Tìm hiểu những công trình nghiên cứu về tục ngữ Việt Nam từ 1975 đến nay - Pdf 28


BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM TP. HỒ CHÍ MINH

PHAN THỊ PHƯƠNG THẢO TÌM HIỂU NHỮNG CÔNG TRÌNH
NGHIÊN CỨU VỀ TỤC NGỮ VIỆT NAM
TỪ 1975 ĐẾN NAY

LUẬN VĂN THẠC SĨ VĂN HỌC


tìm ra những hướng nghiên cứu mới về thể loại này là một việc làm hết sức cần thiết. Hơn nữa, về
mặt chủ quan, người viết rất hứng thú với đề tài đã chọn vì qua đó, học hỏi được nhiều kinh nghiệm
trong nghiên cứu khoa học, hiể
u sâu hơn về bản chất, đặc điểm, giá trị thể loại tục ngữ. Chọn đề tài
“Tìm hiểu những công trình nghiên cứu về tục ngữ Việt Nam từ 1975 đến nay” để nghiên cứu,
chúng tôi hy vọng đóng góp được phần nào trong công việc tổng thuật ấy.
2.LỊCH SỬ VẤN ĐỀ:
Tìm hiểu về tình hình nghiên cứu tục ngữ từ trước đến nay là vấn đề thú vị, đã thu hút được
sự quan tâm của một số nhà nghiên cứu trong cả nước. Có thể kể đến các công trình sau:
Trong công trình “Tục ngữ Việt Nam” (1975), Chu Xuân Diên đã giới thiệu một số thành
tựu chủ yếu của những người đi trước về các vấn đề nghiên cứu tục ngữ Việt Nam qua phần “Ti
ểu
luận về tục ngữ”. Đó là những nghiên cứu tục ngữ về mặt xã hội học, nhận thức luận và ngữ văn
học. Theo tác giả, nghiên cứu và khai thác tục ngữ Việt Nam về mặt xã hội học thường được tiến
hành theo hai hướng: thứ nhất, tục ngữ là đối tượng của chính sự nghiên cứu, đó là tìm hiểu nguồn
gốc, ý nghĩa các câu tục ngữ
và nội dung khái quát của tục ngữ. Hướng thứ hai, tục ngữ được dùng
như tài liệu bổ trợ, loại tài liệu xã hội học trong việc nghiên cứu những đối tượng thuộc nhiều ngành
khoa học xã hội khác nhau: khoa học lịch sử, dân tộc học, tâm lý học, đạo đức học, lịch sử tư tưởng.
Sau khi điểm qua vai trò của nghiên cứu tục ngữ về mặt xã hội họ
c, Chu Xuân Diên ghi nhận: “Kết
quả bước đầu trong việc nghiên cứu tục ngữ về mặt xã hội học ở ta chứng tỏ hướng nghiên cứu này
là quan trọng và hiện nay đang được nhiều người quan tâm đến” [37, 36]. Tác giả nhận thấy có một
hướng nghiên cứu đến nay chưa được quan tâm đúng mức, đó là nghiên cứu tục ngữ về mặt nhận
thức luận. Nghiên cứu về mặt xã hội học và nhậ
n thức luận là nghiên cứu tục ngữ với tư cách là
một hiện tượng ý thức xã hội. Ngoài ra, tục ngữ còn được nghiên cứu về mặt ngữ văn. Trong từng
góc độ, Chu Xuân Diên đã nêu lên các vấn đề và phương pháp nghiên cứu, có minh họa bằng một
số công trình tiêu biểu. Những vấn đề và phương pháp mà người viết đưa ra có tính chất lý luận
nhằm giới thiệu những thành tựu của người

cũng như tìm ra những khoảng trống mà các công trình chưa đề cập đến.
Trong phần thứ nhất “Tổng quan về tục ngữ các dân tộc thiểu số Việt Nam” của công trình
“Tổng tập văn học dân gian các dân tộc thiểu số Việt Nam” , nhà xuất bản KHXH, HN phát hành
năm 2000 do Trần Thị An (chủ biên), tác giả đã giới thiệu sơ lược về thành tựu nghiên cứu tục
ngữ người Việt ở phương diện lý thuyết từ các góc độ. Trong mỗi góc độ, người viết điểm qua
những thành tựu với một số công trình nghiên cứu tiêu biểu. Cụ thể: ở góc độ ngữ văn có các công
trình nghiên cứu về thi pháp thể loại tục ngữ
; ở góc độ nhận thức luận có các công trình nghiên cứu
về vấn đề nghĩa của tục ngữ. Ngoài ra, tác giả còn giới thiệu sơ lược lịch sử sưu tầm và nghiên cứu
tục ngữ các dân tộc thiểu số. Việc nghiên cứu tục ngữ các dân tộc thiểu số được người viết giới
thiệu qua một số công trình với các vấn đề theo tiến trình thời gian và ghi nhận chư
a có nhiều thành
tựu: “Trong khi tình hình sưu tầm tư liệu tục ngữ các dân tộc thiểu số đã thu được một số thành tựu
nhất định thì việc nghiên cứu lại chưa được tiến hành bao nhiêu”.[1,50].
Năm 2002, trong công trình “Tổng tập văn học dân gian người Việt tập 1”, nhà xuất bản
KHXH, HN ở phần III của “Khải luận”, Nguyễn Xuân Kính đã giới thiệu khái quát vấn đề nghiên
cứu tục ngữ. Đó là quá trình tìm hiểu, nghiên cứu tục ngữ và những vấn đề chung quanh việc nghiên
cứu tục ngữ người Việt. Trong phần quá trình tìm hiểu, nghiên cứu tục ngữ, tác giả chia thành ba
giai đoạn: trước Cách mạng Tháng Tám; trong kháng chiến chống Pháp (1945-1954) và sau hiệp
định Giơnevơ (1954), miền bắc hoàn toàn giải phóng; sau năm 1975. Khi đề cập đến tình hình
nghiên cứu tục ngữ Việt Nam trước năm 1945, Nguyễn Xuân Kính đã nhậ
n định: “Nhìn chung,
trước Cách mạng tháng Tám năm 1945 ở nước ta chưa có quan niệm thật xác đáng, khoa học về tục
ngữ với tư cách là một thể loại văn học dân gian. Trong một thời gian dài tục ngữ được quan tâm
chủ yếu trên phương diện sưu tầm, biên soạn” [117, 41]. Để chứng minh cho nhận định trên, tác giả
đã liệt kê một số công trình nghiên cứu tục ngữ trong thời gian này đồng thời đ
i đến kết luận: “Các
bài viết thiếu tính hệ thống... Việc nghiên cứu được tiến hành có tính chất tự phát, nghiệp dư, chưa
có cuốn sách nào bàn chuyên về tục ngữ, chưa có những tập hợp bài viết tìm hiểu, phân tích thể loại
này một cách hệ thống”[117, 42, 43]. Ở giai đoạn từ 1945 đến năm 1975, người viết giới thiệu sơ

