tìm hiểu những công trình nghệ thuật tiêu biểu của thời trần - Pdf 25

MỞ ĐẦU
1. Lý do chọn đề tài
Văn hóa truyền thống Việt Nam là một dòng chảy xuyên suốt lịch sử hàng ngàn
năm của dân tộc, kết tinh qua bao thế kỷ. Được hình thành từ nền văn minh Văn Lang Âu
Lạc và phát triển qua nền văn minh Đại Việt, qua nhiều thời kì lịch sử với biết bao sóng
gió, biến cố của dân tộc, tồn tại đến ngày hôm nay trở thành những giá trị vô cùng quý
báu của dân tộc.
Quay ngược guồng xe của bánh thời gian, tìm về với cội nguồn dân tộc, dừng chân
ở thời Trần ta chợt nhận ra những giá trị văn hóa dân tộc rất đỗi quý giá và lâu đời. Nói
đến thời Trần lịch sử gọi ngay ra một triều đại hưng thịnh với những nét nổi bật, đặc sắc
về kinh tế - chính trị và không thể không nhắc đến văn hóa – nghệ thuật mà chủ thể là
nền mĩ thuật thời Trần.
Thời Trần là thời kỳ mà mĩ thuật Việt Nam phát triển đến đỉnh cao rực rỡ, là thời kì
hoàng kim của những thành tựu mĩ thuật. Nói đến nghệ thuật thời Trần là nói đến những
công trình, những thành tựu mĩ thuật coi đó là mẫu mực của mĩ thuật phong kiến Việt
Nam.
Lấy cảm hứng từ Phật giáo, mĩ thuật thời Trần mang đậm tinh thần tôn giáo, đó là
những công trình kiến trúc, điêu khắc với những đường nét chạm trổ tinh vi, điêu luyện
và tinh xảo.
Điểm lại những thành tựu mà văn hóa mĩ thuật thời Trần đạt được ta không thể
không kể đến tháp Phổ Minh, tháp Bình Sơn với kiểu kiến trúc đậm chất Phật Giáo, hay
hình tượng những con rồng tinh xảo, vừa uyển chuyển, nhẹ nhàng vừa khỏe khoắn uy
nghi.
Cùng với sự ảnh hưởng của Phật Giáo, thời Trần đạo nho cũng rất phát triển kéo
theo đó là sự phát triển của mĩ thuật với các công trình nghệ thuật như Hoàng Thành
Thăng Long hay cung Thiên Trường.
Nhìn lại tổng quan lịch sử các chặng đường phát triển của mĩ thuật Việt Nam, ta có
thể thấy mĩ thuật thời Trần phát triển mạnh mẽ mang đến những thành tựu rực rỡ cho văn
hóa Trần nói riêng và văn hóa Việt nam nói chung. Đó là vệt sáng kết tinh những tinh hoa
của một triều đại. Là cống hiến vô giá của giá trị tinh thần trong những đường nét chạm
trổ, điêu khắc.

tộc. Với bài viết này cũng mong góp phần nhỏ bé hiểu biết của mình vào việc nghiên cứu,
tìm hiểu, giữ gìn và phát huy những giá trị văn hóa tốt đẹp của cha ông.
4. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
Đối tượng và phạm vi nghiên cứu của đề tài là tập trung đi nghiên cứu và tìm hiểu
những công trình nghệ thuật tiêu biểu của thời Trần qua đó tìm ra đặc điểm mỹ thuật nỗi
bật của thời kỳ này.
5. Phương pháp nghiên cứu
Để thực hiện được đề tài này tôi đã sử dụng một số phương pháp sau:
+ Phương pháp khảo sát điều tra. Việc sử dụng biện pháp này đã giúp tôi tìm hiểu
về thời Trần nơi mà những nét đẹp văn hóa được thể hiện qua các công trình điêu khắc,
hội họa, hay các nét chạm trổ.
+ Phương pháp thống kê phân tích. Từ những gì mà tôi khảo sát được tôi đã lựa
chọn lại sau đó dùng kiến thức hiểu biết của mình phân tích từ đó rút ra đặc điểm nổi bật
của mỹ thuật thời Trần.
+ Phương pháp so sánh lịch sử . Phương pháp này giúp tôi hiểu rõ hơn và có sự
phân biệt giũa triều đại này với triều đại khác.
Ngoài ra tôi còn sử dụng một số phương pháp khác để bài viết của mình hoàn
chỉnh hơn.
