VIỆN HÀN LÂM
KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM
HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI
ĐOÀN THANH LIÊM
HỆ BIỂU TƯỢNG NGHỆ THUẬT CƠ BẢN
TRONG TIỂU THUYẾT LỊCH SỬ ĐƯƠNG ĐẠI VIỆT NAM
LUẬN ÁN TIẾN SĨ VĂN HỌC VIỆT NAM
HÀ NỘI, 2020
VIỆN HÀN LÂM
KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM
HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI
Lời cam đoan
Tôi xin cam đoan bản luận án này là kết quả nghiên cứu của riêng tôi. Các
dẫn liệu được sử dụng trong luận án là trung thực, có xuất xứ rõ ràng. Những phát
hiện trong luận án là kết quả nghiên cứu của tác giả luận án.
ĐOÀN THANH LIÊM
Tác giả luận án
Đoàn Thanh Liêm
HỆ BIỂU TƯỢNG NGHỆ THUẬT CƠ BẢN
TRONG TIỂU THUYẾT LỊCH SỬ ĐƯƠNG ĐẠI VIỆT NAM
2.1. Các biểu tượng Nước, Lửa, Đất, Trời ...............................................................32
2.2. Phương thức kiến tạo hệ biểu tượng tự nhiên trong tiểu thuyết lịch sử đương đại
Việt Nam ...................................................................................................................55
Chương 3 . HỆ BIỂU TƯỢNG CON NGƯỜI TRONG TIỂU THUYẾT LỊCH
SỬ ĐƯƠNG ĐẠI VIỆT NAM ..............................................................................68
3.1. Các biểu tượng đấng minh quân, kẻ sĩ, liệt nữ ..................................................68
3.2. Phương thức kiến tạo hệ biểu tượng con người trong tiểu thuyết lịch sử đương
đại Việt Nam ............................................................................................................95
CHƯƠNG 4. HỆ BIỂU TƯỢNG VĂN HÓA CỘNG ĐỒNG TRONG TIỂU
THUYẾT LỊCH SỬ ĐƯƠNG ĐẠI VIỆT NAM ............................................... 106
4.1. Các biểu tượng tín ngưỡng, tôn giáo, lễ hội .................................................... 106
4.2. Phương thức kiến tạo hệ biểu tượng văn hóa cộng đồng trong tiểu thuyết lịch sử
đương đại Việt Nam ...............................................................................................133
KẾT LUẬN ...........................................................................................................143
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO ............................................................ 149
MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài
1.1. Biểu tượng hiện hữu trong đời sống nhân loại ngay từ khi loài người
biết tư duy về tự nhiên và xã hội với những hình ảnh đơn giản nhất. Từ xã hội
nguyên thủy cho đến xã hội văn minh, từ con người tiền sử cho đến con người
hiện đại, biểu tượng luôn được tạo ra như là một công cụ thực hiện chức năng xã
hội, thể hiện nhận thức của con người về tự nhiên và xã hội. Cùng với trình độ tư
duy của con người ngày càng phát triển, thế giới biểu tượng càng ngày được thiết
tạo phong phú và sinh động, sử dụng rộng rãi trên các mặt đời sống xã hội. Biểu
tượng “không chỉ là hiện tượng văn hóa thông thường, hệ thống biểu tượng là
nền tảng cơ bản của một nền văn hóa dân tộc” [31, tr.9]. Hệ thống biểu tượng ấy
không hề tồn tại độc lập mà xuyên thấu vào nhau vừa mang bản sắc văn hóa của
thời đại mà nó được sản sinh ra vừa không ngừng được bổ sung các giá trị qua
xây dựng tính cách nhân vật.
