thống đặc trưng cho những nền văn hóa nhất
định: nghi lễ, hành vi kiêng kị, thần linh. Các biểu tượng văn hóa này vừa có
sự duy trì những ý nghĩa biểu trưng của mẫu gốc, vừa có sự điều chỉnh và
biến đổi… Biểu tượng văn hóa là sự tồn tại ở bình diện phổ quát các biểu
tượng phi trực quan.
Biểu tượng nghệ thuật: Từ bình diện văn hóa, chuyển hóa vào các loại
hình văn hóa, nghệ thuật, một hệ biểu tượng được sáng tạo lại theo những đặc
trưng loại hình nhất định: hội họa, sân khấu, văn học, Có thể nói, mỗi tác
phẩm nghệ thuật được hình thành trên một cấu trúc chung nhất đó là "cái
biểu đạt" và "cái được biểu đạt".Trong đó, tác phẩm nghệ thuật được
hình thành từ nền tảng xã hội trên cơ sở của thực tại xã hội. Bằng ngôn
ngữ biểu tượng của mỗi loại hình nghệ thuật, người nghệ sĩ sử dụng những
chất liệu xã hội đó để hình thành nên các tác phẩm nghệ thuật .
Biểu tượng ngôn từ nghệ thuật: Các mẫu gốc, các biểu tượng văn hóa khi
đi vào trong tác phẩm nghệ thuật sẽ chịu sự điều biến của yếu tố chủ thể, từ
đó mà sản sinh ra các biểu tượng ngôn từ. Trong loại hình nghệ thuật ngôn từ
(văn học), biểu tượng bắt buộc phải xa rời đời sống nguyên khởi của nó để
khoác lấy cái vỏ âm thanh ngôn ngữ. Do đó biểu tượng ngôn từ là các biểu
tượng nghệ thuật (biến thể loại hình của biểu tượng văn hóa) cấu tạo lại thông
qua tín hiệu ngôn ngữ trong văn học. Thế nên, con đường giải mã biểu tượng
trong tác phẩm văn học sẽ phải đi từ chính ngôn từ, kết cấu, các thủ pháp,…
tượng nghệ thuật không vượt quá giới hạn của một hình thức biểu đạt cụ thể,
trong khi biểu tượng lại vượt quá khuôn khổ của sự biểu đạt, biểu nghĩa. Hình
tượng nghệ thuật chỉ chở tải được một ý nghĩa biểu đạt duy nhất mà người
nghệ sĩ đã có dụng ý lựa chọn, còn biểu tượng thì năng lực biểu hiện của nó
rộng lớn hơn cái ý nghĩa có giới hạn gắn cho nó một cách nhân tạo. Nó có
một sức vang cốt yếu và tự sinh. Biểu tượng thực sự có tính cách tân. Qua đây
cũng thấy "hình tượng" ở phương diện nào đó là cơ sở hình thành nên "biểu
tượng", bởi biểu tượng thực chất là sự nâng cấp của những hình ảnh, chi tiết
– nâng cấp bằng cách trao cho nó những ý nghĩa sâu sắc, giàu ấn tượng, chẳng
hạn như hình ảnh "Đoàn tàu" trong Hai đứa trẻ ( Thạch Lam) có thể coi là
biểu tượng về một cuộc sống đáng mơ ước , Tuy nhiên không phải hình
tượng nào cũng trở thành biểu tượng. Không phải cứ lấy một biểu tượng
trong đời sống đưa vào tác phẩm nghệ thuật là lập tức có biểu tượng nghệ
21
thuật. Biểu tượng nghệ thuật thực sự là kết quả của sáng tạo nghệ thuật đầy
công phu của nhà văn. Để cho hình ảnh, sự vật trở thành biểu tượng, nhà văn
thường sắp xếp nó trong nhiều mối quan hệ, biến nó trở thành trung tâm của
những quan hệ đó. Ngoài ra, sự lặp đi lặp lại của một hình ảnh, hình tượng đa
nghĩa trong nhiều tác phẩm của một tác giả cũng là cách tạo thành biểu tượng
nghệ thuật. Chẳng hạn hình tượng "hồn" hay " trăng" lặp lại nhiều lần trong
thơ Hàn Mặc Tử cũng biến thành những biểu tượng thẩm mỹ đầy ám ảnh
trong lòng người đọc.