6. Cấu trúc của đề tài
Ngoài phần mở đầu và phần kết luận bài viết này tập trung vào hai chương chính:
Chương 1: Khái quát đất nước Việt Nam dưới triều đại nhà Trần
Chương 2: Một số đặc điểm mỹ thuật thời Trần
CHƯƠNG 1
KHÁI QUÁT ĐẤT NƯỚC VIỆT NAM DƯỚI TRIỀU ĐẠI NHÀ TRẦN
1. Sự thành lập triều Trần và những nét khái quát về xã hội thời Trần .
1.1. Sự thành lập triều Trần:
Nhà Lý phát triển thịnh trị vào đời vua Lý Nhân Tông (1072 - 1127), sau đó bắt
đầu đi vào con đường suy yếu. Các vua lên ngôi khi còn bé như vua Lý Anh Tông làm
vua khi 5 tuổi, Lý Cao Tông 2 tuổi… Quyền hành rơi vào tay những kẻ hại dân. Trước
tình hình ấy, nhiều cuộc khởi nghĩa đã nổ ra, góp phần làm lung lay ngai vàng nhà Lý.

vị tổ: Trần Nhân Tông- Pháp Loa và Huyền Quang. Phật giáo ngày càng hoà hợp và gần
gũi với đời sống dân gian. Chùa tháp vẫn được xây dựng nhiều, trong các làng xã cũng có
nhiều ngôi chùa đẹp tuy quy mô không lớn như thời Lý.
Về kinh tế, nhà nước chú trọng khuyến khích nông nghiệp phát triển. Quân đội
nhà Trần vẫn được tổ chức theo chế độ " ngụ binh ư nông"để góp thêm lực lượng sản
xuất nông nghiệp. Kinh tế thành thị cũng song song phát triển kéo theo sự thịnh vượng
của kinh tế hàng hoá, giao thông… Tất cả những điều đó đã góp phần làm cho nhà nước
phong kiến thời Trần ngày một vững mạnh hơn. Cũng ở thời gian này, ở phương Bắc đế
quốc phong kiến Mông Cổ đang phát triển mạnh và tìm cách bành trướng thế lực ra nước
ngoài. ở Châu Âu, Mông Cổ đã chiếm từ bờ biển Thái Bình Dương tới Hắc Hải, thậm chí
đến cả Đại Tây Dương. Năm 1271 chúng chiếm được Trung Quốc lập ra triều đại nhà
Nguyên. Sau đó chúng có ý đồ chiếm Việt Nam và cả vùng Đông Nam á. Suốt từ 1258
đến 1285, 1287 chúng đã 3 lần đem quân đánh chiếm Đại Việt song cả 3 lần đều thất bại
nặng nề. Chiến thắng Mông Nguyên một lần nữa đã khẳng định truyền thống yêu nước và
ý chí của dân tộc ta. Đồng thời đưa uy tín và ảnh hưởng của nước ta lên cao hơn. Mặt
khác, trong xã hội Đại Việt thời đó cũng có nhiều sự thay đổi lớn. Chế độ nông nô, nô tì
tan rã, dần dần biến các nông nô thành những người nông dân tự do. Nhà nước chú ý hơn
tới việc "nới sức dân để làm kế sâu rễ bền gốc".
Tất cả những điều kiện xã hội đó đã phần nào ảnh hưởng tới sự phát triển mĩ thuật
của thời Trần và nhất là tạo điều kiện thuận lợi cho văn hoá nghệ thuật dân gian phát
triển, tạo nên đặc điểm riêng biệt cho mĩ thuật thời Trần.
1.2.1. Tổ chức quân đội
Quân chủ lực nhà Trần gồm cấm quân và quân các lộ. Quân các lộ ở đồng bằng
gọi là chính binh, ở miền núi gọi là phiên binh. Cấm quân được gọi là quân túc vệ.
Các đơn vị quân đội được gọi là quân. Đứng đầu mỗi quân là một đại tướng quân. Mỗi
quân có 30 đô, chỉ huy mỗi đô có chánh phó đại đội. Mỗi đô có 5 ngũ, đứng đầu mỗi ngũ
là đầu ngũ.
Cấm quân là lực lượng nòng cốt trong chiến tranh chống ngoại xâm, có thể được điều
động đi các lộ để tác chiến.
Nhằm có lực lượng đông đảo cần thiết khi chống xâm lược, nhà Trần kế tục chính sách

sau càng dùng nhiều nhân sỹ nho giáo.
Bên cạnh 6 thượng thư sảnh là hàn lâm viện phụ trách các công việc văn phòng
của triều đình. Người của hàn lâm viện gọi là học sĩ với nhiều cấp (chức) khác nhau.
Các ban, ngành khác là Ngự sử đài, Đăng văn kiểm sát viện là các cơ quan thanh tra,
giám sát. Có Quốc sử viện phụ trách công việc biên soạn quốc sử mà người đầu tiên phụ
trách Quốc sử viện là Lê Văn Hưu. Có Quốc tử viện là nơi giáo dục các vương tử nhà
Trần. Có Thái y viện chăm sóc sức khỏe cho hoàng tộc.
