ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
------------------------------
NGUYỄN THỊ NGUYỆT
NHỮNG BIỂU TƯỢNG NGHỆ THUẬT
TIÊU BIỂU TRONG THƠ TỐ HỮU
LUẬN VĂN THẠC SĨ
Chuyên ngành: Lý luận văn học
Hà Nội – 2011
1
ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
---------------------------------------
NGUYỄN THỊ NGUYỆT
NHỮNG BIỂU TƯỢNG NGHỆ THUẬT
TIÊU BIỂU TRONG THƠ TỐ HỮU
Luận văn Thạc sĩ chuyên ngành: Lý luận văn học
Mã số: 60 22 32
Người hướng dẫn khoa học: PGS.TS. Trần Khánh Thành
2.2.1. Biểu tượng dòng sông .................................................................... 76
2.2.2. Biểu tượng con thuyền ................................................................... 82
1
2.2.3. Biểu tượng ngọn cờ ........................................................................ 90
CHƢƠNG 3: VÀI NÉT VỀ NGHỆ THUẬT XÂY DỰNG BIỂU
TƢỢNG TRONG THƠ TỐ HỮU ........................................................... 96
3.1. Biểu tƣợng xuất hiện trong không gian, thời gian lịch sử cụ thể ... 96
3.2. Biểu tƣợng xuất hiện trong không gian và thời gian tƣởng tƣợng
................................................................................................................ 105
3.3. Biểu tƣợng đƣợc xây dựng bằng nghệ thuật liên tƣởng ............... 111
PHẦN KẾT LUẬN ................................................................................... 119
TÀI LIỆU THAM KHẢO........................................................................ 121
2
PHẦN MỞ ĐẦU
1. Lý do chọn đề tài
Tố Hữu là nhà thơ cách mạng tiêu biểu của Việt Nam thời kỳ hiện đại.
Sự nghiệp sáng tác của ông gắn liền với đời sống dân tộc qua nhiều chặng
đường cách mạng, để lại nhiều tác phẩm thi ca có giá trị. Thơ Tố Hữu là bài
ca của thời đại Hồ Chí Minh, đấu tranh anh hùng và thắng lợi vẻ vang, bài ca
về lẽ sống lớn, về ân tình cách mạng sâu nặng, về niềm tin cách mạng mới mẻ,
trong trẻo. Sự nghiệp sáng tác của Tố Hữu gói gọn trong 7 tập thơ, so với một
số nhà thơ cùng thời thì số lượng đó chưa phải là nhiều nhất. Tuy vậy, giá trị
thơ ông đã được khẳng định, đã “thực sự trở thành một bộ phận không thể
tách rời đời sống tâm hồn Việt Nam”. Thế giới nghệ thuật thơ Tố Hữu trở
Xuân Diệu, Chế Lan Viên, Hoàng Trung Thông,… Các chuyên luận và bài
nghiên cứu của các tác giả Lê Đình Kỵ, Nguyễn Văn Hạnh, Trần Đình Sử, Hà
Minh Đức, Nguyễn Đăng Mạnh,… đều đã đề cập đến nhiều mặt quan trọng
khác nhau của thơ Tố Hữu.
Trước hết phải nói đến chuyên luận Thơ Tố Hữu (NXB Đại học và
trung học chuyên nghiệp) của tác giả Lê Đình Kỵ, xuất bản lần đầu vào năm
1979. Đây có thể gọi là công trình đầu tiên nghiên cứu về thơ Tố Hữu một
cách hệ thống, toàn diện cả nội dung và nghệ thuật. Tác giả Lê Đình Kỵ
nghiên cứu thơ Tố Hữu qua các tập thơ: Từ ấy (1937 - 1946), Việt Bắc (1946 1954), Gió lộng (1955 - 1961), Ra trận (1962 - 1971), Máu và Hoa (1972 1977). Tác giả đã khái quát những chủ đề lớn trong thơ Tố Hữu như: chủ đề
về Nhân dân - Đất nước - Đảng - Lãnh tụ. Những đặc điểm phong cách tư
tưởng - nghệ thuật trong sáng tác của nhà thơ như: lãng mạn cách mạng - trữ
trình cách mạng, phong cách dân tộc đậm đà… Có thể nói Lê Đình Kỵ đã có
những đánh giá hết sức khái quát, toàn diện về thơ Tố Hữu. Chuyên luận của
ông rất có ý nghĩa trong đời sống phê bình, nghiên cứu văn học. Tuy vậy, tác
4
giả của chuyên luận bước đầu tiếp cận thơ Tố Hữu về phương diện xã hội học
là chủ yếu. Vấn đề biểu tượng trong thơ Tố Hữu chưa thấy được nghiên cứu,
tìm hiểu.
