1
ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN NGUYỄN THỊ NGUYỆT NHỮNG BIỂU TƯỢNG NGHỆ THUẬT
TIÊU BIỂU TRONG THƠ TỐ HỮU
LUẬN VĂN THẠC SĨ
Chuyên ngành: Lý luận văn học
Luận văn Thạc sĩ chuyên ngành: Lý luận văn học
Mã số: 60 22 32
Người hướng dẫn khoa học: PGS.TS. Trần Khánh Thành
Hà Nội – 2011
1
MỤC LỤC
PHẦN MỞ ĐẦU 3
1. Lý do chọn đề tài 3
2. Lịch sử nghiên cứu vấn đề 4
3. Đối tƣợng và phạm vi nghiên cứu 8
4. Phƣơng pháp nghiên cứu 8
PHẦN KẾT LUẬN 119
TÀI LIỆU THAM KHẢO 121
3
PHẦN MỞ ĐẦU
1. Lý do chọn đề tài
Tố Hữu là nhà thơ cách mạng tiêu biểu của Việt Nam thời kỳ hiện đại.
Sự nghiệp sáng tác của ông gắn liền với đời sống dân tộc qua nhiều chặng
đường cách mạng, để lại nhiều tác phẩm thi ca có giá trị. Thơ Tố Hữu là bài
ca của thời đại Hồ Chí Minh, đấu tranh anh hùng và thắng lợi vẻ vang, bài ca
về lẽ sống lớn, về ân tình cách mạng sâu nặng, về niềm tin cách mạng mới mẻ,
Chí Minh thì thơ Tố Hữu là đề tài có nhiều thành tựu đáng kể. Các công trình
phê bình, giới thiệu của các nhà thơ nhà văn như Đặng Thai Mai, Hoài Thanh,
Xuân Diệu, Chế Lan Viên, Hoàng Trung Thông,… Các chuyên luận và bài
nghiên cứu của các tác giả Lê Đình Kỵ, Nguyễn Văn Hạnh, Trần Đình Sử, Hà
Minh Đức, Nguyễn Đăng Mạnh,… đều đã đề cập đến nhiều mặt quan trọng
khác nhau của thơ Tố Hữu.
Trước hết phải nói đến chuyên luận Thơ Tố Hữu (NXB Đại học và
trung học chuyên nghiệp) của tác giả Lê Đình Kỵ, xuất bản lần đầu vào năm
1979. Đây có thể gọi là công trình đầu tiên nghiên cứu về thơ Tố Hữu một
cách hệ thống, toàn diện cả nội dung và nghệ thuật. Tác giả Lê Đình Kỵ
nghiên cứu thơ Tố Hữu qua các tập thơ: Từ ấy (1937 - 1946), Việt Bắc (1946 -
1954), Gió lộng (1955 - 1961), Ra trận (1962 - 1971), Máu và Hoa (1972 -
1977). Tác giả đã khái quát những chủ đề lớn trong thơ Tố Hữu như: chủ đề
về Nhân dân - Đất nước - Đảng - Lãnh tụ. Những đặc điểm phong cách tư
tưởng - nghệ thuật trong sáng tác của nhà thơ như: lãng mạn cách mạng - trữ
trình cách mạng, phong cách dân tộc đậm đà… Có thể nói Lê Đình Kỵ đã có
những đánh giá hết sức khái quát, toàn diện về thơ Tố Hữu. Chuyên luận của
ông rất có ý nghĩa trong đời sống phê bình, nghiên cứu văn học. Tuy vậy, tác
5
giả của chuyên luận bước đầu tiếp cận thơ Tố Hữu về phương diện xã hội học
là chủ yếu. Vấn đề biểu tượng trong thơ Tố Hữu chưa thấy được nghiên cứu,
tìm hiểu.