1.2.3. Luật pháp
Vua Thái Tông cho sửa lại luật pháp rất nghiêm minh. Đại Việt sử ký toàn thư có
chép lại như sau:
Canh Dần, Kiến Trung năm thứ 5 1230: Mùa xuân, tháng 3, khảo xét các luật lệ
của triều trước, soạn thành Quốc triều thống chế và sửa đổi hình luật lễ nghi, gồm 20
quyển.
Định bị đồ có mức độ khác nhau:
Loại bị đồ làm Cảo điền hoành thì thích vào mặt 6 chữ, cho ở Cảo xã (nay là xã
Nhật Cảo), cày ruộng côn, mỗi người 3 mẫu, mỗi năm phải nộp 300 thăng thóc.
Loại bị đồ làm Lao thành binh thì thích vào cổ 4 chữ, bắt dọn cỏ ở Phượng Thành,
thành Thăng Long, lệ vào quân Tứ sương.
Đặt ty bình bạc là cơ quan hành chính và tư pháp ở kinh đô Thăng Long lúc đó với
chức quan kinh doãn, chuyên xét đoán việc kiện tụng ở kinh thành. Năm 1265 đổi thành
Đại an phủ sứ, sau lại đổi thành Kinh sư đại doãn.
1.2.4. Kinh tế
Về mặt nông nghiệp: để tránh nạn ngập lụt, vua Thái Tông sai đắp đê hai bên bờ
sông và cử quan đặc trách trông coi việc đê gọi là hà đê sứ. Mỗi năm sau vụ mùa, triều
đình còn ra lệnh cho quân sĩ đắp đê hay đào lạch, hào, giúp đỡ dân chúng. Đại Việt sử ký
toàn thư có chép:
Tân Mão, Kiến Trung năm thứ 7, 1231: Mùa xuân, tháng giêng, sai nội minh tự
Nguyễn Bang Cốc (hoạn quan) chỉ huy binh lính phủ mình đào vét kênh Trầm và kênh
Hào (là tên hai con kênh, thuộc huyện Ngọc Sơn (nay là Tĩnh Gia), tỉnh Thanh Hóa) từ
phủ Thanh Hóa đến địa giới phía nam Diễn Châu. Triều đình cũng cho phép các vương,

Lê Quát…
1.2.6. Tôn giáo
Về Phật giáo, vào đầu đời nhà Trần thì Phật giáo còn thịnh. Các nhà vua đều sùng
đạo cho xây chùa, đúc chuông, tạc tượng để phụng thờ khắp nơi. Đại Việt sử toàn thư
chép lại Thượng hoàng xuống chiếu rằng trong nước hễ chỗ nào có đình trạm đều phải
đắp tượng phật để thờ.
Vua Nhân Tông còn sai sứ sang Trung Hoa để thỉnh kinh về truyền bá đạo Phật,
và ông chính là ông tổ đầu tiên của thiền phái Trúc Lâm. Nhưng cuối đời Trần, Phật giáo
bị pha thêm các hình thức mê tín bùa chú cho nên ngày càng suy vi. Về Lão giáo thì cũng
được nhân dân ngưỡng mộ. Do đó, nhà Trần cũng cho mở những khảo thi tam giáo như
đời nhà Lý.
1.2.7. Văn hóa nghệ thuật
Đời nhà Trần đã đào tạo được khá nhiều học giả nổi tiếng như Lê Văn Hưu soạn
bộ Đại Việt Sử Ký và đây là bộ sử đầu tiên của Việt Nam. Mạc Đĩnh Chi nổi tiếng là một
ông trạng rất mực thanh liêm, đức độ và có tài ứng đối đã làm cho vua quan nhà Nguyên
phải kính phục. Chu Văn An là một bậc cao hiền nêu gương thanh khiết, cương trực. Các
vua Thái Tông, Thánh Tông, Nhân Tông, Anh Tông, Minh Tông đều là những người giỏi
văn chương và có soạn Ngự tập và danh tướng Trần Quốc Tuấn có làm những tác phẩm
giá trị như Hịch tướng sĩ.
Hàn Thuyên tức Nguyễn Thuyên có công làm thơ bằng chữ Nôm và đặt ra luật thơ
Nôm. Vì thế đã có nhiều học giả, văn nhân đã theo gương của Hàn Thuyên mà làm những
bài thơ Nôm rất giá trị. Đại Việt sử kí toàn thư chép:
Bấy giờ (năm 1282) có cá sấu đến sông Lô. Vua sai hình bộ thượng thư Nguyễn
Thuyên làm bài văn ném xuống sông, cá sấu bỏ đi. Vua cho việc này giống như việc của
Hàn Dũ, bèn ban gọi là Hàn Thuyên. Thuyên lại giỏi làm thơ phú quốc ngữ. Thơ phú
nước ta dùng nhiều quốc ngữ, thực bắt đầu từ đấy.