cận tục ngữ từ góc độ nhận thức luận (đại diện là Chu Xuân Diên) và từ nhiều góc độ, trên nhiều
bình diện (tiêu biểu là Nguyễn Xuân Kính). Tuy nhiên, tác giả chỉ dừng lại ở sự liệt kê vài tác giả
tiêu biểu qua các góc độ nghiên cứu tục ngữ.
Trong công trình “Khảo lu
ận về tục ngữ người Việt” do Nxb Giáo dục, TP HCM phát
hành năm 2006, Triều Nguyên đã giới thiệu khái quát hai hướng tiếp cận tục ngữ của các nhà
nghiên cứu ở chương I “Tình hình nghiên cứu tục ngữ và các vấn đề đặt ra”. Đó là hướng tiếp cận
của các nhà folklore học và các nhà ngôn ngữ học. Riêng ở lĩnh vực folklore học, ông giới thiệu các
vấn đề đã được các nhà nghiên cứu xem xét như: khái ni
ệm (xác định tục ngữ); nội dung; hình thức
kết cấu (hay cấu trúc); nghĩa và cơ chế tạo nghĩa; sự vận dụng và mối quan hệ giữa tục ngữ với các
thể loại văn học dân gian khác. Bên cạnh tác giả folklore học quan tâm đến vấn đề của tục ngữ trên,
theo Triều Nguyên, tác giả ngành ngôn ngữ học cũng chú ý đến các vấn đề: quan niệm xem tục ngữ
thuộc cấ
p độ ngữ, ngữ vị, ngữ cú; xem tục ngữ là câu, câu cố định; xem tục ngữ vừa là câu, vừa là
thông điệp nghệ thuật. Với mục đích trình bày các kiến giải của người đi trước như là những chỉ
dẫn, định hướng cho việc tiếp tục xem xét vấn đề nghiên cứu trong công trình của mình, mỗi hướng
tiếp cận tục ngữ, người viết giới thiệ
u một số công trình tiêu biểu, có phân tích, lý giải những đóng
góp cũng như hạn chế của từng công trình.
Nhìn chung, các công trình nghiên cứu trên chỉ trình bày một cách khái quát lịch sử sưu
tầm, biên soạn cũng như nghiên cứu tục ngữ Việt Nam từ những năm đầu thế kỷ XX đến nay. Một
số công trình giới thiệu các góc độ nghiên cứu tục ngữ và một số tổng thuật chung về tình hình
nghiên cứu tụ
c ngữ. Trong các công trình tổng thuật về nghiên cứu tục ngữ, các tác giả chỉ giới
thiệu vấn đề nghiên cứu và điểm qua các công trình tiêu biểu, chưa phân tích sâu để có thể tổng hợp,
khái quát những đóng góp cũng như những hạn chế của các công trình, tìm ra những khoảng trống,
các khía cạnh tục ngữ chưa được nghiên cứu.
Như vậy, điểm qua lịch sử vấn đề, chúng tôi nhận thấy rằng đây là những công trình gợi ý
quý báu, là cơ sở quan trọng để chúng tôi tiếp tục khảo sát, thực hiện đề tài nghiên cứu. Đó là: “Tìm

tìm hiểu, chúng tôi nhận thấy có hai hướng nghiên cứu tục ngữ: thứ nhất, tục ngữ được khám phá
dưới nhiều góc độ: ngữ văn học, ngôn ngữ học, đạo đức học, dân tộc học, xạ hội h
ọc...thứ hai, tục
ngữ được lý giải, tìm tòi với nhiều vấn đề. Cả hai hướng nghiên cứu tục ngữ đều đã đạt được những
thành tựu đáng kể. Trong luận văn này, chúng tôi chọn cách tổng thuật theo từng vấn đề, sắp xếp để
giới thiệu các công trình theo trình tự thời gian vì cách làm này có thể giúp mọi người dễ dàng nhận
ra tiến trình nghiên cứu tục ngữ, thuận lợ
i đối với người đọc khi tìm ra vấn đề trong từng công trình,
qua đó tiếp tục phần nghiên cứu sau này.Với cách tổng thuật như trên, trong quá trình tìm hiểu, có
thể một công trình được nhắc lại nhiều lần với các vấn đề khác nhau.
5.ĐÓNG GÓP CỦA LUẬN VĂN:
Qua việc tổng thuật tình hình nghiên cứu tục ngữ Việt Nam từ 1975 đến nay, luận văn có
thể giúp người đọc khám phá bức tranh toàn cục về nghiên cứu thể loại, học hỏi những thành tựu
trong nghiên cứu tục ngữ của những người đi trước. Từ đó, mọi người có thể nhận thức đúng đắn
hơn về bản chất, đặc điểm, giá trị
thể loại này cũng như hiểu được những nỗ lực của các nhà khoa
học trong việc chiếm lĩnh, khám phá kho tàng tục ngữ Việt Nam từ năm 1975 đến nay.
Giúp mọi người thêm yêu quý di sản, tinh hoa trí tuệ của cha ông, dân tộc trong đó có tục
ngữ. Nâng cao ý thức giữ gìn và quý trọng vốn tục ngữ vô giá vì tục ngữ là kho kinh nghiệm quý
báu của cha ông đúc kết lại trên tất cả các lĩnh vực cuộc sống, vì nó th
ể hiện lối sống của thời đại,
lối nghĩ của nhân dân, lối nói của dân tộc.
6. KẾT CẤU LUẬN VĂN:
Ngoài phần Mở đầu, Kết luận, phần Nội dung của luận văn gồm có 4 chương:
+Chương 1:Giới thiệu chung về tục ngữ và tình hình nghiên cứu tục ngữ ở Việt Nam.
Ở chương này, chúng tôi trình bày một số vấn đề mang tính lý thuyết làm cơ sở, nền tảng
cho việc nghiên cứu của luận văn như: khái quát về tục ngữ, tục ngữ - một thể loạ
i văn học giàu
tiềm năng nghiên cứu và vài nét về tình hình nghiên cứu tục ngữ ở Việt Nam.
+Chương 2: Những công trình nghiên cứu về vấn đề nội dung tục ngữ Việt Nam