Tác giả Hà Minh Đức với công trình giới thiệu, phê bình Tố Hữu -
Cách mạng và Thơ (NXB Đại học quốc gia Hà Nội, 2004) tập hợp tất cả các
bài viết của tác giả trong khoảng thời gian gần hai mươi năm. Phần Trò
chuyện và ghi chép về thơ có ý nghĩa như một món quà của nhà thơ với bạn
đọc mà tác giả Hà Minh Đức là người trực tiếp lắng nghe và ghi chép đầy đủ.
Phần Tiểu luận văn học gồm những bài viết về quá trình sáng tác qua các lời
giới thiệu thơ Tố Hữu, về một tác phẩm và cả lời bình về một vài bài thơ tiêu
trong việc tìm hiểu, nghiên cứu thơ Tố Hữu. Chuyên luận không xem xét
riêng phương pháp sáng tác - một trọng điểm sôi nổi của giới phê bình đương
thời mà chỉ đi sâu vào bình diện thi pháp loại hình và tác giả. Theo tác giả của
công trình thì đây là “thử nghiệm đầu tiên trong việc xác định nội hàm thơ trữ
tình chính trị, khái niệm kiểu nhà thơ, vận dụng các phạm trù thi pháp học
hiện đại như quan niệm nghệ thuật về con người, không gian nghệ thuật, thời
gian nghệ thuật, các hình thức biểu hiện để xem xét thế giới nghệ thuật của
nhà thơ” [62; 4]. Xuất phát từ quan điểm đó tác giả Trần Đình Sử đã nghiên
cứu các sáng tác của Tố Hữu từ những ngày đầu cho tới tập thơ Máu và Hoa
(1972 - 1977). Chuyên luận thực sự có giá trị trong việc tìm hiểu sáng tác của
Tố Hữu. Điều quan trọng là lần đầu tiên có một công trình nghiên cứu lớn về
thơ Tố Hữu đã đề cập đến vấn đề biểu tượng, cụ thể là con đường trong thơ
Tố Hữu. Khi nghiên cứu về không gian nghệ thuật trong thơ Tố Hữu, Trần
Đình Sử khẳng định: “Hình tượng không gian quan trọng nhất, đóng vai trò
xuyên suốt trong thế giới thơ Tố Hữu là con đường cách mạng. Hình tượng
con đường có thể nói là đặc điểm chung của thơ ca cách mạng Việt Nam và
7
của thơ ca cách mạng thế giới. Nhưng ở Tố Hữu được thể hiện nổi bật, nhất
quán trở thành nét tư duy cơ bản nhất của thơ ông” [62; 171]. Và lần đầu tiên
tác giả khẳng định: “Con đường là biểu tượng của sự thống nhất của không
gian và thời gian, là không gian vận động, không gian của con người đi tới”
[62; 171]. Như vậy Trần Đình Sử đã nghiên cứu con đường với tư cách là một
hình tượng không gian đồng thời là một biểu tượng về sự thống nhất không
gian và thời gian. Nhưng tác giả chưa khai thác sâu sắc biểu tượng con đường
thật cụ thể trong tất cả các tập thơ của Tố Hữu. Ông chỉ nêu khái quát những
biểu tượng con đường trong các tập thơ Từ ấy, Việt Bắc, Gió lộng, Ra trận,
Máu và Hoa - đó là con đường cách mạng, “con đường cách mạng là không
gian của con người tập thể, con người dâng tất cả để tôn thờ chủ nghĩa” [62;
178].
3. Đối tƣợng và phạm vi nghiên cứu
3.1. Đối tượng nghiên cứu:
Trong thơ Tố Hữu, hệ thống biểu tượng được nhà thơ sử dụng khá
phong phú nhưng chúng tôi lựa chọn ra những biểu tượng tiêu biểu như con
đường, dòng sông, con thuyền, ngọn cờ… để nghiên cứu.
3.2. Phạm vi nghiên cứu:
Phạm vi nghiên cứu của đề tài là toàn bộ sáng tác của Tố Hữu tập hợp
trong 7 tập thơ: Từ ấy, Việt Bắc, Gió lộng, Ra trận, Máu và Hoa, Một tiếng
đờn và Ta với ta.