Nghệ thuật điêu khắc thời Trần được đánh giá là có bước tiến bộ, tinh xảo hơn so
với thời Lý, trong đó có một số phù điêu khắc hình nhạc công biểu diễn mang phong cách
Chiêm Thành. Cách trang trí hoa dựa trên nghệ thuật dân dụng Âm nhạc Đại Việt thời
Trần chịu ảnh hưởng của Ấn Độ, Chiêm Thành và Trung Quốc. Một số nhạc công bị bắt

Vì có mưu đồ soán đoạt ngôi vua mà lại được sự tin dùng của Nghệ Tông nên Hồ
Quý Ly đã tạo được khá nhiều phe cánh và bè đảng ở triều đình và khắp mọi nơi. Rồi từ
đó Quý Ly càng ngày càng lộng quyền không coi ai ra gì. Năm 1394, Nghệ Tông mất, Hồ
Quý Ly nắm lấy cả quyền hành rồi sai người vào đất Thanh Hoá xây thành Tây Đô. Sau
khi công việc xong xuôi, Hồ Quý Ly bắt Trần Thuận Tông dời kinh về Tây Đô rồi lập
mưu ép Thuận Tông nhường ngôi cho con là Thiếu Đế khi đó mới có 3 tuổi lên ngôi. Quý
Ly lên làm phụ chính sai người giết Thuận Tông và chuẩn bị cướp ngôi.
Nhìn thấy âm mưu của Hồ Quý Ly, nhiều tướng lĩnh nhà Trần như Trần Khát
Chân lập hội với mưu đồ tiễu trừ Quý Ly, nhưng cơ mưu bị bại lộ, tất cả đều bị bắt và bị
giết vào khoảng hơn 370 người. Năm 1400, Quý Ly phế truất Thiếu Đế rồi tự xưng làm
vua, chiếm lấy ngôi nhà Trần, đổi sang họ Hồ. Nhà Trần chấm dứt,kéo dài 175 năm với
13 đời vua.
CHƯƠNG 2
MỘT SỐ ĐẶC ĐIỂM MĨ THUẬT THỜI TRẦN
2.1. Khái quát đặc điểm của mĩ thuật thời Trần
Mĩ thuật thời Trần (thế kỉ 13 - 14): với các chất liệu gỗ, đá, đồng, đất nung và
gốm. Công trình kiến trúc tôn giáo còn tồn tại giữ được nhiều dấu ấn nghệ thuật thời
Trần như chùa Thái Lạc (Hải Dương); chùa Bối Khê (Hà Tây), một phần chùa Phổ Minh
(Nam Định) với những mảng chạm khắc gỗ trang trí, kiến trúc với bệ đá chạm rồng và
garuda và các con vật như cá sấu, rồng thành bậc - khu lăng các vua Trần ở An Sinh
(Đông Triều, Quảng Ninh), lăng Trần Thủ Độ ở Tam Đường (Thái Bình) có một số
tượng thú. Đồ đồng có chuông chùa Vân Bản (Đồ Sơn, Hải Phòng), vòng cáng, bàn đạp,
yên ngựa (chùa An Sinh) chạm khắc hình rồng. Đồ gốm Trần với nhiều vật phẩm kích
thước tương đối lớn như chậu, thạp. Gốm hoa nâu là dạng điển hình của thời Trần.
Đặc điểm phong cách nghệ thuật thời Trần: đường nét phóng khoáng, khoẻ
khoắn. Bố cục có phần thưa thoáng đơn giản. Đề tài phong phú hơn thời Lý, đặc biệt là
trên đồ gốm xuất hiện nhiều hình ảnh các con thú. Rồng còn nhiều nét của thời Lý
nhưng đầu đã có sừng, chân 4 móng, khúc cuộn ở thân doãng hơn
2.1.1. Sự thừa kế những tinh hoa văn hoá thời Lý
Nhà Trần kế tiếp ngay sau thời Lý. Vì vậy khi bắt đầu được thành lập, nhà Trần

2.1.2. Những thay đổi và sáng tạo trong mỹ thuật thời Trần
2.1.2.1 Nghệ thuật kiến trúc
Kiến trúc thời Trần lúc đầu được thừa kế thành tựu kiến trúc thời Lý do đó có
nhiều điểm gần với kiến trúc thời Lý. Tuy vậy từ 1262 trở đi, với kiến trúc chùa, tháp Phổ
Minh, tháp Bình Sơn, chùa Thái Lạc… cùng với các tác phẩm chạm khắc trang trí trên
các công trình đó đã bắt đầu bộc lộ phong cách mỹ thuật của thời Trần. Sự thay đổi về
quan niệm đã dẫn đến sự thay đổi về vị trí, kiểu dáng các công trình kiến trúc, cách thể
hiện các đề tài trang trí mang tính hiện thực phóng khoáng và thoáng đạt hơn.