1.4. Đối với nền văn học đương đại Việt Nam (khái niệm đương đại mà
chúng tôi sử dụng vừa dùng để chỉ mốc thời gian ấn hành các tác phẩm, đồng
thời nói đến với sự đổi mới phương thức phản ánh và nội dung phản ánh trong
tác phẩm nghệ thuật…), thể tài tiểu thuyết lịch sử có những đóng góp lớn, để lại
dấu ấn sâu sắc. Minh chứng cho điều này là sự “thắng thế” của các tiểu thuyết
lịch sử qua các lần trao giải và rất nhiều diễn đàn văn học bàn luận về tác giả và
tiểu thuyết lịch sử. Tiểu thuyết lịch sử là thể tài văn học có đặc trưng phức hợp.
Thể tài văn học này lấy hiện thực lịch sử làm chất liệu “xương cốt” và hư cấu
nghệ thuật làm “hồn phách” tinh anh của tác phẩm. Đối tượng thẩm mĩ thường
được các nhà văn hướng đến là những chi tiết, sự kiện, hiện tượng, nhân vật lịch
sử được thời gian và các tầng lớp nhân dân phủ bóng trầm tích văn hóa trong quá
trình tiếp nhận. Nhà văn sử dụng đặc trưng hư cấu để làm sáng tỏ thêm những
góc khuất lịch sử trên tinh thần của thời đại ngày nay, qua đó nhắn gởi những
thông điệp đến đời sống đương đại và mai sau. Trong thời gian qua, các nhà
nghiên cứu đã thực hiện nhiều công trình khoa học chỉ ra tiến trình vận động,
phát triển, diện mạo, đặc điểm, các phương thức biểu đạt của tiểu thuyết lịch sử
Việt Nam nói chung, tiểu thuyết lịch sử đương đại Việt Nam nói riêng từ góc
nhìn lí luận loại thể văn học. Cốt lõi của các tác phẩm thuộc thể tài văn học này
là thành tố lịch sử và văn hóa thì chưa có công trình nghiên cứu nào bàn luận sâu
rộng, chuyên biệt. Chỉ có một số bài viết bàn đến yếu tố văn hoá, lịch sử, đề cập
2
đến biểu tượng trong một tác phẩm cụ thể nào đó… Trước bối cảnh văn hóa và
văn học thế giới đang xóa nhòa những khoảng cách, có khả năng chồng xếp và bị
hút lẫn nhau, việc nghiên cứu thế giới biểu tượng nhằm khám phá chiều sâu địa
tầng văn hoá, lịch sử nhân loại và dân tộc qua hệ thống tiểu thuyết lịch sử đương
đại Việt Nam là rất cần thiết.
chừng mực nào đó, luận án sẽ khảo sát tiểu thuyết lịch sử các giai đoạn trước đó,
đồng thời, so sánh với tiểu thuyết lịch sử của một số nền văn học khác để thấy rõ
hơn thành tựu của tiểu thuyết lịch sử đương đại Việt Nam.
4. Phương pháp nghiên cứu của luận án
4.1. Phương pháp hệ thống
Phương pháp hệ thống giúp chúng tôi tập hợp được các biểu tượng khác nhau,
sắp xếp chúng theo hệ biểu tượng tương ứng để phân tích. Phương pháp hệ thống
cũng giúp chúng tôi tập hợp được các công trình, bài viết nghiên cứu xoay quanh
đối tượng và phạm vi nghiên cứu của luận án.
4.2. Phương pháp so sánh
Sử dụng phương pháp so sánh, chúng tôi sẽ xác định được bản chất của đối
tượng nghiên cứu trong tương quan với đối tượng của các công trình nghiên cứu
khác; xác định bản chất của từng loại biểu tượng trong mối quan hệ với các biểu
tượng khác.
4.3. Phương pháp loại hình
Nói đến loại hình là nói đến “tập hợp những sự vật, hiện tượng cùng có chung
những đặc điểm cơ bản nào đó” [19, tr.327]. Phương pháp này sẽ giúp chúng tôi
nhận dạng các biểu tượng khác nhau để xếp chúng về một kiểu loại phù hợp.
4.4. Tiếp cận văn học từ góc nhìn văn hóa
Biểu tượng là phương diện quan trọng của văn hóa và là phương tiện biểu đạt
của văn học qua tư duy nghệ thuật của nhà văn. Tiếp cận biểu tượng văn học từ góc
nhìn văn hóa sẽ giúp luận án có điều kiện khám phá chiều sâu các giá trị của biểu
tượng trong tác phẩm văn học.
