Những biến đổi nghệ thuật trên hành trình thơ chữ Hán của Nguyễn Thượng Hiền - Pdf 19

Những biến đổi nghệ thuật
trên hành trình thơ chữ Hán
của Nguyễn Thượng Hiền Nhưng vì sao con người ấy vẫn đành tâm khoác chiếc áo vô dụng đó trong suốt bấy
nhiêu năm tháng? Và vì sao từ khi thi đỗ cho đến tận những năm đầu thế kỷ XX, ông tân
khoa Hoàng giáp Nguyễn Thượng Hiền vẫn giữ thái độ lặng lẽ, không có một hành động gì?
Điều này hẳn có lý do. Nguyễn Thượng Hiền kém thua Phan Bội Châu (1867-1940) một tuổi
nhưng Phan Bội Châu lại coi ông là người “vừa bạn vừa thầy”. Khi các ông thật sự khôn lớn
thì phong trào Cần vương chống Pháp của tầng lớp sĩ phu nửa cuối thế kỷ XIX cũng đang đi
nhanh vào kết thúc: “Có người quyết chiến với Pháp mà chết; có người bị Pháp nã bắt phải
chết; có người giả làm quan với Pháp để ngầm kết nghĩa đảng, bị người Pháp phát giác ra mà
chết. Có người phẫn nộ quá đầy tâm can, tự tìm cách chết để mà chết. Đáng tiếc anh nhân
nghệ sĩ mấy nghìn năm tinh khí non sông hun đúc nên, gặp phải vận nước không may, như
hoa lan bị khói xông, ngọc quý bị lửa đốt, đều hóa làm ngọc sáng ở biển Nam mà cuốn đi.
Oan uổng thay! Đau đớn thay!” (Việt Nam vong quốc sử)
(9)
. Một ít người còn lại, sau nhiều
năm chèo chống, biết việc lớn khó toàn, đã có ý ngả lòng. Họ vẫn gắng giữ cho tròn phẩm
tiết mặc dù mối mặc cảm “Á khó lòng địch nổi Âu” đã trở nên vô cùng ám ảnh:
Á Âu phất địch cự vô tri,
Sự dĩ đáo đầu thế khả vi.
(Nguyễn Duy Hiệu - Khẩu chiếm trước
khi lâm hình)
(10)

(Á khó đương Âu, vẫn biết rồi,

có danh, đã thi đỗ). Phan Bội Châu tổng duyệt lại mọi tấm gương hy sinh oanh liệt của lớp
người Cần vương để tăng thêm niềm kính trọng, và cũng để càng dứt khoát trong tư tưởng
về sự phân khai giữa họ và mình; còn Nguyễn Thượng Hiền, do nhìn từ đồng đại, có xen lẫn
cả cái “tôi” trăn trở của mình trong đó, nên bên cạnh sự kính trọng, tiếc nuối, ông lại có dịp
nhìn thấu đến những miền ẩn khuất bên trong - một sự phân tích tâm lý thật tinh, sâu. Ông
linh cảm rất rõ vận mệnh của tầng lớp này đã hết. Đấy là những con người đang đứng ở phút
chót trên một vị trí tưởng chừng đầy kiêu hãnh, nhưng thời gian đã quay lưng với họ. Đáng
thương cho họ là không phải ai cũng nhận ra điều ấy hoặc sáng suốt thừa nhận điều ấy, để tìm
được một cách hành xử sao cho dứt khoát mà vẫn trọn tình trọn nghĩa. Vì thế, họ như đứng
giữa một ngã ba đường, với muôn nỗi dùng dắng. Ngay cả khi cái thế của lịch sử đã đẩy họ
tới chỗ phải đóng vai một Kinh Kha, không lùi được nữa, thì sâu trong thâm tâm, sự phân
vân nghi ngại vẫn đè trĩu lên lòng: “Dịch thủy ca chung hoán nại hà?” - Hát xong bài ca
Dịch thủy rồi biết tính thế nào? (Cảm hoài). Rút cục họ chỉ còn biết níu lấy một tấm lòng son
mơ hồ nào đó:
Tồi sơn đảo hải lực tuy cùng,
Nhất phiến đan tâm cự mai một.
(Long biên Tây quách tản bộ hữu cảm)
(Cái sức bạt núi dốc biển cho dù kiệt hết,
Một tấm lòng son há chịu mai một)
Nguyễn Thượng Hiền muốn biện hộ cho lớp người Cần vương, muốn lý giải chỗ tiến
thoái lưỡng nan của lớp người ấy, mà cũng chính là cốt nói cho mình. Tấm lòng son nung
nấu trong ông, cái ơn tri ngộ của Triều đình mà ông và gia đình ông mấy đời mang nặng,
chính là mấu chốt của sự cách biệt trong tư tưởng giữa ông với Phan Bội Châu, nó làm cho
con đường của ông đi đến với chân lý gập ghềnh gian khổ hơn họ Phan rất nhiều. Trong Phan
Bội Châu cũng có một con người trung nghĩa nhưng không thâm căn cố đế như Nguyễn
Thượng Hiền. Với Phan, nước mất là một nỗi đau không thể nào chịu nổi song là nỗi đau có
sức kích thích con người vùng dậy, khiến chàng trai mới 17 tuổi “nửa đêm khêu đèn ngồi
thảo bài hịch Bình Tây thu Bắc bí mật đem dán lên cây to ngoài đường cái mong có thể rung
động lòng người”


nước phong kiến Việt Nam đang lúc tan vỡ. Đấy cũng chính là tiếng nói phản hồi từ bên trong
của vô thức tác giả, là những nỗi vò xé, chống trả về tâm lý, không muốn chấp nhận sự thực
phũ phàng. Trong nỗi niềm đau xé, ông vẫn muốn bám víu vào một niềm tin dù chỉ là mỏng
manh. Nhớ lại những chiến thắng lẫy lừng của các triều vua oai hùng trong lịch sử, ông như
muốn tự trấn an mình:
Văn đạo Chiêu lăng thần mã tại,
Thương mang thiên ý vị trường ta.
(Văn đạo)
(Nghe nói ngựa đá ở Chiêu lăng vẫn còn,
Ý trời thăm thẳm, chớ nên vội than dài)


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status