Qua dấu vết còn lại của một số ngôi chùa thời Lý cho thấy các chùa thời Lý
thường được xây dựng ở những nơi đất cao và có cảnh đẹp như ở chân núi, trên núi…Vì
vậy mặt bằng các chùa thời Lý thường được trải dài trên ba bốn bậc cấp và cao dần. Sang
thời Trần, các chùa tháp được phân bố rộng rãi trên cả nước, tuy vậy nhiều hơn cả là
những công trình được dựng lên ở ven triền sông của vùng đồng bằng như Hà Tây, Hải
Dương, Nam Định, Quảng Ninh… Vì lẽ đó, bố cục mặt bằng chùa thời Trần cũng có thể
có nhiều kiểu. Chùa Yên Tử, trung tâm của phái Trúc Lâm tam tổ được xây dựng trên
núi, do đó phải bạt núi để xây dựng thành cụm chùa riêng theo từng cấp bậc. Lối kiến
trúc này gần giống với lối kiến trúc của chùa Phật Tích, chùa Dạm thời Lý. Tuy vậy, còn
có thể có bố cục theo kiểu " nội công ngoại quốc" có nghĩa là 3 toà Tiền Đường,Thiên
Hương, Thượng Điện được sắp xếp theo kiểu chữ công ( ) hành lang bao quanh giống
như chữ quốc ( ). Kiểu bố cục mặt bằng này sẽ gặp hiều hơn trong kiến trúc các thời kỳ
sau. Qua đó cho thấy có những thừa kế và sự sáng tạo trong phong cách mỹ thuật thời
Trần. Cùng với kiến trúc thời Lý, kiến túc thời Trần đã làm phongphú thêm, hoàn chỉnh
thêm kiến trúc Phật giáo nói riêng và đóng góp cho kho tàng kiến trúc dân tộc nhiều công
trình có giá trị cao.
Tháp thời Trần được xây dựng theo kiểu tháp vuông 4 mặt, có nhiều tầng, nhỏ dần
về phía ngọn. Tầng dưới cùng thường cao nhất có thể từ 2 đến 2,2 m. Bề ngoài thường
được trang trí bằng nhiều hình tượng. Tháp có hai loại thờ Phật, thờ Tổ và tháp có đặt xá
lị của các sư tổ ( tháp mộ). Đứng ở dưới đất ngước nhìn lên, ngọn tháp như vươn tới trời
cao. Cây tháp như nét nối giữa trời và đất. Từ đó, những điều cầu nguyện, những mong
muốn sự tốt lành cho con người sẽ đến được với Đức Phật. Có thể vì lẽ đó, mà tháp

điểm phong cách phù hợp với kiến trúc. Đi với kiến trúc chùa tháp có tượng Phật, tượng
sấu, tượng rồng. Với lăng mộ có tượng quan hầu, tượng thú vừa mang tính chất trang trí
cho lăng mộ vừa là người canh gác, hậu cần giữ cho trang nghiêm, tĩnh lặng của ngôi mộ
tạo sự bình yên cho linh hồn người đã khuất. Nếu các bức tượng phù điêu còn lại của thời
Lý tập trung nhiều ở chùa Phật Tích,
chùa Dạm…thì ở thời Trần các tác
phẩm tìm được lại tập trung ở các
khu lăng mộ là chính.