4.5. Phương pháp liên ngành
Nghiên cứu biểu tượng trong văn học, đặc biệt là biểu tượng trong tiểu thuyết
đòi hỏi sử dụng nhiều loại hình tri thức khác nhau như sử học, xã hội học, văn hóa
học, tâm lý học, tôn giáo, tín ngưỡng, thi pháp học, tự sự học…Vì thế, luận án sẽ sử
dụng phương pháp liên ngành nhằm cắt nghĩa sâu hơn cách sử dụng biểu tượng
cũng như các tầng nghĩa nằm sâu trong biểu tượng văn học.
Chương 4: Hệ biểu tượng văn hoá cộng đồng trong tiểu thuyết lịch sử đương đại
Việt Nam
5
CHƯƠNG 1
TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU VÀ CƠ SỞ LÍ LUẬN
1.1. Vấn đề nghiên cứu biểu tượng và tiểu thuyết lịch sử
1.1.1. Nghiên cứu biểu tượng
1.1.1.1. Khái lược tình hình nghiên cứu biểu tượng trên thế giới
Ở các quốc gia phát triển và có truyền thống văn hóa lâu đời, việc nghiên cứu
biểu tượng đã có từ rất sớm cả về khảo sát thực tiễn lẫn nền tảng lý thuyết. Các thao
tác đọc biểu tượng và giải mã biểu tượng thường gắn với hệ tư tưởng triết học và
mỹ học nào đó.
Theo triết học mácxít, quá trình nhận thức của con người về thế giới trải qua
hai giai đoạn nhận thức cơ bản: cảm tính và lý tính. Các cấp độ của quá trình nhận
thức diễn ra rất biện chứng và phức tạp, mỗi cấp độ có nội dung, chức năng và ý
nghĩa khác nhau. Biểu tượng là mắt xích sau cùng, là hình thức phản ánh cao nhất
và phức tạp nhất của quá trình nhận thức cảm tính gồm: cảm giác, tri giác, biểu
tượng. Theo đó, biểu tượng là hình ảnh của sự vật, hiện tượng khách quan tương đối
hoàn chỉnh và trừu tượng còn lưu lại trong bộ óc người sau khi sự vật, hiện tượng
đó không còn trực tiếp tác động vào các giác quan. “Biểu tượng là hình ảnh của cảm
tính về các sự vật, hiện tượng khách quan nên ít nhiều mang tính trừu tượng hóa”
[120, tr.300-303]. Quan điểm triết học mácxít xem biểu tượng là sản phẩm chủ quan
cá nhân trong hoạt động nhận thức của con người, biểu tượng mất đi giá trị văn hoá
không thuộc về cái đã có, cổ xưa được tích luỹ qua các thời đại và không mang tâm
thức cộng đồng.
Đối với các nhà phân tâm học, biểu tượng không phải là một giai đoạn của quá
và trực tiếp” [14, tr.18]. Trong khi “ký hiệu không bao giờ nói hết những ý nghĩa
của một ý niệm ghi lại bằng ký hiệu ấy còn biểu tượng gợi đến một nội dung to lớn
hơn ý nghĩa hiển nhiên và trực tiếp của biểu tượng” [14, tr.67]. Đối với các nhà triết
học phân tâm, khi phân tích biểu tượng trước hết họ khảo sát những biểu tượng tự
nhiên, đối chiếu với các biểu tượng văn hóa. Những biểu tượng tự nhiên “thoát thai
từ nội dung phi ý thức của cái psyché (Chữ này Jung dùng để chỉ toàn bộ những tác
động trí thức và tiềm thức và được dùng theo một nghĩa rộng hơn chữ “tâm thần”)
[14, tr.20], còn “những biểu tượng văn hóa dùng để diễn tả những chân lý vĩnh cửu.