Tác giả Hà Minh Đức với công trình giới thiệu, phê bình Tố Hữu Cách mạng và Thơ (NXB Đại học quốc gia Hà Nội, 2004) tập hợp tất cả các
bài viết của tác giả trong khoảng thời gian gần hai mươi năm. Phần Trò
chuyện và ghi chép về thơ có ý nghĩa như một món quà của nhà thơ với bạn
đọc mà tác giả Hà Minh Đức là người trực tiếp lắng nghe và ghi chép đầy đủ.
Phần Tiểu luận văn học gồm những bài viết về quá trình sáng tác qua các lời
giới thiệu thơ Tố Hữu, về một tác phẩm và cả lời bình về một vài bài thơ tiêu
biểu của Tố Hữu. Trong công trình này Hà Minh Đức có những khái quát lớn
về đời thơ Tố Hữu. Ông đánh giá Tố Hữu là “một tài năng thơ ca thuộc về
nhân dân và dân tộc” [21; 173], nêu bật được sáng tạo và thành tựu qua những
riêng phương pháp sáng tác - một trọng điểm sôi nổi của giới phê bình đương
thời mà chỉ đi sâu vào bình diện thi pháp loại hình và tác giả. Theo tác giả của
công trình thì đây là “thử nghiệm đầu tiên trong việc xác định nội hàm thơ trữ
tình chính trị, khái niệm kiểu nhà thơ, vận dụng các phạm trù thi pháp học
hiện đại như quan niệm nghệ thuật về con người, không gian nghệ thuật, thời
gian nghệ thuật, các hình thức biểu hiện để xem xét thế giới nghệ thuật của
nhà thơ” [62; 4]. Xuất phát từ quan điểm đó tác giả Trần Đình Sử đã nghiên
cứu các sáng tác của Tố Hữu từ những ngày đầu cho tới tập thơ Máu và Hoa
(1972 - 1977). Chuyên luận thực sự có giá trị trong việc tìm hiểu sáng tác của
Tố Hữu. Điều quan trọng là lần đầu tiên có một công trình nghiên cứu lớn về
thơ Tố Hữu đã đề cập đến vấn đề biểu tượng, cụ thể là con đường trong thơ
Tố Hữu. Khi nghiên cứu về không gian nghệ thuật trong thơ Tố Hữu, Trần
Đình Sử khẳng định: “Hình tượng không gian quan trọng nhất, đóng vai trò
xuyên suốt trong thế giới thơ Tố Hữu là con đường cách mạng. Hình tượng
con đường có thể nói là đặc điểm chung của thơ ca cách mạng Việt Nam và
6
của thơ ca cách mạng thế giới. Nhưng ở Tố Hữu được thể hiện nổi bật, nhất
quán trở thành nét tư duy cơ bản nhất của thơ ông” [62; 171]. Và lần đầu tiên
tác giả khẳng định: “Con đường là biểu tượng của sự thống nhất của không
gian và thời gian, là không gian vận động, không gian của con người đi tới”
[62; 171]. Như vậy Trần Đình Sử đã nghiên cứu con đường với tư cách là một
hình tượng không gian đồng thời là một biểu tượng về sự thống nhất không
gian và thời gian. Nhưng tác giả chưa khai thác sâu sắc biểu tượng con đường
thật cụ thể trong tất cả các tập thơ của Tố Hữu. Ông chỉ nêu khái quát những
biểu tượng con đường trong các tập thơ Từ ấy, Việt Bắc, Gió lộng, Ra trận,
Máu và Hoa - đó là con đường cách mạng, “con đường cách mạng là không
gian của con người tập thể, con người dâng tất cả để tôn thờ chủ nghĩa” [62;
chúng tôi mạnh dạn bước đầu tìm hiểu, nghiên cứu giá trị của các biểu tượng
này trong hệ thống các biểu tượng trong thơ Tố Hữu. Vì vậy đây có thể coi
đây là đề tài đầu tiên nghiên cứu thơ Tố Hữu ở góc độ biểu tượng.