Trong số những tác phẩm điêu
khắc còn lại của thời Trần có rất
nhiều tượng đá. Tượng Phật thì hầu
như chưa tìm được tác phẩm nào,
nhưng bệ đá hoa sen thì lại tìm được
khá nhiều như bệ đá chùa Ngọc Đình (1374), chùa Bối Khê (1382)…
Theo nhiều nhà nghiên cứu mĩ thuật thì những bệ đá hoa sen có thể là bệ tượng
Phật hoặc để bày đồ lễ và thường được đặt ở vị trí tôn nghiêm nhất trong chùa. Bệ đá hoa
sen thường được thể hiện là một khối chữ nhật, phần trên cùng chạm hai lớp cánh sen,
phần tiếp theo thu nhỏ lại, bốn góc
tạo hình bốn con chim thần. Các
mặt chia ô chạm rồng, mây, hoa,
lá… Dưới cùng là bế đệ
Trong một số lăng mộ của
vua quan thời Trần có những con
vật gần gũi với đời sống người dân
như con trâu, con chó… bên cạnh những đề tài chính thống khác như tứ linh… Mặc dù
vậy ngay cả trong những pho tượng thể hiện đề tài chính thống vẫn bắt gặp những nét dân
gian, chất hiện thực sinh động và biểu hiện cảm xúc mạnh mẽ. Trên các pho tượng thời
Trần, trang trí hoa văn đơn giản và bớt đi nhiều so với thời Lý. Các tác phẩm chạm khắc,
trang trí vẫn thể hiện những đề tài quen thuộc như : rồng, mây, sông nước, hoa lá… Tuy
vậy cũng có một số thay đổi như đề tài thể hiện tổng hợp: đầu rồng, sừng tê, ngọc báu…

cùng với sự phát triển của kiến trúc và điêu khắc thời Trần cũng có nhiều tác phẩm đánh
dấu sự phát triển của hội hoạ.
Cuối thế kỷ XIV, tình hình suy yếu của nhà Trần làm nảy sinh mưu đồ phản loạn,
vì thế vua Trần cho vẽ tranh "tứ phụ" nêu gương bốn người có công giúp vua dựng
nghiệp lớn như: Tô Hiến Thành, Chu Công Hoắc Quang và Gia Cát Lượng . Năm 1394,
vua ban tặng cho Hồ Quý Ly và mong Hồ Quý Ly sẽ noi theo tấm gương của những
trung quân này. Bộ tranh chân dung này có lẽ cũng được vẻ theo lối tượng trương, mang
tính lý tưởng hoá.
Năm 1396, nhà nước cho ban hành tiền giấy. Trên các đồng tiền giấy đầu tiên có
vẽ hình công, sóng nước, mây, phượng, rồng, tuỳ theo giá trị tiền từ 10 đồng đến 1 quan
tiền. Điều này cũng phần nào cho biết rõ thêm về hình vẽ thời Trần. Ngoài ra qua thơ còn
cho biết số tranh vẽ của thời kỳ này như bài: " Đề Đường Minh Hoàng dục mã đồ " trong
Hoàng Việt thi văn tuyển ( Hà Nội- 1957 trang 75). Qua bài thơ chúng ta cảm nhận được
nội dung đề tài của bức tranh và sự thông cảm của tác giả trước nổi khổ của nhân dân.
Bài thơ vịnh tranh vẽ con Hạc vừa bay vừa quay đầu lại cũng gồm bốn câu. Hai câu đầu
nhà thơ cho thấy hình vẽ trong tranh đó là: " Phất phơ rặng trúc, đá một toà - Thung thăng
vỗ cánh biếng bay xa". Hai câu thơ sau bộc lộ sự triết lý, sự suy tư của nhà thơ trước hình
tượng trong tranh vẽ, liên hệ với cuộc sống cách ứng xử trong cuộc đời: " Ngoảnh cổ
quay đầu không phòng nạn – E khi trước mắt lưới giăng ra"
Thời Trần đã trôi quakhá lâu, sốlượng tác phẩm
không còn nhiều. Tuy vậy, qua nhiều nguồn tư liệu và
sự dày công nghiên cứu của nhiều nhà lý luận mỹ thuật
cũng làm rõ những thành tựu về các mặt kiến trúc, điêu
khắc, hội hoạ thơì Trần. Qua đó thế hệ cháu con cảm
nhận được giá trị và phong cách nghệ thuật của ông cha qua các thời kỳ lịch sử. Thời kỳ
sau tiếp thu, kế thừa tinh hoa của thời kỳ trước. Đồng thời trên cơ sở đó phát triển phù
hợp với hoàn cảnh xã hội đương thời. Nếu phong cách mỹ thuật thời Lý bộc lộ rõ tính tư
tưởng hoá, mẫu mực, đường nét mềm mại, nhịp nhàng, chau chuốt thì mỹ thuật thời kỳ
Trần mang đậm nét hiện thực, sống động, khoẻ khoắn, đơn giản. Mặc dù vậy, cả hai thời
kỳ Lý và Trần mĩ thuật Phật giáo đều tiêu biểu. Do đó, dù có sự khác nhau

Nét mới riêng biệt và rất đáng lưu ý về gốm thời Trần là sự xuất
hiện dòng gốm hoa lam. Loại gốm này được tìm thấy khá nhièu
trong các hố khai quật và phổ biến là bát, đĩa vẽ cành hoa cúc
màu nâu sắt và xanh cobalt giống như những đồ gốm đã được
xuất khẩu sang Đông Nam Á, Trung Đông và Nhật Bản vào
khoảng giữa thế kỷ XIV. Đáng lưu ý là tại các hố ở khu D đã tìm
thấy chồng đĩa lớn vẽ cành hoa cúc cùng nhiều chồng dính của
loại gốm men độc sắc trang trí văn mây hình khánh, chim
phượng và hoa lá. Tư liệu này góp phần khẳng định thêm rằng, ngoài những dấu hiệu vè
lò gốm thời Lý nói trên khả năng ở đây còn có những lò gốm thời Trần
2.2. Những tác phẩm mỹ thuật tiêu biểu của thời Trần
2 .2.1. Chùa, tháp Phổ Minh (Lộc Vượng – Nam Định )
Chùa Phổ Minh là một trong nhữmg công trình kiến
trúc tiêu biểu của thời Trần. Chùa được xây dựng từ thời Lý,
sang thời Trần chùa được xây dựng mở mang hơn. Chùa
Phổ Minh nằm trong vùng đất của Phủ Thiên Trường. Năm
1262, khi bắt đầu xây dựng chùa có quy mô khá lớn. Ngày
nay, trải qua hơn 700 năm chùa đã được tu sửa nhiều lần. Di
tích còn lại là tháp Phổ Minh, một số thành bậc cửa bằng đá
chạm rồng, sấu, bộ cánh cửa nhà tiền đường có chạm rồng.