Từ trước đến nay, ở Việt Nam có rất nhiều định nghĩa về tục ngữ.
Vũ Ngọc Phan trong công trình “Tục ngữ ca dao dân ca Việt Nam”, năm 1965 đã định
nghĩa như sau: “Tục ngữ là một câu tự nó diễn đạt trọn vẹn một ý, một nhận xét, một kinh nghiệm,
một lý luận, một công lý, có khi là một s
ự phê phán”[182, 39].
Trong bài viết “ Đạo lý trong tục ngữ” đăng trên tạp chí Văn học, số 5 năm 1985, Nguyễn
Đức Dân đã quan niệm:“Tục ngữ là những câu nói ổn định về cấu trúc, phản ánh những tri thức,
kinh nghiệm và quan niệm (dân gian) của một dân tộc về thế giới khách quan, tự nhiên cũng như xã
hội” [ 18, 58].
Hoàng Tiến Tựu trong công trình “Văn học dân gian Việt Nam”, tập 2 năm 1990 đã cho
r
ằng: “Tục ngữ là thể loại văn học dân gian nhằm đúc kết kinh nghiệm, tri thức, nêu lên những nhận
xét, phán đoán, lời khuyên răn của nhân dân dưới hình thức những câu nói ngắn gọn, giản dị, súc
tích, có nhịp điệu, dễ nhớ, dễ truyền” [257,109].

Theo Đinh Gia Khánh, Chu Xuân Diên, Võ Quang Nhơn trong “Văn học dân gianViệt
Nam” do Nxb Giáo dục phát hành năm 1998 thì: “Tục ngữ là những câu nói ngắn gọn, có ý nghĩa
hàm súc, do nhân dân lao động sáng tạo nên và lưu truyền qua nhiều thế kỷ” [112, 244].
Có thể nói: tục ngữ là một đơn vị ngôn ngữ, có chức năng thông báo, có khả năng tạo câu
một cách độc lập dưới dạng lời nói, hình thức cấu trúc của chúng tương đối ổn định, có ý nghĩ
a khái
quát cao, do nhân dân lao động sáng tạo nên và lưu truyền qua nhiều thế kỷ.
Tục ngữ là tấm gương phản chiếu mọi biểu hiện của đời sống dân tộc, mọi quan niệm của
nhân dân về các hiện tượng lịch sử xã hội, về đạo đức, tôn giáo. Nó là một thể loại văn học ra đời rất
sớm, có số lượng phong phú và sức sống lâu bền trong folklore của các dân tộc trên thế gi
ới.
Tục ngữ là một di sản hết sức quý báu cần được lưu truyền và gìn giữ. Là sự đúc kết trí tuệ
và tâm hồn của nhân dân lao động, vì vậy mỗi câu tục ngữ không chỉ là một phán đoán, một triết lý
mà còn là văn bản nghệ thuật có giá trị. Tục ngữ được ví như “túi khôn nhân gian”, “kho báu của trí
tuệ nhân dân”.

ồng lúa. Những câu phản ánh kinh nghiệm chài lưới: “Tôm đi chạng vạng, cá đi
rạng đông”, kinh nghiệm chăn nuôi, chọn giống gia súc: “Chấm trán, lọ đuôi, không nuôi cũng
nậy”(chọn lợn). Bên cạnh đó, còn có những câu nói về các nghề thủ công như nghề gốm: “Nhất
dáng, nhì men, ba chàm, bốn vẽ”, nghề dệt: “Con gái thấy hoa vải to như bò thấy nhà táng”...Nhìn
chung, tục ngữ về lao động sản xu
ất phản ánh trên một số nét chính điều kiện phương thức lao động
của dân tộc ta, phản ánh một số đặc điểm của đời sống dân tộc. Nhưng do chức năng đặc biệt của
nó, tục ngữ về lao động sản xuất không mang những nội dung cuộc sống phong phú như tục ngữ về
con người-đời sống-xã hội.
Đại bộ phận t
ục ngữ Việt Nam là những câu phản ánh con người-đời sống-xã hội. Có thể nói
đời sống xã hội của con người được thể hiện qua tục ngữ vô cùng phong phú. Qua tục ngữ, những
ký ức về thời kỳ lịch sử xa xưa của dân tộc ta đã được ghi lại: “Ăn lông ở lỗ”, “Con dại cái mang”,
“Năm cha ba mẹ”, “Chồng chung vợ chạ”...Những hiện tượng và nhân vật l
ịch sử cá biệt, những
biến đổi về kinh tế, chính trị ảnh hường đến đời sống nhân dân cũng được phản ánh trong một số
câu tục ngữ: “Đít Lý Râu, đầu Án Cộng”, “Lệnh ông, cồng bà”, “Hăm mốt Lê Lai, hăm hai Lê Lợi”,
“Lê tồn Trịnh tại, Lê bại Trịnh vong”, “Một nhà hai chủ không hòa-Hai vua một nước ắt là không
yên”... Rất nhiều câu phản ánh tập tục sinh hoạt hàng ngày như
ăn, ở, mặc, giao tế, cưới xin, ma
chay, hội hè, sinh hoạt tôn giáo..., như: “Cơm có bữa, chợ có chiều”, “Ếch tháng ba , gà tháng
bảy”, “Tương cà gia bản”, “Dưa La, cà Láng, nem Báng, tương Bần, nước mắm Vạn Vân, cá rô
Đầm Sét”, “Bánh giầy nếp cái, con gái họ Ngô”, “Lấy vợ đàn bà, làm nhà hướng nam”, “Áo rách
thay vai, quần rách đổi ống”, “Hết tang trải chiếu ngang mà ngồi”...Có những câu ghi lại những
đặc điểm trong t
ổ chức và tập tục của xã hội-đơn vị cơ sở của quốc gia phong kiến Việt Nam: “Phép
vua thua lệ làng”, “Đất có lề, quê có thói”, “Sống lâu lên lão làng”, “Một miếng giữa làng bằng
một sàng xó bếp”... Nhiều câu tục ngữ phản ánh tổ chức gia đình và những quan điểm thân tộc của
nhân dân ta trong xã hội phong kiến: “Thế gian một vợ một chồng”, “Chết trẻ còn hơn lấy lẽ
”,