3. Đối tƣợng và phạm vi nghiên cứu
3.1. Đối tượng nghiên cứu:
Trong thơ Tố Hữu, hệ thống biểu tượng được nhà thơ sử dụng khá
phong phú nhưng chúng tôi lựa chọn ra những biểu tượng tiêu biểu như con
đường, dòng sông, con thuyền, ngọn cờ… để nghiên cứu.
3.2. Phạm vi nghiên cứu:
Phạm vi nghiên cứu của đề tài là toàn bộ sáng tác của Tố Hữu tập hợp
trong 7 tập thơ: Từ ấy, Việt Bắc, Gió lộng, Ra trận, Máu và Hoa, Một tiếng
đờn và Ta với ta.
4. Phƣơng pháp nghiên cứu
4.1. Phương pháp thống kê, hệ thống hóa:
Sử dụng phương pháp thống kê, hệ thống hóa nhằm tìm ra một các
chính xác số lần xuất hiện của các biểu tượng và so sánh được tấn suất xuất
hiện giữa các biểu tượng.
8
4.2. Phương pháp phân tích và tổng hợp:
Sử dụng phương pháp phân tích để đi vào từng bài thơ, tập thơ cụ thể,
khai thác các biểu tượng với các hàm nghĩa của nó. Từ đó nhằm làm nổi bật
tính cụ thể, cảm tính và tính tượng trưng, tính kí hiệu, tính thẩm mỹ của các
biểu tượng này trong hệ thống các biểu tượng của thơ Tố Hữu.
Sử dụng phương pháp tổng hợp để khái quát lại, rút ra đặc điểm chung
của các biểu tượng mà Tố Hữu thể hiện trong thơ.
4.3. Phương pháp so sánh:
So sánh các biểu tượng trong thơ Tố Hữu với các biểu tượng xuất hiện
trình tiếp cận bản chất biểu tượng. Từ những góc độ của các lĩnh vực nghiên
cứu khác nhau, người ta đã khám phá biểu tượng ở nhiều khía cạnh, chúng
vừa bổ sung lẫn nhau, vừa có thể trái ngược nhau, cho ta hình dung về tính
năng động và sự đa diện của khái niệm này. Để hiểu rõ hơn về biểu tượng
chúng tôi xin nêu ra một số định nghĩa, kiến giải tiêu biểu về biểu tượng.
Theo Từ điển tiếng Việt, trên cơ sở khảo sát cách dùng thuật ngữ biểu
tượng trong đời sống hằng ngày, các soạn giả đã nêu lên ba nét nghĩa của biểu
tượng. Ở đây, chúng tôi chỉ nêu lên hai nét nghĩa có liên quan đến cách hiểu
biểu tượng của luận văn:
1. Hình ảnh tượng trưng.
10
2. Hình thức của nhận thức, cao hơn cảm giác, cho ta hình ảnh của sự
vật còn giữ lại trong đầu óc sau khi tác động của sự vật vào giác quan đã chấm
dứt.
Ở định nghĩa này, cần lưu ý: ở nét nghĩa thứ nhất, hình ảnh tượng trưng
được hiểu là một sự vật cụ thể có hình thức hoặc tính chất thích hợp để gợi ra
sự liên tưởng đến một cái trừu tượng nào đó. Còn định nghĩa thứ hai được rút
ra từ tâm lý học Macxit.
