Những biến đổi nghệ thuật trên hành trình thơ chữ Hán của Nguyễn Thượng Hiền pot - Pdf 19


Những biến đổi nghệ thuật trên
hành trình thơ chữ Hán của
Nguyễn Thượng Hiền Vào những năm cuối cùng của thế kỷ XIX bước sang đầu thế kỷ XX, giữa lúc khắp xã
hội Việt Nam như đang bị vây bọc trong một không khí ảm đạm và bế tắc, thì những người
trí thức ưu tú của thời đại, sau bao phen gian khổ tìm kiếm, đã hé nhìn thấy một vài tia sáng
báo hiệu một sự đổi thay. Trong số những con người đó phải kể đến Nguyễn Thượng Hiền.
Ông tự là Đỉnh Nam, hiệu Mai Sơn, sinh năm Mậu Thìn (1868), người làng Liên Bạt,
huyện Sơn Lãng, sau đổi là Ứng Hòa, tỉnh Hà Đông, nay là Hà Nội, là con thứ của Nguyễn
Thượng Phiên, đỗ Hoàng giáp thời Tự Đức, và làm đến chức Thượng thư Bộ Hình. Vốn
dòng dõi một gia đình nhiều đời khoa bảng, bản thân lại cũng thi đậu đến Hoàng giáp như
thân phụ và cùng làm quan với thân phụ dưới triều Thành Thái (1889-1907), Nguyễn
Thượng Hiền rõ ràng có nhiều duyên nợ với chế độ phong kiến nhà Nguyễn. Nhưng trong
đoạn đời “chấp chính” có mấy năm ngắn ngủi, nhiều lần ông đã xin từ chức; thái độ của ông
đối với công danh chủ yếu là khước từ, lẩn trốn. Mặt khác, ông cũng chính là người mang
đến cho Phan Bội Châu những bản điều trần của Nguyễn Lộ Trạch (1852-1895) và những
cuốn tân thư Trung Quốc đầu tiên. Ngay từ những ngày phong trào Duy tân đang âm thầm
nhen nhóm, ông đã có một hành vi đáng gọi là cứng cỏi - đem đốt tất cả những sáng tác cũ
của chính mình:
Danh tâm vị đoạn hối điêu trùng,
Túy bả ngâm biên phó chúc dung.
Vị tất ngộ nhân thiên tải hạ,
Khả kham lao ngã bách niên trung.
(Tự phần thi cảo hữu cảm)
(Chưa dứt lòng danh, thẹn gọt vần,

(2)
ông vẫn đóng góp nhiều công sức cho các chương trình của Hội. Ông cũng đã can
thiệp có hiệu quả để nhà đương cục Trung Hoa nới tay trong vụ bắt Phan Bội Châu và Mai
Lão Bạng năm 1914. Thay mặt Việt Nam Quang phục hội, ông sang Xiêm giao thiệp với
Công sứ Đức và Áo vào năm 1915 để xin viện trợ kinh phí nhằm tổ chức đội quân Quang
phục đánh úp vào một số vùng biên giới phía Bắc nước ta trong năm đó. Nhưng khi cuộc thế
chiến kết liễu, thấy đế quốc Pháp thắng trận, ông uất ức, chán nản, bỏ vào chùa đi tu. Sau
ngày Phan Bội Châu bị bắt cóc ở Thượng Hải đưa về nước, ông càng đau xót, buồn rầu, nhất
là khi nghe tin trong âm mưu này, người cháu gọi ông bằng chú có dính dáng. Ông mất ở
Hàng Châu cuối năm 1925.
Tác phẩm của Nguyễn Thượng Hiền có nhiều. Phần sáng tác bằng chữ Hán, trước
khi xuất dương đã có Nam hương tập(Tập thơ hương vị đất Nam), Hạc thự ngâm
biên (Biên chép những bài thơ nơi nha môn của con chim hạc), Hát Đông thư dị(Tập
truyện văn xuôi ghi chép những chuyện lạ vùng Hát Đông)
(3)
. Sau khi ra nước ngoài ông
tiếp tục sáng tác cả thơ và văn xuôi, và chỉnh lý lại những bài thơ làm ở trong nước rồi
gộp thành Nam chi tập (Tập thơ chim Việt đậu cành Nam), gồm 3 tập; tập thượng: thơ ca
làm từ 1907 trở về trước; tập trung: thơ ca làm từ khi xuất dương cho đến năm 1918; tập
hạ : các bài văn xuôi kêu gọi duy tân cứu nước, bài Tang hải lệ đàm (Giọt lệ bể dâu) và
lược truyện các liệt sĩ trong phong trào Cần vương, Đông du; sách in tại Trung Quốc năm
1925, có lời đề tựa của nhà văn Trung Quốc Chương Bính Lân (1913) và lời bạt của nhà
văn Từ Lương Bật (1912)
(4)
. Ngoài ra ông còn có tập Viễn hải quy hồng (Chim hồng bay
về từ biển xa) in ở Nhật Bản năm 1908
(5)
. Phần sáng tác bằng tiếng Việt ít hơn và cũng
chưa sưu tầm đủ, hiện chỉ mới in được một số trong tập Thơ văn Nguyễn Thượng
Hiền của Lê Thước và Vũ Đình Liên năm 1959


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status