4. Phƣơng pháp nghiên cứu
4.1. Phương pháp thống kê, hệ thống hóa:
Sử dụng phương pháp thống kê, hệ thống hóa nhằm tìm ra một các
chính xác số lần xuất hiện của các biểu tượng và so sánh được tấn suất xuất
hiện giữa các biểu tượng.
9
4.2. Phương pháp phân tích và tổng hợp:
Sử dụng phương pháp phân tích để đi vào từng bài thơ, tập thơ cụ thể,
khai thác các biểu tượng với các hàm nghĩa của nó. Từ đó nhằm làm nổi bật
tính cụ thể, cảm tính và tính tượng trưng, tính kí hiệu, tính thẩm mỹ của các
biểu tượng này trong hệ thống các biểu tượng của thơ Tố Hữu.
Sử dụng phương pháp tổng hợp để khái quát lại, rút ra đặc điểm chung
của các biểu tượng mà Tố Hữu thể hiện trong thơ.
4.3. Phương pháp so sánh:
So sánh các biểu tượng trong thơ Tố Hữu với các biểu tượng xuất hiện
trong một số sáng tác của các nhà thơ cùng thời. Từ đó làm nổi bật những biểu
tượng trong thơ Tố Hữu như một đặc điểm riêng, một nét đặc sắc để tìm ra
bản sắc thơ thơ ông.
5. Kết cấu luận văn
Ngoài phần mở đầu, mục lục và kết luận, tài liệu tham khảo, luận văn
vai trò của biểu tượng trong đời sống con người và cùng hợp lực trong hành
trình tiếp cận bản chất biểu tượng. Từ những góc độ của các lĩnh vực nghiên
cứu khác nhau, người ta đã khám phá biểu tượng ở nhiều khía cạnh, chúng
vừa bổ sung lẫn nhau, vừa có thể trái ngược nhau, cho ta hình dung về tính
năng động và sự đa diện của khái niệm này. Để hiểu rõ hơn về biểu tượng
chúng tôi xin nêu ra một số định nghĩa, kiến giải tiêu biểu về biểu tượng.
Theo Từ điển tiếng Việt, trên cơ sở khảo sát cách dùng thuật ngữ biểu
tượng trong đời sống hằng ngày, các soạn giả đã nêu lên ba nét nghĩa của biểu
tượng. Ở đây, chúng tôi chỉ nêu lên hai nét nghĩa có liên quan đến cách hiểu
biểu tượng của luận văn:
1. Hình ảnh tượng trưng.
11
2. Hình thức của nhận thức, cao hơn cảm giác, cho ta hình ảnh của sự
vật còn giữ lại trong đầu óc sau khi tác động của sự vật vào giác quan đã chấm
dứt.
Ở định nghĩa này, cần lưu ý: ở nét nghĩa thứ nhất, hình ảnh tượng trưng
được hiểu là một sự vật cụ thể có hình thức hoặc tính chất thích hợp để gợi ra
sự liên tưởng đến một cái trừu tượng nào đó. Còn định nghĩa thứ hai được rút
ra từ tâm lý học Macxit.
Trong nhịp sống hiện đại, biểu tượng xuất hiện nhiều trong các ngành
PR quảng cáo, tiếp thị sản phẩm, xây dựng thương hiệu và cả kỹ thuật tuyên
truyền chính trị nữa… Người ta sử dụng nó như một hình thức tín hiệu đầy
tiềm năng thông tin và có khả năng tác động mạnh mẽ. Trên cơ sở tìm hiểu, so
sánh, đối chiếu biểu tượng với các dạng thức tín hiệu như biểu trưng, phù
hiệu, huy hiệu, kí hiệu, huy chương, huân chương tác giả Nguyễn Duy Lẫm
đã đúc kết trong cuốn Biểu tượng một khái niệm về biểu tượng là hình thức tín
hiệu có nội hàm phong phú hơn cả. Tác giả đã kết luận: Biểu tượng là những
hình tượng ẩn dụ, mang sức mạnh của tâm thức, thường được bảo tồn lâu bền
trong ký ức con người.