Trong nhịp sống hiện đại, biểu tượng xuất hiện nhiều trong các ngành
PR quảng cáo, tiếp thị sản phẩm, xây dựng thương hiệu và cả kỹ thuật tuyên
truyền chính trị nữa… Người ta sử dụng nó như một hình thức tín hiệu đầy
tiềm năng thông tin và có khả năng tác động mạnh mẽ. Trên cơ sở tìm hiểu, so
sánh, đối chiếu biểu tượng với các dạng thức tín hiệu như biểu trưng, phù
hiệu, huy hiệu, kí hiệu, huy chương, huân chương... tác giả Nguyễn Duy Lẫm
đã đúc kết trong cuốn Biểu tượng một khái niệm về biểu tượng là hình thức tín
hiệu có nội hàm phong phú hơn cả. Tác giả đã kết luận: Biểu tượng là những
hình tượng ẩn dụ, mang sức mạnh của tâm thức, thường được bảo tồn lâu bền
nhà tiên phong vĩ đại trong việc phát giác và khảo sát lĩnh vực vô thức của con
người. Bằng những khám phá táo bạo của mình, họ đã làm sáng tỏ cấu trúc
chiều sâu của đời sống tâm linh con người với sức mạnh, vai trò của vô thức.
Chính vì vậy họ cũng đưa ra những lý giải thú vị và sâu sắc những hiện tượng
tâm linh bấy lâu vẫn chìm trong bóng tối. Và biểu tượng trở thành một trong
những đối tượng khảo sát chủ yếu, bởi theo họ, đây là những cầu nối hiếm hoi
bắc từ ý thức qua vô thức, là những tia sáng vừa phát lộ vừa che lấp phát ra từ
miền nội tâm của con người.
Freud cho rằng: “Biểu tượng diễn đạt một cách gián tiếp, bóng gió và ít
nhiều khó nhận ra niềm ham muốn hay các xung đột. Biểu tượng là mối liên
kết thống nhất nội dung rõ rệt của một hành vi, một tư tưởng, một lời nói với
ý nghĩa tiềm ẩn của chúng” [7; 24]. Như vậy theo Freud, biểu tượng luôn là
12
tiếng nói của những ham muốn bị dồn nén, những xung đột chìm sâu trong vô
thức con người. Cũng cần lưu ý rằng những ham muốn ở đây, theo Freud, là
những ham muốn tính dục.
C.G.Jung - môn đệ xuất sắc của Freud - với hướng đi riêng của mình,
đã có rất nhiều đóng góp có giá trị trong kiến giải về biểu tượng. Từ lý thuyết
về vô thức tập thể, Jung cho rằng tất cả biểu tượng của con người dù phong
phú đa dạng đến đâu, đi đến tận cùng, đều có cấu trúc là những Mẫu gốc. Mẫu
gốc là những vết tích tâm lý hình thành từ thời nguyên thủy, duy trì theo loài
và tạo thành những cấu trúc tâm thần phổ biến của loài người. Thực ra, đây là
kết tinh của vô số những kinh nghiệm, những tình huống cảm xúc của loài
người. Biểu tượng mẫu gốc, do đó, nối liền cái phổ quát với cái cá thể. Jung
đã đưa ra định nghĩa trong đó nêu bật được những đặc tính, những giá trị cơ
bản của biểu tượng: “Biểu tượng là hình ảnh thích hợp chỉ ra đúng hơn cái bản
chất ta mơ hồ nghi hoặc của tâm linh…, nó không cắt nghĩa, nó đưa ra bên
đã tiến hành sự phân loại và phân tích các chức năng của biểu tượng. Tóm lại
có các chức năng sau: 1 - thăm dò những vùng miền nằm bên lề ý thức; 2 - là
vật thay thế “cái không xác định của dự cảm”; 3 - trung gian: nối liền thực và
mộng, ý thức và vô thức, vật chất và tinh thần, tự nhiên và văn hóa; 4 - là lực
lượng thống nhất - liên kết các chiều sâu nội tại với cái siêu tại vô tận; 5 - giáo
dục và trị liệu; 6 - xã hội hóa, nghĩa là đưa con người nhập sâu vào hiện thực,
tạo sự lưu thông sâu sắc với môi trường xã hội; 7 - cộng hưởng tạo âm vang
rung động trong ý thức cá nhân và tập thể; 8 - chức năng siêu nghiệm, kết nối,
điều hòa những lực lượng đối kháng, mở đường cho sự tiến bộ của ý thức; 9 chức năng biến đổi năng lượng tâm thần.