là một kho tàng phong phú và quý báu gồm những kinh nghiệm đời sống, lịch sử - xã h
ội đã tích lũy
lại được từ hàng nghìn năm lao động và đấu tranh của nhân dân ta. Đó là những kiến thức của nhân
dân lao động thời xưa về khoa học - kỹ thuật, về lịch sử - xã hội, về triết học… Những kiến thức
này tuy còn gắn chặt với kinh nghiệm nhưng so với những hình thức văn hóa tinh thần dân gian
khác, đó là dạng kiến thức đã tiến g
ần hơn cả đến dạng kiến thức khoa học và trình độ nhận thức
của nhân dân lao động thời xưa có thể đạt tới.
Kho tàng tục ngữ Việt Nam còn có rất nhiều câu tục ngữ mới ra đời từ sau Cách mạng tháng
Tám. Nhiều câu xuất hiện trên cơ sở cải biên những câu tục ngữ cũ. Tục ngữ mới ra đời phản ánh
được sự hình thành trong nhân dân Việt Nam nhiều phẩ
m chất mới. Nội dung của chúng phản ánh
cuộc sống mới của dân tộc ta. Cụ thể, đó là cuộc kháng chiến chống xâm lược vĩ đại của dân tộc ta
với chân dung sinh động về những người chiến sĩ trong chiến đấu cũng như những người lao động ở
hậu phương: “Gái mười bảy bẻ gãy cổ Mỹ”, “Ăn pháo thủ, ngủ lái xe”, “Đi dân nhớ
, ở dân thương”,
“Đôi vai ngàn cân, đôi chân vạn dặm”, “Thính như tai lính phòng không”, “Hố phân đầy chôn thây
giặc Mỹ”...Một số đặc điểm quan trọng của cuộc đấu tranh cách mạng của nhân dân ta nay được
tổng kết dưới dạng tục ngữ: “Một tấc không đi, một ly không rời”, “Ngày đêm trông chờ, một giờ
đứng lên”. Đặc biệt tục ngữ mới gi
ới thiệu và khẳng định những quan hệ xã hội mới tốt đẹp, trong
đó nổi bật lên mối quan hệ giữa lãnh tụ và quần chúng, giữa Đảng và nhân dân: “Ý Bác lòng dân”,
“Đảng viên đi trước làng nước đi sau”, “Dễ mười điều không dân cũng chịu, khó trăm điều dân
liệu cũng xong”...Tục ngữ mới còn là vũ khí sắc bén của sự phê bình đối với những hiện tượng tiêu
c
ực trong xã hội mới “Đầy túi quần thông cáo, đầy túi áo chỉ thị”, “Làm thì láo, báo cáo thì hay”...
Tục ngữ mới vẫn đang trên đường phát triển. Những câu tiêu biểu nhất trong tục ngữ mới
xứng đáng có được một chỗ đứng quan trọng trong kho tàng tục ngữ quý báu của nhân dân ta.
Tóm lại, từ những biểu hiện đa dạng, phong phú trong nội dung, tục ngữ thể hiện một số
đặc điểm như sau:

tắc lớn nhất, là đặc điểm nổi bật nhất của sự sáng tạo t
ục ngữ. Tục ngữ ưa nói ngắn, quen nói ngắn,
nói ngắn một cách thường xuyên, cũng nội dung ấy nói càng ngắn càng hay. Lời nói ngắn của tục
ngữ (xét về hình thức biểu đạt) là cốt để nói nhiều (xét về phương diện nội dung), nghĩa là nhằm
làm tăng mức độ khái quát cho bài học kinh nghiệm. Câu tục ngữ bao giờ cũng ngắn. Câu ngắn nhất
chỉ có ba tiếng: “May hơn khôn”, “Túng thì tính”...Thông thườ
ng là những câu có từ 4 đến 8 tiếng:
“Mất con còn cháu”, “Bụt chùa nhà không thiêng”, “Buôn có một, bán có mười”, “Có thờ có
thiêng, có kiêng có lành”...Những câu dài nhất chỉ khoảng 15-18 tiếng nhưng số lượng này rất ít. Ví
dụ: “Đen đông, chớp lạnh, quái vàng hoa bầu, trong ba điều ấy có lành đâu” (15 tiếng), “Dưa La,
cà Láng, nem Báng, tương Bần, nước mắm Vạn Vân, cá rô Đầm Sét” (16 tiếng), “Của làm ra để
trên gác, của cờ bạc để ngoài sân, củ
a phù vân để ngoài ngõ” (18 tiếng)...
Câu tục ngữ không chỉ ngắn gọn mà còn chặt chẽ, không một tiếng nào thừa. Mỗi tiếng,
mỗi từ đều cần thiết và đều đứng ở vị trí tối ưu đến mức chỉ một sự chuyển dịch nhỏ cũng đủ phá vỡ
toàn bộ câu tục ngữ. Gọn chắc là yêu cầu cao nhất của sự sáng tạo tục ngữ. Câu càng g
ọn chắc với
số tiếng càng ít thì nội dung càng hàm súc, ý càng nhiều. Trong thực tế ứng dụng, người ta có thể
chen thêm các kết từ hoặc các cụm từ có giá trị nối hai vế của câu tục ngữ. Và như vậy, trên nền
nghĩa cơ bản vốn có, câu tục ngữ đã có sự nới rộng nghĩa. Nhờ tỉnh lược đi một từ (hoặc cụm từ) mà
câu tục ngữ có thêm biết bao hàm nghĩa và do đó, chức năng ứng dụng thực hành càng được mở ra
một phạm vi rộ
ng rãi biết bao nhiêu. Hoàng Tiến Tựu đã nói: “Trong tục ngữ có những hệ từ và từ
liên kết (thì, là, mà, nhưng, bởi, vì vậy, do đó, cho nên, vả chăng, song le, tuy thế...) thường bị bỏ đi
và nhiều khi cả những thành phần cơ bản của câu (như chủ ngữ, vị ngữ,...) cũng bị tỉnh lược. Do đó,
mối quan hệ giữa các phán đoán cũng như hình thức suy luận của nhân dân thườ
ng không được thể
hiện rõ trong tục ngữ” [256, 122]. Như vậy, sự cô đọng, hàm súc của tục ngữ là do chủ ngữ, vị ngữ
và các hệ từ, kết từ bị tỉnh lược. Trong khi đó, các từ còn lại đều rất cần thiết, không thừa. Hơn nữa,
tục ngữ là sự đúc kết kinh nghiệm ở dạng khái quát. Dễ thấy nhất là ở tục ngữ không có loại từ