Chính vì vậy họ cũng đưa ra những lý giải thú vị và sâu sắc những hiện tượng
tâm linh bấy lâu vẫn chìm trong bóng tối. Và biểu tượng trở thành một trong
những đối tượng khảo sát chủ yếu, bởi theo họ, đây là những cầu nối hiếm hoi
bắc từ ý thức qua vô thức, là những tia sáng vừa phát lộ vừa che lấp phát ra từ
miền nội tâm của con người.
Freud cho rằng: “Biểu tượng diễn đạt một cách gián tiếp, bóng gió và ít
nhiều khó nhận ra niềm ham muốn hay các xung đột. Biểu tượng là mối liên
kết thống nhất nội dung rõ rệt của một hành vi, một tư tưởng, một lời nói với
ý nghĩa tiềm ẩn của chúng” [7; 24]. Như vậy theo Freud, biểu tượng luôn là
13
tiếng nói của những ham muốn bị dồn nén, những xung đột chìm sâu trong vô
thức con người. Cũng cần lưu ý rằng những ham muốn ở đây, theo Freud, là
những ham muốn tính dục.
C.G.Jung - môn đệ xuất sắc của Freud - với hướng đi riêng của mình,
đã có rất nhiều đóng góp có giá trị trong kiến giải về biểu tượng. Từ lý thuyết
về vô thức tập thể, Jung cho rằng tất cả biểu tượng của con người dù phong
phú đa dạng đến đâu, đi đến tận cùng, đều có cấu trúc là những Mẫu gốc. Mẫu
gốc là những vết tích tâm lý hình thành từ thời nguyên thủy, duy trì theo loài
và tạo thành những cấu trúc tâm thần phổ biến của loài người. Thực ra, đây là
kết tinh của vô số những kinh nghiệm, những tình huống cảm xúc của loài
người. Biểu tượng mẫu gốc, do đó, nối liền cái phổ quát với cái cá thể. Jung
đã đưa ra định nghĩa trong đó nêu bật được những đặc tính, những giá trị cơ
bản của biểu tượng: “Biểu tượng là hình ảnh thích hợp chỉ ra đúng hơn cái bản
chất ta mơ hồ nghi hoặc của tâm linh…, nó không cắt nghĩa, nó đưa ra bên
ngoài chính nó đến một ý nghĩa còn nằm tận phía xa kia, không thể nắm bắt;
được dự cảm một cách mơ hồ, và không có từ nào trong ngôn ngữ chúng ta có
thể diễn đạt thỏa đáng” [tr.24]. Nói đến tính chất sống động, khả năng đánh
thức những sức mạnh tâm linh con người của biểu tượng, Jung cho rằng biểu
tượng sống là “biểu hiện tuyệt đỉnh của cái được dự cảm nhưng còn chưa
rung động trong ý thức cá nhân và tập thể; 8 - chức năng siêu nghiệm, kết nối,
điều hòa những lực lượng đối kháng, mở đường cho sự tiến bộ của ý thức; 9 -
chức năng biến đổi năng lượng tâm thần.
Đây chỉ là một sự nghiên cứu và đánh giá có ý nghĩa thao tác. Các tác
giả cũng đã lưu ý rằng trên thực tế, những chức năng này thực hiện đồng thời
trong những mối quan hệ tương hợp, chi phối lẫn nhau.
15
Trên đây, chúng tôi điểm qua một số định nghĩa về biểu tượng từ góc
độ văn hoá và tất yếu không tránh khỏi sự sơ lược và phiến diện so với thực tế
đầy đa dạng và phức tạp. Tuy nhiên chúng tôi cũng nhận thấy đây là một cái
“phông” không thể thiếu để chúng ta đi vào tiếp cận khái niệm từ góc độ mỹ
học, lí luận văn học.