Đây chỉ là một sự nghiên cứu và đánh giá có ý nghĩa thao tác. Các tác
giả cũng đã lưu ý rằng trên thực tế, những chức năng này thực hiện đồng thời
trong những mối quan hệ tương hợp, chi phối lẫn nhau.
14
Trên đây, chúng tôi điểm qua một số định nghĩa về biểu tượng từ góc
độ văn hoá và tất yếu không tránh khỏi sự sơ lược và phiến diện so với thực tế
đầy đa dạng và phức tạp. Tuy nhiên chúng tôi cũng nhận thấy đây là một cái
“phông” không thể thiếu để chúng ta đi vào tiếp cận khái niệm từ góc độ mỹ
học, lí luận văn học.
Xuất phát từ những nền tảng triết học khác nhau, các khuynh hướng,
trường phái nghiên cứu phê bình văn học có những lý giải không giống nhau
về biểu tượng. Trên cơ sở tiếp thu những hạt nhân hợp lý trong những quan
niệm đó, dưới ánh sáng phản ánh luận Mác - Lênin, mỹ học, lí luận văn học
Macxit đã lý giải một cách thỏa đáng vấn đề biểu tượng trong văn học nghệ
thuật.
Tổng hợp những thành tựu mỹ học, lý luận văn học Macxit, các soạn
giả của cuốn Từ điển thuật ngữ văn học đã định nghĩa biểu tượng như sau:
Trong nghĩa rộng biểu tượng thể hiện “đặc trưng phản ánh cuộc sống bằng
với bản chất của nó. Sự cứng nhắc của khái niệm rất dễ làm biểu tượng mất đi
sự sống động và trở nên xơ cứng. Tuy nhiên như Phan Ngọc đã nói, khái niệm
là cây gậy chống của tư duy, chúng tôi buộc phải xác định cho mình giới hạn
của khái niệm với tư cách là công cụ để thực hiện đề tài. Ngay phần sau đây,
chúng tôi sẽ trình bày khái niệm biểu tượng từ góc độc tiếp cận của mình, tất
nhiên đặt trong mối quan hệ với bản chất xuyên suốt của biểu tượng.
1.1.2. Biểu tượng trong văn học nghệ thuật - một loại hình tượng đặc
biệt
Để hiểu rõ biểu tượng như một yếu tố thuộc bản thể tác phẩm văn học,
trước hết, chúng tôi xin bàn về một số vấn đề xung quanh nguồn gốc, vai trò,
ý nghĩa của biểu tượng trong đời sống tinh thần con người - đối tượng phản
ánh trung tâm của văn học nghệ thuật.
Từ xa xưa, khi con người bắt đầu thoát thai khỏi loài thú, cái gọi là biểu
tượng đã tồn tại như một bộ phận cấu thành đời sống tinh thần con người và từ
16
bấy đến nay âm thầm xây cất nên nền tảng văn hoá nhân loại. Quả thực, con
người sống giữa một “rừng biểu tượng” - như cách nói của chủ soái thi phái
tượng trưng Pháp Baudelaire - điều đó có nghĩa là cả một thế giới biểu tượng
sống trong con người.
Sự tạo thành biểu tượng trong tâm thức nhân loại là một quá trình vô
thức, nhưng tự bản thân chúng thể hiện nỗ lực của con người muốn xuyên qua
bức màn mờ mịt của hiện thực, vượt lên những kinh nghiệm của cá nhân, đơn
lẻ để nhận thức về một thực tại tổng thể toàn vẹn. Không phải ngẫu nhiên mà
khát khao khám phá những bí ẩn là khát vọng thường trực trong bản tính con
người.