-Câu đối xứng đơn: là câu đảm bảo được hai đặc điểm sau:
Về mặt logic: nội dung của mỗi câu tục ngữ là một phán đoán.
Về mặt cú pháp: mỗi câu là một câu đơn mà mỗi thành phần câu t
ương đương với một vế.
Thí dụ: “Con gái là cái bòn”,“Của mua là của được”, “Tham thì thâm”...
-Câu đối xứng kép: là câu đảm bảo đủ hai yêu cầu sau:
Về mặt logic: có sự liên kết hai hoặc hơn hai phán đoán.
Về mặt cú pháp: mỗi câu là một câu phức mà mỗi thành phần câu tương đương với một câu
đơn. Thí dụ: “Trẻ dôi ra, già rụt lại”, “Nhất nước, nhì phân, tam cần, tứ giố
ng”, “Nhất sĩ, nhì nông,
tam công, tứ cổ”...
Trong hai loại câu đối xứng trên thì câu đối xứng kép phổ biến hơn, chiếm số lượng nhiều
hơn và căn bản đáp ứng, thỏa mãn được những yêu cầu, đặc điểm của một câu tục ngữ có tính đối
xứng. Chúng tôi xin lấy một câu tục ngữ cụ thể thuộc loại đối xứng kép, có phân tích để thấy rõ hơn
tính đố
i xứng của tục ngữ: “Đói ăn vụng, túng làm liều”. Ta thấy câu tục ngữ bao gồm 6 tiếng, tạo
thành hai vế đối xứng nhau, mỗi vế gồm có 3 tiếng. Tính đối xứng được thể hiện ở các bình diện
sau:
-Đối ý: là đối xứng giữa hai vế của câu tục ngữ với nhau về ý (đói ăn vụng đối với túng làm
liều). Quan hệ đối ý này
được thể hiện qua kiểu cấu trúc so sánh trùng điệp có dạng a=b. Nghĩa là
hai vế của câu tục ngữ đối ý nhau nhưng có tác dụng liên kết, bổ sung cho nhau nhằm tô đậm, khẳng
định một ý chung.
-Đối lời: là sự đối xứng giữa các yếu tố trong hai vế của câu tục ngữ. Đối lời có quan hệ chặt
chẽ với đối ý đã nói ở trên, vì nhờ có quan hệ đối lời mà quan hệ
đối ý mới có và thể hiện ra được.
Cũng trong câu tục ngữ trên, quan hệ đối lời được thể hiện như sau: Đói đối xứng với túng, ăn vụng
đối xứng với làm liều. Cần nói thêm rằng, sự đối ý, đối lời trong câu trên được xác lập nhờ vào
thuộc tính tương đồng về ngữ pháp- ngữ nghĩa giữa các yếu tố trong hai vế đó. Cụ
thể:

một số khía cạnh:
Cùng một câu tục ngữ nhưng khi nói có thể ngưng giọng ở những chỗ khác nhau sẽ tạo nên
những sự ngắt nhịp khác nhau. Ví dụ:
-Dâu hiền hơn/ con gái.
Dâu hiền/ hơn con gái.
-Rể hiền hơn / con trai.
Rể hiền / hơn con trai.
Giữa nhịp (hình thức) và ý nghĩa (nội dung) của một câu tụ
c ngữ có liên quan mật thiết với
nhau.
Trong một câu tục ngữ có thể có nhiều loại nhịp đan xen với nhau. Ví dụ: “Ruộng bề bề/
không bằng/ nghề trong tay” (nhịp 3/2/3); “Chăn tằm / kiếm cá/ nuôi con/ trong ba việc ấy/ ai còn
khoe hay” ( nhịp 2/2/2/4/4); “Lúc thì chẳng có ai/ lúc thì ông xã/ ông cai đầy nhà (nhịp 5/4/4)...
Phần lớn các câu tục ngữ nhịp trùng với ranh giới giữa các vế có số lượng tiếng bằng nhau,
đối nhau. Thí dụ: “Tay đứt/ ruột xót”, “Nhất ngh
ệ tinh/ nhất thân vinh”, “Quan cứ lệnh/ lính cứ
truyền”...
Đối với những câu tục ngữ bị tỉnh lược kết từ thì vai trò của nhịp vô cũng quan trọng, nó trở
thành nơi “trú ẩn” của trục đối xứng. Còn đối xứng với những câu có thể chêm xen những kết từ
khác nhau thì nhịp của nó cũng thay đổi và dĩ nhiên ngữ nghĩa cũng thay đổi ít nhiều. Dựa vào nhịp
của tục ngữ, chúng ta có thể phân tích và vận dụng nó một cách linh hoạ
t, sáng tạo trong giao tiếp.
Cần lưu ý rằng, nhịp dù linh hoạt đến đâu cũng phải ăn nhập với ý vì nó là một trong những
hình thức thể hiện ý của tục ngữ.
Như vậy, nhịp và vần luôn gắn bó với nhau để tạo nên tính nhạc, sự hài hòa, sinh động, cân
đối cho câu tục ngữ. Nhịp và vần còn làm cho tục ngữ dễ ăn sâu vào trí nhớ con người. Trong tục
ngữ, vần và nhịp t
ự nhiên đồng thời là vần và nhịp logic giữa các vế. Nhịp và vần cũng góp phần
làm cho tục ngữ mặc dù là câu nói dùng hằng ngày nhưng vẫn mang đầy đủ những đặc điểm của
sáng tạo nghệ thuật ngôn từ.