Xuất phát từ những nền tảng triết học khác nhau, các khuynh hướng,
trường phái nghiên cứu phê bình văn học có những lý giải không giống nhau
về biểu tượng. Trên cơ sở tiếp thu những hạt nhân hợp lý trong những quan
niệm đó, dưới ánh sáng phản ánh luận Mác - Lênin, mỹ học, lí luận văn học
Macxit đã lý giải một cách thỏa đáng vấn đề biểu tượng trong văn học nghệ
thuật.
Tổng hợp những thành tựu mỹ học, lý luận văn học Macxit, các soạn
giả của cuốn Từ điển thuật ngữ văn học đã định nghĩa biểu tượng như sau:
Trong nghĩa rộng biểu tượng thể hiện “đặc trưng phản ánh cuộc sống bằng
hình tượng văn học nghệ thuật”. Văn học nghệ thuật là một hình thái ý thức
xã hội đặc thù, phản ánh thế giới khách quan theo những nguyên tắc, phương
thức, phương tiện riêng. Hình tượng - phương tiện phản ánh đời sống của văn
học nghệ thuật - vừa là sự tái hiện thế giới, đồng thời cũng là hiện tượng đầy
tính ước lệ. Các tác giả đã lý giải: “Bằng hình tượng, nghệ thuật sáng tạo ra
một thế giới hoàn toàn mang tính biểu tượng”. Như vậy, theo nghĩa rộng khái
niệm biểu tượng gần gũi với tính ước lệ trong văn học nghệ thuật.
Theo nghĩa hẹp, biểu tượng là “một phương thức chuyển mã của lời
ý nghĩa của biểu tượng trong đời sống tinh thần con người - đối tượng phản
ánh trung tâm của văn học nghệ thuật.
Từ xa xưa, khi con người bắt đầu thoát thai khỏi loài thú, cái gọi là biểu
tượng đã tồn tại như một bộ phận cấu thành đời sống tinh thần con người và từ
17
bấy đến nay âm thầm xây cất nên nền tảng văn hoá nhân loại. Quả thực, con
người sống giữa một “rừng biểu tượng” - như cách nói của chủ soái thi phái
tượng trưng Pháp Baudelaire - điều đó có nghĩa là cả một thế giới biểu tượng
sống trong con người.
Sự tạo thành biểu tượng trong tâm thức nhân loại là một quá trình vô
thức, nhưng tự bản thân chúng thể hiện nỗ lực của con người muốn xuyên qua
bức màn mờ mịt của hiện thực, vượt lên những kinh nghiệm của cá nhân, đơn
lẻ để nhận thức về một thực tại tổng thể toàn vẹn. Không phải ngẫu nhiên mà
khát khao khám phá những bí ẩn là khát vọng thường trực trong bản tính con
người.