Những biểu tượng này đã nhiều lần thay đổi, có thể do một tiến trình cấu tạo có ý thức,
và trở thành những hình ảnh tập thể được các xã hội văn minh chấp nhận” [14, tr.135].
7
Thế kỷ XX với sự phát triển vượt bậc của nhiều chuyên ngành khoa học xã hội
khác nhau như cấu trúc luận, ngôn ngữ học, ký hiệu học, nhân học... đã tác động
mạnh mẽ đến hoạt động nghiên cứu biểu tượng và lý thuyết biểu tượng trên thế giới.
Có thể có nhiều cách giải thích khác nhau về vỏ vật chất, nghĩa và ý nghĩa, giá trị
của một phương tiện giao tiếp, song các nhà khoa học cấu trúc luận, ngôn ngữ học,
ký hiệu học quan niệm ngôn ngữ, ký hiệu gồm hai phần: cái biểu đạt và cái được
biểu đạt. Từ mô hình cấu trúc do Ferdinand de Sausure lập ra với quan niệm ngôn
ngữ là một hệ thống ký hiệu, mỗi ký hiệu ngôn ngữ có hai phần cái biểu đạt và cái
được biểu đạt, nhiều nhà khoa học như Romand Jakobson, Tzvetan Todorov,
Roland Barthes, Jacques Derrida, C. Levi-Strauss kế tiếp nhau dụng hành và phát
triển nó thành hệ thống lý thuyết về cấu trúc luận, ký hiệu học với những giá trị lớn
lao. Roland Barthes đã phát triển mô hình cấu trúc của ký hiệu, cái biểu đạt và cái
được biểu đạt ở một mức cao hơn. Theo đó, “ký hiệu được hình thành từ cái biểu
đạt và cái được biểu đạt ban đầu lại kết hợp với nhau thành mô thức của cái biểu đạt
và cái được biểu đạt cao hơn tạo nên các ký hiệu mới” [38, tr.21]. Cái biểu đạt được
cảm nhận trực tiếp bằng các giác quan, cái được biểu đạt bị che lấp, ẩn sâu, khó
trong nó”. Khi đó, “văn bản là thông tin chí ít hai lần mã hóa, thông tin được
chuyển tải bằng một ngôn ngữ, là một hiện tượng đa ngữ…Văn bản không phải là
một cái bọc đựng một nghĩa thụ động, mà là tổ chức “truyền đạt”, “lưu giữ” và sáng
tạo thông tin” [66, tr.11].
Biểu tượng thuộc về văn hóa. Giá trị của biểu tượng không hề bất định mà có
sự dịch chuyển, bổ sung khi nó dịch chuyển từ nền văn hóa này sang nền văn hóa
khác, từ các thiết chế xã hội này sang thiết chế xã hội khác. Tuy nhiên, giá trị ban
đầu vẫn tồn tại cùng nhận thức của xã hội để khi tư duy xã hội vận động thì giá trị
ấy được bổ sung, thêm mới phù hợp. Nghiên cứu biểu tượng trên thế giới vì thế đi
vào chiều sâu tri nhận, đó là thế giới biểu tượng của huyền thoại, chiêm mộng,
phong tục, cử chỉ, dạng thể, các hình, màu sắc, con số… mà hai tác giả Jean
Chevalier và Alain Gheerbrant viết nên cuốn Từ điển biểu tượng văn hoá thế giới,
hay đó thế giới bí ẩn thuộc về tướng số, kinh dịch, phong thuỷ của xã hội phương
Đông, là thế giới linh thú, con vật trong Thánh kinh của Thiên chúa giáo - Cựu Ước
và Tân Ước “không chỉ là vật thể của hiện thực mà còn là biểu trưng của thế giới
tâm thần” được soi sáng dưới lý thuyết phân tâm học về cổ mẫu.