tan nghé”, “Gần mực thì đen, gần đèn thì sáng”...
Nhân hóa: là cách thức gán cho sự vật vô tri, đối tượng trừu tượng đặc tính của con người
thể hiện ở động từ, tính từ chỉ hành động hoặc phẩm chất riêng vốn có ở con người. Trong tục ngữ
nhân hóa thường được sử dụng kèm với
ẩn dụ: “Lá lành đùm lá rách”, “Con voi voi dấu, con chấu
chấu yêu”, “Cái nết đánh chết cái đẹp”, “Mèo khoe mèo dài đuôi”...
Tóm lại, những đặc điểm thi pháp của tục ngữ biểu hiện một cách tập trung những đặc điểm
của ngôn ngữ Việt Nam. Chính vì thế, tục ngữ Việt Nam không chỉ là kho tàng kinh nghiệm, tri
thức vô cùng phong phú và quý giá, nó còn là một kho mỹ từ pháp, là những văn bản mang tính
nghệ thuật tiêu biểu cho lời
ăn tiếng nói của nhân dân.
1.2Tục ngữ- một thể loại văn học dân gian giàu tiềm năng nghiên cứu:
Tục ngữ là một hiện tượng văn hoá đa diện, đa dạng. Tục ngữ tồn tại như lời nói, chứ không
phải là lời kể, lời hát như các thể loại khác của sáng tác truyền miệng dân gian. Chức năng quan
trọng và cơ bản nhất của tụ
c ngữ là diễn đạt, truyền bá kinh nghiệm đời sống. Các thể loại khác
cũng có chức năng này nhưng không trực tiếp, tập trung. Kinh nghiệm đời sống trong tục ngữ so với
các thể loại khác cũng toàn diện và đa dạng hơn. Bởi vì đề tài của nó rất rộng, bao quát hầu như tất
cả các lĩnh vực của thực tại, trong khi các thể loại khác có đối tượng phản ánh giớ
i hạn hơn.
Tục ngữ phản ánh không chỉ những kinh nghiệm được nhìn thấy, nghe thấy từ các giác
quan bên ngoài, mà cả những kinh nghiệm được nhìn nhận, suy ngẫm từ các giác quan bên trong
tinh tế của con người.
Ngoài ra, tục ngữ còn là một tác phẩm nghệ thuật, một kho mỹ từ pháp, một kho kinh
nghiệm sử dụng lời nói để tổng kết tri thức, diễn đạt tư tưởng rất lâu đời, phong phú và đậm đ
à bản
sắc dân tộc.
Vì vậy, có thể nói, tục ngữ là một thể loại, một văn bản nhỏ nhất, nhưng không kém phần
phức tạp. Do đó, ở Việt Nam, từ lâu gia tài tục ngữ đã từng lôi cuốn sự chú ý của nhiều nhà hoạt
động văn hóa khoa học và đã từng được nhiều ngành khoa học khác nhau tìm hiểu và khai thác.

cùng một lúc. Mặt khác, là những phán đoán, nhận định, những lời nói, kinh nghiệm rút ra từ tri
thức thực tiễn cuộc sống của xã hội loài người, tục ngữ vừa có sự phong phú về nội dung, ý nghĩa,
vừa đa dạng về hình thức cấu tạo. Phần lớn tục ngữ cũ
lại được qua tay hàng triệu con người trong
đời sống hàng ngày, đi vào văn chương, qua các thời đại đã trở thành những sản phẩm sáng tạo đặc
thù của nhân dân. Bởi thế, có những câu tục ngữ hết sức dễ hiểu, quen thuộc với mọi người, thậm
chí có thể hiểu được ngay, cả đối với trẻ em người bản ngữ chưa có nhiều vốn sống. Bên cạnh đó,
còn có một bộ phận không nhỏ những câu ít dùng, ít người biết đến và đôi khi rất khó hiểu, khó giải
thích, vì chúng được cấu tạo cả bằng những từ cổ, từ địa phương hoặc bằng những cách nói riêng rất
độc đáo, hàm súc và phần nào được cách điệu hóa, có khi tưởng như xa lạ với cách nói, cách nghĩ
của con người hiện nay. Cho nên, việc nhận thức về tục ngữ là điều không
đơn giản.
Đây là một đối tượng phong phú, đa dạng mà không thể thu hẹp, giới hạn ở mức độ có thể
cho là đủ bởi nếu làm như vậy kết quả nghiên cứu sẽ trở nên lạc lõng khi có những bằng chứng dựa
trên một cứ liệu đầy đủ hơn. Một di sản mênh mông cực kỳ phong phú, đa dạng, dân tộc nào cũng
có hiện còn bao nhiêu bí ẩn bên trong cái thế giớ
i tưởng là đơn giản đó nhưng vẫn còn thách đố
khoa học, nhiều môn học mới, nhiều cách tiếp cận mới đã ra đời. Giao lưu quốc tế càng mở rộng,
càng đòi hỏi sự tự giới thiệu lẫn nhau về trí tuệ và kinh nghiệm truyền thống… Vì vậy, sự giàu có,
phong phú của tục ngữ Việt Nam là kết quả của nhiều công phu khai thác, tích lũy, quản lý một
cách có tổ ch
ức, có kế hoạch. Hơn nữa, vẻ đẹp của tục ngữ không bộc lộ một cách dễ thấy mà phải
qua sự cắt nghĩa, phân tích của nhiều người, nhiều thế hệ mới bộc lộ được nhiều khía cạnh ẩn náu
bên trong, phát huy được bản chất trong sáng của nó.
1.3Vài nét về tình hình nghiên cứu tục ngữ ở Việt Nam.
1.3.1 Tình hình nghiên cứu tục ngữ trước 1975:
Từ những năm đầu thế kỷ XX, tuy khoa nghiên cứu văn học dân gian nước ta chưa ra đời
nhưng đã có nhiều nhà nho ghi chép, biên soạn tụ
c ngữ. Nhìn chung chưa có quan niệm xác đáng,
khoa học về tục ngữ với tư cách là một thể loại văn học dân gian. Trong một thời gian dài tục ngữ