Các nhà Phân tâm học là những người đi tiên phong trong việc phát
hiện và “chính danh” vị trí cho thế giới vô thức trong ngôi nhà tinh thần của
con người. Lần đầu tiên người ta sửng sốt nhận ra vô thức là người bạn đồng
hành có quyền lực không kém gì ý thức trong việc bẻ lái cho đời sống nhân
loại. Cái vô thức luôn luôn hiện hữu trong cuộc sống dưới những hình thức
che giấu, mã hóa, theo những cách khác nhau để “tránh sự kiểm duyệt của ý
thức” - đại diện cho phần xã hội trong con người theo ý của Freud. Từ khi đời
sống con người phân chia giai cấp, đời sống tinh thần của con người cũng
phân ra thành hai bộ phận: chính thống và phi chính thống. Cái bộ phận không
thể công khai kia vẫn tồn tại như một dòng chảy ngầm mà nơi cư ngụ chủ yếu
nhất vẫn là dòng văn hóa dân gian. Nó sống bằng biểu tượng, bằng những
hình thức cải trang. Điều này được M.Bakhtin lý giải một cách sâu sắc khi bàn
đến nguồn gốc dân gian của sự hình thành thể loại tiểu thuyết. Như vậy không
phải ngẫu nhiên mà các nhà phân tâm học kỳ công tìm hiểu, nghiên cứu. Biểu
luận. Đặt trong tương quan với phản ánh thông thường và phản ánh khoa học,
phản ánh nghệ thuật được đặc trưng bởi nguyên tắc phản ánh, phương thức,
19
phương tiện, hình thức phản ánh… Không thể đồng nhất một cách máy móc
cái được thể hiện trong tác phẩm văn học với hiện thực khách quan, bởi vì
khác với phản ánh thông thường, phản ánh nghệ thuật không phải là sự sao
chép, chụp ảnh hiện thực mà là một sự phản ánh đầy năng động, sáng tạo, đầy
tính chủ quan. Tất nhiên cũng giống như khoa học, nghệ thuật không thể ôm
trùm, chiếm lĩnh đời sống trong toàn bộ quá trình của nó, vì hiện thực là một
quá trình vô cùng đa diện, phức tạp, biến hóa vô cùng, mãi mãi vận động và
biến chuyển. Phản ánh khoa học phân cắt thế giới thành từng mảnh, đoạn, cô
lập các tiến trình đời sống, tiến hành một sự trừu tượng hóa triệt để, biến “cái
tự nó” thành “cái cho ta” dưới hình thức các khái niệm, quy luật, quy tắc.
Phản ánh nghệ thuật cũng chỉ chiếm lĩnh được một vài khía cạnh nào đó của
chân lý khách quan, nhưng với vai trò sáng tạo cao độ của chủ thể, mảng hiện
thực được chiếm lĩnh kia được nhào nặn, tái tạo thành một sinh thể có sức
sống nội tại, một tiểu vũ trụ với chiều sâu vô tận những quy luật, những quá
trình sinh hoá không ngừng. Hiện thực trong tác phẩm đã không còn là một
hiện thực khách quan, nó đã là “cái cho ta” thấm đẫm chủ quan nghệ sỹ.
Nhưng hiện lên dưới hình thức “cái tự nó” tác phẩm luôn gợi lên dòng chảy
bất tận của cuộc sống. Thâm nhập vào trường tác phẩm, người ta phải ngầm
định đây là một thế giới mang tính biểu tượng, chấp nhận những quy luật
riêng, những nguyên tắc, tỉ lệ riêng của cái mô hình về đời sống đó. Chỉ với
hình thức mang tính biểu tượng như thế, văn học nghệ thuật mới có thể chiếm
lĩnh được những chân lý phổ quát ở dạng sinh động, cụ thể, cảm tính. Như
vậy, ở đây, tính biểu tượng là một đặc trưng mang tính bản chất của hình
tượng nghệ thuật làm cho hình tượng là sự phản ánh hiện thực nhưng không
bao giờ là chính bản thân hiện thực.
Tuy nhiên, hình tượng nghệ thuật muốn trở thành biểu tượng thì phải có
21
quan niệm của nghệ sỹ. Bởi vậy hình tượng nghệ thuật không chỉ phản ánh mà
còn khái quát hiện thực, khám phá cái cốt lõi, cái bất biến, cái vĩnh cửu trong
cái đơn lẻ, nhất thời, ngẫu nhiên. Nhưng khác với các khái niệm trừu tượng,
hình tượng lại mang tính biểu hiện, nó bảo lưu tính chỉnh thể, tính độc đáo
không lặp lại của các hiện tượng.
Hình tượng nghệ thuật không chỉ đặc trưng bởi việc phản ánh và lí giải
hiện thực, mà còn bởi việc nó sáng tạo một thế giới khác thế giới thường, thế
giới mang tính hư cấu.
Vì những lẽ trên, cấu trúc của hình tượng nghệ thuật là phương thức
chiếm lĩnh và tái tạo hiện thực riêng biệt vốn có và chỉ có ở nghệ thuật.