9
Nhìn chung, vấn đề nghiên cứu biểu tượng trên thế giới xoay quanh trục nguồn
gốc biểu tượng, quá trình hình thành biểu tượng hoặc biểu tượng như là một phương
tiện giao tiếp văn hoá, là đơn vị ngôn ngữ nghệ thuật… Vấn đề nghiên cứu biểu tượng
trên thế giới không đơn giản dừng lại ở những công trình mà chúng tôi đề cập. Vẫn còn
nhiều quan điểm về lý thuyết biểu tượng mà chúng tôi chưa thể cập nhật bởi nhiều lý
do chủ quan và khách quan. Song thiết nghĩ, những khái quát trên đây cũng nói lên
được trọng tâm của các khuynh hướng tiếp cận biểu tượng trên thế giới.
1.1.1.2. Tình hình nghiên cứu biểu tượng ở Việt Nam
Biểu tượng không còn là đối tượng nghiên cứu mới ở Việt Nam, nhưng những
nghiên cứu về biểu tượng ở nước ta trong suốt thời gian dài vừa qua vẫn còn bỏ ngỏ
Việc nghiên cứu biểu tượng trong văn học cũng là hướng nghiên cứu được
nhiều nhà nghiên cứu chú ý trong thời gian qua. Từ các bài báo nghiên cứu biểu
tượng trong thơ ca, tiểu thuyết như Biểu tượng thơ ca, (Bùi Công Hùng), Vấn đề
nghiên cứu biểu tượng thơ ca dân gian (Phạm Thu Yến), Quan hệ giữa tôn giáo và
thơ ca trong thế giới biểu tượng (Nguyễn Văn Hạnh), Một số biểu tượng mang tâm
thức Mẫu trong “Đội gạo lên chùa” của Nguyễn Xuân Khánh (Hoàng Thị Huế)…
đến các công trình, luận án chuyên sâu như: Biểu tượng nghệ thuật trong ca dao
truyền thống người Việt (Nguyễn Thị Ngọc Điệp), Thi pháp ca dao (Nguyễn Xuân
Kính), Từ kí hiệu đến biểu tượng (Trịnh Bá Đĩnh chủ biên), Tiếp cận văn học từ góc
nhìn văn hóa (Lê Nguyên Cẩn), Thơ Hoàng Cầm từ góc nhìn văn hóa (Lương Minh
Chung), Biểu tượng trong thơ kháng chiến Việt Nam (Trần Thị Hường)… đã khám phá
chiều sâu tác phẩm từ góc nhìn văn hoá, tư tưởng. Các tác giả đã khảo sát biểu tượng
rồi tiến hành giải mã các lớp trầm tích văn hoá, tư tưởng trên các biểu tượng trong tác
phẩm qua đó tìm thấy dấu ấn văn hoá trong tư duy nghệ thuật của mỗi nhà văn.
Biểu tượng rất khó tiếp cận vì tính phức tạp của nó. Ngay cả khi được trang bị
kiến thức về nó, chúng ta cũng không dễ dàng cảm thức đầy đủ giá trị mà nó biểu
đạt. Điều may mắn cho tôi khi thực hiện luận án này là tiếp cận được nhiều công
trình nghiên cứu về biểu tượng trên thế giới bằng tiếng Việt nhờ vào tâm huyết và
trí tuệ của các nhà nghiên cứu, dịch giả Việt Nam. Đấy là nguồn lí thuyết căn bản
để hiểu thế nào là biểu tượng, phân biệt được biểu tượng với các dạng thức tương
cận nó, cũng như xác lập các khuynh hướng tiếp cận biểu tượng. Nhìn chung,
nghiên cứu biểu tượng ở Việt Nam chưa hướng đến xây dựng hệ thống lí luận đặc
thù, chưa thành lập được khoa nghiên cứu biểu tượng độc lập như các chuyên ngành
khoa học khác. Tuy vậy, hoạt động nghiên cứu cũng đạt được kết quả đáng trân
11
trọng. Từ chỗ nghiên cứu biểu tượng như là thuộc tính cơ bản của văn hoá học, đến
nay, nghiên cứu biểu tượng ở Việt Nam diễn ra trên cả diện rộng và chiều sâu ở tất
rồi đem chuyện ấy lồng vào khung thời đại ấy. Mục đích là lấy chuyện không đâu mà
làm sống lại một thời đại” [90, tr.5]; “Triệu Luật phỏng theo lối ấy mà viết cuốn lịch sử
tiểu thuyết này. Phần chân sử ở trong tự cũng như có giá mà phần lông bông thêm thắt
may ra cũng có giá. Tưởng đó là lối viết lịch sử tiểu thuyết nên cho nhập cảng vào địa
hạt văn chương ta nên đem ra thử lần đầu” [90, tr.302] … Nhìn chung có rất nhiều phát
biểu về tiểu thuyết lịch sử song những phát biểu ấy chưa thể đạt chiều sâu lí luận cho
một thể tài văn học.