Tân, HN, (số 148).
+Hoa Bằng (1944),“ Tục ngữ, ca dao nguồn văn liệu rất phong phú”, Tạp chí Tri Tân, HN,
(số 148)…
Nhìn chung, thời gian này đa số các công trình là những bài viết đăng trên tạp chí, chưa có
những công trình nghiên cứu quy mô và chuyên sâu về tục ngữ.
Trong những năm kháng chiến chống Pháp (1945-1954), công việc sưu tầm, biên soạn,
nghiên cứu tục ngữ bị hạn chế.Vì vậy, có rất ít công trình nghiên cứu:
+Nguyễn Trọng Lực (1949), Tiếng nói của đồng ruộ
ng (hay là nghề nông Việt Nam qua ca
dao, tục ngữ), nhà sách Vĩnh Bảo, Sài Gòn.
+Lê Văn Hòe (1953),“Tục ngữ lược giải”, Nxb Quốc học thư, HN.
Sau hiệp định Giơ-ne-vơ, miền Bắc hoàn toàn giải phóng. Trong tình hình đất nước ổn
định, các nhà nghiên cứu có điều kiện cần thiết để nghiên cứu tục ngữ. Một số các công trình sưu
tầm, biên soạn, nghiên cứu tục ngữ lần lượt ra đời. Về
sưu tầm, biên soạn tục ngữ, có thể kể đến
công trình sau: “Một ít ca dao tục ngữ (tìm trong vốn cổ)”(1956), tạp chí Văn Nghệ, HN, (số 127),
(số 128), (số 129) do Thạch Hãn (sưu tầm) ...
Trong giai đoạn này, nhiều vấn đề của tục ngữ đã được đề cập, trong đó vấn đề nội dung
được nhiều tác giả lưu tâm. Có thể kể đến các công trình: “Giải thích vài tục ng
ữ về trồng lúa”
(1958), Nxb Nông Thôn, HN của Tam Phương; “Kinh nghiệm làm chiêm qua ca dao, tục ngữ”,
(1961), Nxb KH, HN của Ngô Xuân Minh, Trần Văn Doãn; “Kỹ thuật sản xuất qua tục ngữ và ca
dao Việt Nam”(1961), tạp chí Phổ thông, Sài Gòn, số 51 của Lê Huy Cận; “Tục ngữ ca dao dân ca
Việt Nam (1965), Nxb KHXH, HN của Vũ Ngọc Phan; “Một số thành ngữ, tục ngữ, ca dao về lời
ăn tiếng nói” (1969), tạp chí Ngôn ngữ, HN, số 2 củ
a Anh Đào; “Tính chất nhân bản của tục ngữ,
ca dao” (1969), tạp chí Phổ thông, Sài Gòn, số 218 của Trần Đức Rật, “Tìm hiểu phong cách ăn
của dân tộc (qua ca dao, tục ngữ)” (1970), báo Văn nghệ, (số 355-356) của Từ Giấy; “Rượu qua
ca dao, tục ngữ Việt Nam” (1972), tạp chí Văn học, Sài Gòn, số 147 của Đỗ Nam...Bên cạnh đó,
các vấn đề nhận diện tụ

điều kiện khai thác vốn tục ngữ trên mảnh đất non sông liền một dải. Kho tàng tục ngữ như một
mảnh đấ
t màu mỡ cho các nhà nghiên cứu tìm tòi, khai phá.
Từ 1975 đến nay, ở các trường đại học và viện nghiên cứu đã có nhiều nghiên cứu sinh, học
viên cao học, sinh viên chọn đề tài nghiên cứu tục ngữ, theo trình tự thời gian, có các công trình sau:
“Vị trí của tục ngữ trong mối quan hệ với một số thể loại folklore và văn học thành văn” của
Trần Đức Các, luận án Tiến sĩ, năm 1992.
“Khảo sát việc sử d
ụng thành ngữ, tục ngữ trong “Kho tàng ca dao người Việt”của Hồ
Tuyên, luận văn Cử nhân, năm 1996.
“Thế ứng xử xã hội cổ truyền của người Việt châu thổ Bắc bộ qua một số ca dao tục ngữ”
của Trần Thúy Anh, luận văn Thạc sĩ, năm 1998.
“Tục ngữ ca dao và việc phản ánh danh lam thắng cảnh” của Tạ Thị Hương, luận văn C

nhân, năm 1998.
“Con số trong ca dao, tục ngữ”của Phan Thị Hoa Lý, luận văn Cử nhân, năm 1999…
“Tục ngữ Việt Nam, bản chất thể loại qua hệ thống phân loại” của Nguyễn Việt Hương, luận
án Tiến sĩ, năm 2001.
“Cấu trúc cú pháp, ngữ nghĩa của tục ngữ Việt (trong sự so sánh với tục ngữ của một số dân
tộc khác” c
ủa Nguyễn Quý Thành, luận án Tiến sĩ, năm 2002 .
“Đặc điểm cấu trúc và ngữ nghĩa của thành ngữ và tục ngữ Nghệ Tỉnh (trong quan hệ với văn
hóa địa phương)” của Nguyễn Trí Sơn, luận án tiến sĩ, năm 2004.
“Khảo sát một số câu tục ngữ có nhiều cách hiểu” của Nguyễn Thanh Đảm, luận văn Thạc sĩ,
năm 2007.
“Biểu trưng trong tục ngữ Việt Nam” của Nguyễn Văn Nở, luận án Tiến sĩ, năm 2007.
“Khảo sát việc sử dụng thành ngữ, tục ngữ, ca dao trên báo chí” của Võ Nguyễn Bích Duyên,
luận văn Cử nhân, năm 2008.
“Định kiến giới trong ca dao, t
ục ngữ, thành ngữ Việt Nam” của Nguyễn Thị Thịnh, luận văn