Hình tượng nghệ thuật thể hiện bằng chất liệu ngôn từ nghệ thuật; cũng
có thể gọi đó là hình tượng ngôn từ. Chất liệu của tác phẩm nghệ thuật ngôn
từ không phải là thực thể vật thể mà là một hệ thống kí hiệu ngôn ngữ, hình
tượng ngôn ngữ, do đó ít tính biểu biểu hiện thị giác so với hình tượng nghệ
thuật tạo hình. Ngay khi sử dụng đậm đặc các từ tạo hình cụ thể cái mà nhà
thơ tạo ra không phải là một diện mạo thị giác về sự vật mà chỉ là những liên
hệ, liên tưởng về ngữ nghĩa gợi ra ảo giác về diện mạo ấy.
Hình tượng ngôn từ có sự khúc xạ của một yếu tố này trong yếu tố
khác, có sự xuyên thấm lẫn nhau về ngữ nghĩa nhưng ở đó không có sự sáng
rõ, độ phân giải về nét như ở hội họa. Do mang tính ước lệ, hình tượng ngôn
từ không thể biến thành kí hiệu, ngược lại nó khắc phục tính kí hiệu của bản
thân ngôn từ.
Đặc điểm nổi bật của hình tượng văn học là sự thống nhất giữa khách
thể và chủ thể sáng tạo hình tượng, giữa hiện thực và lí tưởng, giữa khái quát
và cụ thể… Do đó hình tượng văn học mang tính biểu cảm cao. Mỗi giai đoạn
văn học có các hình tượng trung tâm khác nhau. Khi chế độ phong kiến hưng
thịnh, Nho giáo được coi trọng thì văn học chữ Nho phát triển. Hình tượng
Chúng là biểu tượng và cũng là hình tượng văn học.
Tuy vậy, hình tượng văn học chưa chắc đã là biểu tượng văn học. Trong
sáng tác của nhà văn, xây dựng hình tượng nhân vật là những con người cụ
thể thì những hình tượng này không mang tính ý nghĩa biểu tượng, ví dụ hình
tượng Bác Hồ, hình tượng người mẹ, anh bộ đội, anh giao liên v.v. trong thơ
Tố Hữu. Đó đơn thuần chỉ là các hình tượng văn học. Như vậy trong tác phẩm
văn học các hình tượng và biểu tượng chỉ có tính thống nhất chứ không đồng
nhất với nhau.
1.2. Hành trình thơ Tố Hữu
1.2.1. “Từ ấy” đến “Ta với ta”
Tập thơ đầu tiên đánh dấu bước ngoặt trong cuộc đời hoạt động cách
mạng của Tố Hữu chính là Từ ấy. Tiếng thơ của một thanh niên giàu nhiệt
huyết, giác ngộ cách mạng và nhận ra con đường thực hiện lý tưởng của mình,
một con đường đầy gian lao, đầy hi sinh nhưng vô cùng cao đẹp.
Từ ấy trong tôi bừng nắng hạ
Mặt trời chân lý chói qua tim
Hồn tôi là một vườn hoa lá
Rất đậm hương và rộn tiếng chim
Thơ Tố Hữu viết ra để phục vụ cách mạng như cuộc đời nhà thơ để
dành riêng cho cách mạng, thơ là vũ khí chiến đấu thực sự đắc lực. Ông làm
thơ không nhằm mục đích giải thoát, càng không phải muốn có một sự nghiệp
thi ca, mà làm thơ như một chiến sỹ cách mạng, làm công tác tư tưởng chính
trị trong quần chúng. Vận dụng nghệ thuật vào đời sống cách mạng sục sôi với
nhiều biến động dữ dội, nhưng người ta nhận ra nhà thơ và chiến sỹ trong ông
là một “Sống là hành động, thơ cũng là hành động. Thơ, với Tố Hữu là hình
thức tươi đẹp của hoạt động cách mạng, của sự sống” [59; 135]. Từ ấy được