Chùa Phổ Minh được xây dựng theo kiểu nội công ngoại quốc. Hai bên chùa có
hai dãy hành lang, mỗi dãy dài 12 gian . Phía sau chùa còn có một số công trình nối tiếp
nhau thành dãy nhà Tổ, điện mẫu và nhà Tăng. Lối kiến trúc này trở nên quen thuộc và
hoàn thiện vào các thời kỳ sau. Trước điện thờ Phật là cây tháp cao 21,20m, đáy hình
vuông có cạnh là 5,20m. Chùa Phổ Minh có 14 tầng, tầng dưới cùng cao nhất, các tầng
trên thu nhỏ dần lên về phía ngọn. Nhiều viên gạch xây tháp có khắc dòng chữ: " Hưng
long thập tam niên" tức năm 1305. Như vậy, cây tháp được xây dựng chừng sau chùa rất
Tước gốm men nâu
nhiều năm. Đặc biệt, ở các tầng trên được xây dựng bằng gạch. Mặt ngoài của viên gạch
được chạm hình rồng. Cây tháp vươn cao, màu gạch đỏ nổi bật trên nền cây xanh và in

Cạnh chân tháp là 4,45m. như vậy, nếu ta tính chiều cao theo
tỉ lệ tháp Phổ Minh thì tháp Bình Sơn phải cao trên 17m.
Tháp Bình Sơn có kết cấu, cách xây dựng khá độc đáo. Lòng
tháp rỗng, vách tháp gồm 2 lớp. Bên trong gồm 2 loại gạch:
vuông 22 x 22cm và dại 45 x 22cm. bên ngoài có sự khác
nhau giữa phần bệ được xây dựng 6 hàng gạch trơn, các hàng trên có hình trang trí hoa
dây, con giống, ô trám. Các tầng tháp đều được ốp bằng gạch nung có trang trí kích thước
không đều nhau. Mỗi cạnh đều có lỗ mộng hình thang. Hai lỗ của viên gạch cạnh nhau
tạo thành mộng cá. Cách xây dựng với kĩ thuật mộng cá chì là một phương pháp khá độc
đáo của ông cha ta. Điều đáng chú ý ở tháp Bình Sơn là vẻ đẹp về màu sắc và hình trang
trí. Toàn bộ cây tháp được trang trí kín mặt ngoài bằng hệ thống hoa văn phong phú như
hình rồng, sư tử , hình vòng sáng nhọn đầu, cánh hoa sen, hoa cúc bố cục thành dây….
Ngoài ra còn nhiều hình vẽ tay trên gạch ốp ngoài tháp rất hồn nhiên, tạo hình đơn giản
như mặt người, hình voi… thể hiện thẩm mỹ dân gian rõ nét. Nét vẽ rất phóng khoáng,
thoải mái. ở cửa ra vào tầng một có trang trí hình rồng rất gần với rồng thời Lý. Tuy vậy
uốn khúc tự nhiên hơn. Đầu rồng không có đầy đủ chi tiết mà rồng Lý đã có. Tháp có
màu đỏ của gạch nung già. Trong đất làm gạch có nhiều thành phần, do đó tạo cho tháp
có nhiều màu phong phú. Ngày nay cây tháp Bình Sơn vẫn đứng một mình giữa vùng đồi
càng làm tăng thêm vẻ đẹp trong các kiến trúc nhiều tầng của người Việt Cổ.