Các nhà Phân tâm học là những người đi tiên phong trong việc phát
hiện và “chính danh” vị trí cho thế giới vô thức trong ngôi nhà tinh thần của
Các ngành khoa học xã hội và nhân văn trong hành trình phát triển của
mình có sự gặp gỡ nhau ở biểu tượng. Biểu tượng là chiếc cầu nối văn hóa,
văn học, tín ngưỡng tôn giáo, tâm lý học…, bởi rằng đây là lĩnh vực khác
nhau, những hình thái khác nhau, phản ánh thế giới tâm linh con người. Khó
mà hiểu sâu sắc biểu tượng trong riêng một lĩnh vực nào đó nếu không đặt nó
trong mối quan hệ liên tưởng đối chiếu rộng rãi với các lĩnh vực khác.
Như đã nói ở phần trước, trong văn học nghệ thuật, khái niệm biểu
tượng chứa đựng nhiều cấp độ ý nghĩa khác nhau. Trước khi tiếp cận biểu
tượng với ý nghĩa là một loại hình tượng đặc biệt, thiết nghĩ chúng ta không
thể bỏ qua biểu tượng với tư cách là đặc trưng phản ánh cuộc sống bằng hình
tượng văn học nghệ thuật, bởi vì đây là cơ sở để hình thành biểu tượng theo
nghĩa hẹp. Lấy xuất phát điểm từ phản ánh luận của Mác - Lênin, các nhà lí
luận văn học nghệ thuật macxit đã dành không ít giấy bút cho vấn đề phản ánh
nghệ thuật, bởi đây là những luận điểm có ý nghĩa nền tảng cho toàn bộ lý
luận. Đặt trong tương quan với phản ánh thông thường và phản ánh khoa học,
phản ánh nghệ thuật được đặc trưng bởi nguyên tắc phản ánh, phương thức,
18
phương tiện, hình thức phản ánh… Không thể đồng nhất một cách máy móc
cái được thể hiện trong tác phẩm văn học với hiện thực khách quan, bởi vì
khác với phản ánh thông thường, phản ánh nghệ thuật không phải là sự sao
chép, chụp ảnh hiện thực mà là một sự phản ánh đầy năng động, sáng tạo, đầy
tính chủ quan. Tất nhiên cũng giống như khoa học, nghệ thuật không thể ôm
trùm, chiếm lĩnh đời sống trong toàn bộ quá trình của nó, vì hiện thực là một
quá trình vô cùng đa diện, phức tạp, biến hóa vô cùng, mãi mãi vận động và
biến chuyển. Phản ánh khoa học phân cắt thế giới thành từng mảnh, đoạn, cô
lập các tiến trình đời sống, tiến hành một sự trừu tượng hóa triệt để, biến “cái
tự nó” thành “cái cho ta” dưới hình thức các khái niệm, quy luật, quy tắc.
Như vậy, hình tượng nghệ thuật chính là khách thể đời sống được nghệ
sỹ tái tạo một cách sáng tạo trong những tác phẩm nghệ thuật. Giá trị trực
quan độc lập là đặc điểm quan trọng của hình tượng nghệ thuật. Nó làm cho
người ta có thể ngắm nghía, thưởng ngoạn đó có thể là một đồ vật, một phong
cảnh thiên nhiên hay một hiện tượng xã hội được cảm nhận. Nhưng nói về
hình tượng nghệ thuật người ta thường nghĩ tới hình tượng nhân vật bao gồm
hình tượng một con người hoặc cả một tập thể người (như hình tượng nhân
dân hoặc là hình tượng Tổ quốc) với những chi tiết biểu hiện cảm tính, phong
phú. Trong thơ Tố Hữu nổi bật là hình tượng Tổ quốc, nhân dân, Bác Hồ,
người mẹ và hình tượng con đường, dòng sông, con thuyền, ngọn cờ...