Đáng kể nhất trong các công trình nghiên cứu về tiểu thuyết lịch sử Việt Nam
trước 1986 là công trình nghiên cứu Tiểu thuyết Việt Nam hiện đại của Phan Cự Đệ.
Trong công trình nghiên cứu này, tác giả xác định tiểu thuyết lịch sử là một khuynh
hướng sáng tác. Đồng thời với việc điểm lượt những tác giả, tác phẩm tiêu biểu, nhà
nghiên cứu Phan Cự Đệ đã nêu ra những nhận địch thoả đáng về tiểu thuyết lịch sử
với các đặc điểm riêng của khuynh hướng sáng tác này trước 1930 và sau đó. Theo
ông, “Trong thời kỳ 1900 - 1930, tiểu thuyết lịch sử là một hình thái mới của văn
học yêu nước và cách mạng. Tiểu thuyết lịch sử viết về quá khứ của dân tộc nhưng
lại mang một ý nghĩa rất hiện đại… những tác phẩm này đồng thời lại là một loại
tiểu thuyết lịch sử có luận đề, luận đề về cách mạng Việt Nam” [26, tr.47]. Ưu điểm
của các tác giả tiểu thuyết lịch sử thời kỳ này là “họ đã phát huy vai trò của hư cấu
sáng tạo, không hoàn toàn nô lệ vào tài liệu lịch sử” nhưng nhược điểm là “họ chưa
có một thái độ nghiên cứu lịch sử thật nghiêm túc, đôi khi họ vi phạm tính chân
thực lịch sử nghiêm trọng” [26, tr.51]. Trên nguyên tắc sáng tác của Gôgôn,
L.Tônxtôi, Quách Mạt Nhược, ông không tán thành “cái bệnh hiện đại hoá lịch sử,
xem lịch sử chỉ là một cái đinh để tôi treo các bức hoạ của tôi” [26, tr.51].
Nhìn chung, trong bối cảnh Việt Nam tập trung nhân tài vật lực cho những
cuộc trường chinh vĩ đại, kháng chiến kiến quốc và hàn gắn vết thương chiến tranh
sau khi đất nước được thống nhất… đời sống văn học đã cuộn xoáy theo hiện thực
ấy. Các nhà văn, các nhà nghiên cứu, phê bình, dịch thuật không thể đứng ngoài
cuộc đời dân tộc mà sống cho riêng mình. Trên diện rộng và sâu, đời sống văn học
sử là để viết về con người, về những giá trị nhân văn trong đời sống… Cũng như
“Sông Đông êm đềm của Sôlôkhốp - miêu tả cái dữ dội của hiện thực từ một giai
đoạn lịch sử để cuối cùng cũng chỉ hướng tới khao khát nhân văn của nhân loại. Tác
giả Nguyễn Đăng Điệp cho rằng, “Tiểu thuyết Nguyễn Xuân Khánh là một diễn
ngôn về lịch sử và văn hóa… Diễn ngôn nghệ thuật của Nguyễn Xuân Khánh chính
14
là những suy tư của ông về lịch sử và văn hóa, trong đó, văn hóa là lõi cốt của lịch
sử, là chiều sâu quy định sự hằng tồn của quốc gia, dân tộc” [27, tr.8].