Trong thời Trần còn có nhiều ngôi chùa khác cũng nổi tiếng: đó là chùa Dâu
(Thuận Thành – Bắc Ninh), chùa Bối Khê (Tam Ưng – Thanh Oai – Hà Tây) chùa Thái
Lạc (Lạc Hồng – Văn Lâm – Hưng Yên). Ngoài ra trong kiến trúc tôn giáo thời Trần còn
có hệt hống chùa là trung tâm phái Trúc Lâm Tam Tổ ở vùng Yên Tử – Quảng Ninh. Nơi
đây ngày nay đã trở thành một di tích văn hoá nổi tiếng thu hút nhiều khách tới tham
quan, chiêm ngưỡng tài năng kiến trúc cổ của ông cha ta. Các chùa kể trên đều có bố cục
mặt bằng theo kiểu nội công ngoại quốc và đến nay di tích còn lại của thời Trần rất ít.
Trong số các ngôi chùa này có hai ngôi chùa thờ Pháp Vân, một trong cụm chùa tứ pháp,
một trong thứ tôn giáo thờ các lực lượng thiên nhiên của các cơ dân nông nghiệp trồng
lúa nước. Hai cụm chùa còn lại thờ các tổ của phái thiền Trúc Lâm. Như vậy, bên cạnh
tôn giáo đạo phật từ nước ngoài truyền vào, ở thời Trần có một hệ thống Phật giáo mang

chuốt, nuột nà của hình khối và đường nét, những đường chải mượt tinh tế của bờm tóc,
những đường vằn đều đặn trên ức đóng vai trò của những hoa văn trang trí càng khiến
cho cái dũng mãnh của nó trở nên ung dung, đường bệ".
Lăng Trần Hiến Tông được xây dựng vào giữa thế kỷ XIV, ở đây tìm được một số
tượng thú như: tượng trâu, tượng chó bằng đá và hai pho tượng quan hầu. Tượng trâu,
tượng chó đều được diễn tả trong tư thế nằm, đầu cúi. Toàn thân đặt trên bệ đá gắn thành
một khối. Khối và đường nét đều thu gọn trong bố cục hình e – líp hoặc hình chữ nhật
( tượng trâu). Cả hai pho tượgn kích thước đều nhỏ, tượng chó dài 0,54m tượng trâu dài
khoảng 1m, hai pho tượng đều thể hiện con vật trong trạng thái tĩnh lặng. Song sự phong
phú về đường nét, hình khối đã tăng hình ảnh động cho pho tượng. Hai pho tượng hai
cách tạo khối khác nhau nhưng đều chungmột phong cách một tinh thần biểu cảm, đó là
sự đơn giản, chân thực, chặt chẽ. Ngay cả việc chọn con trâu, con chó đặt trong lăng vua
cũng thể hiện tinh thần và phong cách mỹ thuật thời Trần. Nghệ thuật tạo hình mang theo
quan niệm thẩm mỹ dân gian, bộc lộ ngay ở việc chọn nội dung đề tài sáng tác. Đề tài ở
lăng Trần thủ Độ mang nặng tính chính thống , tuy cách thể hiện sống động chân thực
đơn giản. Còn ở lăng Trần Hiến Tông tính chất dân gian bộc lộ cả nội dung và hình thức
thể hiện, ở đây ta bắt gặp cái đẹp khoẻ mạnh, thực thàchats phác, khác hẳn vẻ đẹp mang
tính khái quát cao như tượng hổ ở lăng Trần Thủ Độ. Cùng với tượng trâu, tượng chó còn
có hai tượng quan hầu, lúc bắt đầu tìm được cả hai pho tượng đều mất đầu. Một trong hai
pho tượng hiện còn ( trừ đầu) cao 1,3m. Tượng được tạo ra từ một khối đá hình chữ nhật,
tay bó vào thân tạo khối khoẻ, chắc chắn. Nói chung các tượng đều được thể hiện với
khối tròn đóng kín, đường nét thẳng, dứt khoát, tượngtrong dáng đứng cân đối vững
vàng, bố cục hướng vào điểm trung tâm. Những nếp áo sóng chạy dọc theo tay, thân đã
phá vỡ ấn tượng về bề mặt rộng của mảng khối lớn và đó cũng là những nét trang trí
chobức tượng. Toàn bộ pho tượng trong thế tĩnh lặng, trang nghiêm rất phù hợp với
không khí tĩnh mịch của ngôi mộ.
2.2.4. Một số bức chạm khắc tiêu biểu
Những bức chạm khắc nổi tiêu biểu của thời
Trần tập trung ở chùa Thái Lạc (Lạc Hồng – Văn Lâm
– Hưng Yên), chùa Bối Khê, chùa Dâu, chùa Hoa


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status