1.1.3.2 Biểu tượng và tượng trưng
Không ít quan điểm giải thích biểu tượng bằng khái niệm tượng trưng.
Bởi trong Tiếng Anh, thuật ngữ "biểu tượng" (symbol) được hiểu và dùng với
hai nghĩa là "biểu tượng" và "hình ảnh tượng trưng". Nhưng thực chất giữa
biểu tượng và tượng trưng vẫn có sự khác biệt nhất định.
Có thể thấy, điểm phân biệt rõ nhất giữa biểu tượng và tượng trưng là ở
"tính cố định" của tượng trưng và "tính biến đổi" phong phú các ý nghĩa của
1.1.3 .3 Biểu tượng và ẩn dụ
Cả biểu tượng và ẩn dụ trong văn chương đều là những phương thức
chuyển nghĩa của lời nói, nên hai khái niệm này cũng có một sự gần gũi tương
đối, tuy nhiên chúng không phải " hai mà một".Theo nhà văn Nga V.I. Eremina:
"Ẩn dụ trong thơ ca được sinh ra nhất thời và mất đi khá nhanh. Biểu
tượng được hình thành trong quá trình dài và sau đó sống hàng trăm năm, ẩn dụ
là yếu tố biến đổi, còn biểu tượng thì không đổi, mà bền vững. Ẩn dụ là phạm
trù thẩm mỹ và phần lớn tự do tách khỏi phong cách ước lệ. Biểu tượng thì
ngược lại, được giới hạn nghiêm túc bởi hệ thống thi ca xác định"[33, tr.18]. Ở
đây, ý kiến của nhà văn Nga V.I. Eremina đã phân biệt rõ ranh giới giữa ẩn dụ
và biểu tượng thơ ca chủ yếu là ở tính "biến đổi" và "bền vững", "tự do" và
"ước lệ". Ngoài ra, có thể thấy thêm sự khác biệt nữa: trong ẩn dụ, một cái biểu
đạt xuất hiện thường để chứa ngầm một cái được biểu đạt, còn biểu tượng thì
có phạm vi rộng hơn, tỉ lệ giữa cái biểu đạt và cái được biểu đạt là một và hơn
một; quan hệ trong ẩn dụ là tương đồng giữa cái biểu đạt và cái được biểu đạt,
còn trong biểu tượng quan hệ này là mối quan hệ nội tại có lý do.
Sự khác biệt này khiến ta không thể cho rằng ẩn dụ và biểu tượng là một
được, vì như thế sẽ biến biểu tượng thành một dạng tu từ thông thường, làm
mỏng đi ý nghĩa của biểu tượng.
1.1.3 .4 Biểu tượng và phúng dụ
C.G. Jung cho rằng: "Biểu tượng không phải là một phúng dụ, cũng chẳng
phải là một ký hiệu đơn giản, mà đúng hơn là một hình ảnh thích hợp để chỉ ra
đúng hơn cả cái bản chất, ta mơ hồ, nghi hoặc của tâm linh” [4, tr.XXIV].
23
Henry Corbin cũng nhận định về phúng dụ như sau : "Phúng dụ là một
thủ thuật lý tính không bao hàm ý nghĩa chuyển dịch sang một bình diện mới
của tồn tại, cũng không đào thêm vào một chiều sâu của ý thức; đây là sự biểu
hình, ở cùng một cấp độ ý thức, cái mà đã có thể biết khá rõ bằng một cái
khác)
thể thấy rõ điều này từ tập Từ ấy cho đến tập thơ Ta với ta.