+ Nguyễn Trí Sơn (2000), “Những kinh nghiệm trồng lúa ở xứ Nghệ qua thành ngữ, tục ngữ và
phương ngôn”, Ngữ
học trẻ, Hội Ngôn ngữ học VN, HN.
+Nguyễn Văn Nở (2002), “Hình ảnh sông nứớc trong tục ngữ Việt Nam”, Kỷ yếu Ngữ học trẻ,
Hội ngôn ngữ học, HN.
+ Hà Thị Kiều Oanh (2002), “Đối chiếu một số đặc trưng cấu trúc ngữ nghĩa tục ngữ Anh-
Việt”, Ngữ học trẻ, Hội Ngôn ngữ học VN, HN...
Theo thống kê của chúng tôi, đã có 249 công trình nghiên cứu về tục ngữ Việt Nam ra đời từ

năm 1975 đến nay. Những vấn đề lý luận về phương pháp nghiên cứu tục ngữ được đề cập tới một
cách nghiêm túc và khoa học.Tục ngữ được nghiên cứu dưới nhiều góc độ với nhiều ngành khoa
học khác nhau: xã hội học, ngữ văn học, ngôn ngữ học, lịch sử học, địa lý học, triết học…Trong đó,
ngôn ngữ học và ngữ văn học là hai ngành có đóng góp nhi
ều nhất trong việc nghiên cứu tục ngữ.
Với những phương pháp khác nhau, hai ngành khoa học đã có sự hỗ trợ nhau: ngành ngữ văn học
gợi ý cho các nhà ngôn ngữ học, ngược lại, ngôn ngữ học cung cấp những sự phân tích, minh chứng
cho các nhà nghiên cứu ngữ văn và phát triển, đào sâu theo hướng của mình. Bên cạnh đó, các vấn
đề của tục ngữ cũng được các nhà nghiên cứu tìm tòi, khai phá. Cụ thể, về vấn
đề nội dung, các
công trình đã khai thác sự đa dạng, phong phú của nội dung, những quan niệm về nghĩa của tục ngữ
và giải thích ý nghĩa của từng câu tục ngữ . Nghiên cứu thi pháp tục ngữ, các nhà nghiên cứu đi sâu
vào tìm hiểu cú pháp, vần nhịp, sự hòa đối và phương thức tạo nghĩa. Ngoài ra, tục ngữ cũng được
lý giải, tìm tòi qua các vấn đề nhận diện, so sánh, vận dụng, mối quan hệ giữ
a tục ngữ với một số
thể loại văn học dân gian khác, khai thác tục ngữ phục vụ cho hôm nay và cội nguồn tục ngữ.
Có thể nói, nghiên cứu tục ngữ Việt Nam giai đoạn từ 1975 đến nay đã đạt được nhiều thành
tựu đáng kể. Hàng loạt những công trình có quy mô lớn, nhỏ xuất hiện qua các sách báo, các hội
thảo ở trung ương và địa phương đã tạo ra một b
ức tranh đa dạng trong lịch sử nghiên cứu văn học
trong nước. Hơn thế nữa, sự phong phú của các công trình nghiên cứu tục ngữ về số lượng lẫn chất

thuộc nhiều ngành khoa học xã hội khác nhau.
Một trong những công trình nghiên cứu nội dung tục ngữ công phu và có giá trị cao đó là
“Tục ngữ Việt Nam” năm 1975 của nhóm tác giả Chu Xuân Diên, Lương Văn Đang, Phương Tri.
Phần nội dung tục ngữ được Chu Xuân Diên phân tích rất sâu sắc qua chương II: “Tục ngữ và lối
sống của thời đại”. Đó là những tri thức về giới tự nhiên, con ngườ
i và đời sống con người trên cả
ba lĩnh vực: đời sống vật chất, xã hội và tinh thần. Xuất phát từ quan niệm tục ngữ không những là
một hiện tượng ngôn ngữ mà còn là hiện tượng ý thức xã hội, tác giả đã nghiên cứu tục ngữ không
chỉ là sản phẩm của hoạt động nhận thức mà còn là công cụ của hoạt động nhận thức. Từ nội dung,
người vi
ết đã phân tích tổng hợp để đi đến nhận định tục ngữ là một hiện tượng ý thức xã hội hỗn
hợp thuộc lĩnh vực nhận thức khoa học và lĩnh vực nhận thức nghệ thuật. Theo ông: “Nội dung tư
tưởng của tục ngữ không chỉ gắn với những hiện tượng lịch sử-xã hội nhất định, mà còn có khả
năng không ng
ừng mở rộng để trở thành công cụ nhận thức”[37,115].
Giới thiệu khái quát nội dung tục ngữ còn có các công trình “Văn học Việt Nam” (năm
2004) của Lê Chí Quế, Võ Quang Nhơn, Nguyễn Hùng Vĩ, “Tổng tập văn học dân gian người
Việt”(năm 2002) của Nguyễn Xuân Kính (Phần “Khải luận về tục ngữ”). Đó là những kinh nghiệm
trong lao động, chăn nuôi, chài lưới, các giai đoạ
n phát triển của lịch sử xã hội, phong tục, tập quán
sinh hoạt của nhân dân các vùng quê khác nhau, cách ứng xử của nhân dân và những yếu tố triết học
thô sơ. Triều Nguyên trong công trình “Khảo luận về tục ngữ người Việt” năm 2007 đã thống kê
những câu tục ngữ theo 4 chủ đề lớn và 75 tiểu chủ đề: quan hệ của con người với giới tự nhiên, con

Trích đoạn Nguyễn Nghĩa Dân Nguyễn Thái Hòa NguyễnV ăn Nở: ĐĂNG TRÊN CÁC BÁO VÀ TẠP CHÍ. Nghĩa khái quát của thành ngữ và tục ngữ
Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status