Đặc trưng của hình tượng nghệ thuật thường được xác định trong quan
hệ với hai lĩnh vực hiện thực và quá trình tư duy. Hình tượng nghệ thuật tái
hiện đời sống nhưng không phải sao chép y nguyên những hiện tượng có thật,
mà tái hiện có chọn lọc, sáng tạo thông qua trí tưởng tượng và tài năng của
nghệ sỹ, sao cho các hình tượng truyền lại được ấn tượng sâu sắc làm cho
nghệ sỹ cũng như người đọc phải day dứt, trăn trở. Hình tượng nghệ thuật vừa
có giá trị thể hiện những nét cụ thể, cá biệt không lặp lại, vừa có khả năng
khái quát làm bộc lộ bản chất của con người hay một quá trình đời sống theo
20
quan niệm của nghệ sỹ. Bởi vậy hình tượng nghệ thuật không chỉ phản ánh mà
còn khái quát hiện thực, khám phá cái cốt lõi, cái bất biến, cái vĩnh cửu trong
cái đơn lẻ, nhất thời, ngẫu nhiên. Nhưng khác với các khái niệm trừu tượng,
hình tượng lại mang tính biểu hiện, nó bảo lưu tính chỉnh thể, tính độc đáo
không lặp lại của các hiện tượng.
Hình tượng nghệ thuật không chỉ đặc trưng bởi việc phản ánh và lí giải
hiện thực, mà còn bởi việc nó sáng tạo một thế giới khác thế giới thường, thế
giới mang tính hư cấu.
nhau. Có một số hình tượng đồng thời là biểu tượng, chúng là sản phẩm lao
động nghệ thuật của nghệ sỹ. Bản thân chúng đã mang tính thẩm mỹ, tính
tượng trưng. Hình tượng cây xà nu trong tác phẩm cùng tên của nhà văn
Nguyễn Trung Thành cũng đồng thời là biểu tượng. Cây xà nu là biểu tượng
phản ánh sức sống bất diệt của con người làng Xô-man nói riêng và đồng bào
Tây Nguyên nói chung. Vầng trăng là một hình tượng văn học và nó cũng
được xây dựng như một biểu tượng trong tác phẩm văn học. Vầng trăng là
một biểu tượng có nhiều tầng nghĩa, nhà văn thường sử dụng vầng trăng để
nói lên khát vọng về một cuộc sống êm đềm, hạnh phúc tròn đầy. Có rất nhiều
hình tượng đồng thời cũng là biểu tượng trong văn học như: con thuyền, dòng
sông, con đường… Một tác phẩm văn học xây dựng thành công các hình
tượng, biểu tượng thì tác phẩm đó đã đạt được giá trị đích thực của nghệ thuật.
Bên cạnh sự thống nhất của hình tượng và biểu tượng trong một tác
phẩm văn học thì giữa chúng không phải không có những yếu tố khu biệt. Đặc
điểm khu biệt rõ nhất giữa hình tượng và biểu tượng là tính kí hiệu. Tính kí
hiệu ở biểu tượng là một đặc điểm nổi rõ, quan trọng còn ở hình tượng văn
học thì không nổi rõ. Điều đó có nghĩa là sự xuất hiện biểu tượng trong tác
phẩm văn học là một tín hiệu để người đọc nắm bắt được các ý nghĩa của tác
phẩm, đi được vào mạch ngầm sáng tạo của nghệ sỹ. Con đường trong thơ Tố
22
Hữu, ngọn đèn trong thơ Phạm Tiến Duật, vầng trăng trong thơ Nguyễn Du…
Chúng là biểu tượng và cũng là hình tượng văn học.
Tuy vậy, hình tượng văn học chưa chắc đã là biểu tượng văn học. Trong
sáng tác của nhà văn, xây dựng hình tượng nhân vật là những con người cụ
thể thì những hình tượng này không mang tính ý nghĩa biểu tượng, ví dụ hình
tượng Bác Hồ, hình tượng người mẹ, anh bộ đội, anh giao liên v.v. trong thơ
Tố Hữu. Đó đơn thuần chỉ là các hình tượng văn học. Như vậy trong tác phẩm