1.2.1 Tập thơ "Từ ấy"
Từ ấy là tập thơ đầu tay của Tố Hữu, gồm 71 bài được sáng tác trong
khoảng 10 năm kéo dài từ 1937 đến 1946 tương ứng với chặng đường cách
mạng từ phong trào Mặt trận Dân chủ Đông Dương đến Tổng khởi nghĩa tháng
Tám năm 1945 và Toàn quốc kháng chiến. Phần lớn các bài thơ trong tập được
đăng trên báo chí công khai và bí mật từ những năm 1938, được tập hợp lại và
xuất bản lần đầu năm 1946 với nhan đề Thơ, và năm 1959 tái bản có sửa chữa,
bổ sung, dưới tên gọi Từ ấy. Trong Câu chuyện về thơ Tố Hữu từng viết: "Từ
ấy là một tâm hồn trong trẻo của tuổi mười tám, đôi mươi, đi theo lý tưởng cao
đẹp, dám sống, dám đấu tranh".Tập thơ gồm ba phần: Máu lửa, Xiềng xích,
24
Giải phóng. Qua ba phần ấy, cảm hứng thơ Tố Hữu vận động từ niềm hân
hoan của tâm hồn trẻ nhiều băn khoăn về lẽ sống bỗng được gặp ánh sáng lí
tưởng; rồi qua bao gian lao, thử thách, từng bước trưởng thành trên con đường
đấu tranh cách mạng; đến niềm vui bất tuyệt, ngây ngất trước cuộc đổi đời vĩ
đại của dân tộc. Máu lửa bao gồm trong đó 27 bài thơ được sáng tác trong
khoảng 2 năm (từ cuối năm 1937 đến đầu năm 1939). Trong thời gian này, Mặt
trận Dân chủ Đông Dương đang phát triển mạnh dưới sự lãnh đạo của Đảng
cộng sản Đông Dương, đồng thời đây cũng là những năm tháng mà trên thế
giới, phong trào chống phát xít, bảo vệ dân chủ và hòa bình thế giới diễn ra sôi
nổi. Với riêng tác giả Tố Hữu, giai đoạn này cũng là lúc bước vào tuổi thanh
niên, được gặp gỡ lý tưởng cộng sản và trở thành một người chiến sĩ hăng hái,
một người lãnh đạo phong trào thanh niên dân chủ ở Huế. Phần Máu lửa cho
thấy nội dung chủ đạo là tiếng lòng đồng cảm với những thân phận bị đọa đày,
hắt hủi của những người lao động nghèo khổ ở thành thị và cất tiếng nói chống
chiến tranh phát xít, có ý nghĩa ở tầm nhân loại.Với riêng nhà thơ, Máu lửa
biểu hiện tiếng reo ca náo nức của một tâm hồn trẻ khát khao lẽ sống đã gặp lý
tưởng cách mạng, mà bài thơ Từ ấy là một điển hình:
1.2.2 Tập thơ "Việt Bắc"
Tập thơ thứ hai của Tố Hữu là Việt Bắc - cũng là tập thơ đánh dấu chặng
đường hoạt động thứ hai của chiến sĩ cách mạng Tố Hữu, được sáng tác chủ
yếu trong thời kỳ kháng chiến chống Pháp (1946-1954), gồm tổng cộng 24
bài. Chín năm thơ của Tố Hữu, từ Tổng khởi nghĩa, trải qua kháng chiến, đến
hòa bình, đã được tuyển lựa thành tập thơ Việt Bắc.Tập thơ là bản hùng ca
phản ánh những chặng đường gian lao, anh dũng và những bước đi lên của
cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp cho đến ngày thắng lợi.
Tập thơ hướng vào thể hiện con người quần chúng kháng chiến, mà tiêu
biểu cho tinh thần đó trước hết là hình ảnh quần chúng nhân dân, những
người gánh cả cuộc kháng chiến trên vai, đó là anh Vệ quốc quân hiên ngang
như thiên thần, là em bé liên lạc, và trên hết là hình ảnh Bác Hồ, lãnh tụ kính
yêu - hiện thân cho tinh hoa và trí tuệ của dân tộc vừa cao cả, lớn lao vừa bình
dị, gần gũi.
Anh Vệ quốc quân kháng chiến lần đầu vào trong thơ, hiện lên thật dung
dị, trong sáng lạ thường. Nhà thơ nhìn họ bằng đôi mắt yêu thương trân trọng:
Giọt giọt mồ hôi rơi
Trên má anh vàng nghệ