Vào năm 2019, Tạp chí Văn nghệ quân đội và Đại học Hồng Đức cũng tổ chức
hội thảo khoa học về nghiên cứu và giảng dạy tiểu thuyết lịch sử. Hội thảo đã thu
hút được nhiều nhà nghiên cứu quan tâm về thể loại có phần “nhạy cảm” này.
Bên cạnh những toạ đàm còn có những bài viết, phê bình sâu sắc của các nhà
nghiên cứu, những phát biểu, trao đổi giàu chất lí luận của Nguyễn Xuân Khánh,
Nguyễn Mộng Giác, Nam Dao… về thể tài văn học này. Trong bài viết “Cần đổi
mới suy nghĩ về lịch sử và tiểu thuyết lịch sử”, nhà nghiên cứu Trần Đình Sử kêu
gọi phải thay đổi nhận thức và đổi mới tư duy tự sự lịch sử, mạnh dạn thể nghiệm
lối viết hiện đại/hậu hiện đại. Nguyễn Văn Dân trong bài “Tiểu thuyết lịch sử Việt
Nam đương đại - phác họa một số xu hướng chủ yếu” đã căn cứ vào mục đích và
quan niệm nghệ thuật của nhà văn để phân chia thành ba khuynh hướng: Tiểu
thuyết lịch sử chương hồi khách quan; Tiểu thuyết lịch sử giáo huấn; Tiểu thuyết
lịch sử luận giải.
Bên cạnh những công trình trên, còn có nhiều luận văn, luận án nghiên cứu về
tiểu thuyết lịch sử giai đoạn trước và sau 1986. Có những luận án liên quan đến vấn
đề nghiên cứu của tôi như luận án Tiểu thuyết lịch sử Việt Nam từ những năm đầu
thế kỷ XX đến 1945 - Diện mạo và đặc điểm của Bùi Văn Lợi, chuyên luận Tiểu
thuyết lịch sử Việt Nam sau 1945 của Nguyễn Thị Tuyết Minh, luận án Tiểu thuyết
lịch sử Việt Nam sau 1986 dưới góc nhìn tự sự học của Nguyễn Văn Hùng…
điểm về nội dung và phương thức nghệ thuật ở mỗi giai đoạn. Ở giai đoạn đầu, nội
dung chủ yếu là yêu nước, nghệ thuật tự sự theo lối kết cấu chương hồi, kết cấu thời
gian, kết cấu nhân quả, ngôn từ nghệ thuật đậm chất biền ngẫu, nhiều điển tích, điển
cố. Ở giai đoạn tiếp theo, nội dung thế sự được nhà văn quan tâm khai thác nhiều
hơn và trở thành cảm hứng chủ đạo trong tiểu thuyết lịch sử. Nghệ thuật tự sự có
những đổi mới đáng kể qua kết cấu, điểm nhìn, giọng điệu và mang âm hưởng tiểu
thuyết phương Tây, gắn với tâm thức văn hóa, tâm thế sáng tạo ở thời kỳ hội nhập.
Luận án Tiểu thuyết lịch sử Việt Nam sau 1986 dưới góc nhìn tự sự học của
Nguyễn Văn Hùng có thể xem là một công trình lí luận về tiểu thuyết lịch sử Việt
Nam thời kỳ đổi mới. Trên nền tảng lí thuyết tự sự học, tác giả đã khảo sát, phân
tích và tìm ra những đặc trưng quan trọng về điểm nhìn trần thuật, kết cấu tự sự, diễn
ngôn tự sự của tiểu thuyết lịch sử Việt Nam thời kì này. Đặc biệt, tác giả tìm thấy tính
chất, dấu ấn hậu hiện đại trong tư duy nghệ thuật tiểu thuyết lịch sử thời kì mới.
16
Chúng ta có thể nhìn nhận tình hình nghiên cứu tiểu thuyết lịch sử Việt Nam
sau 1986 diễn ra sôi nổi hơn giai đoạn trước đó. Trọng tâm của các công trình
nghiên cứu vẫn xoay quanh mục đích của nhà văn khi chọn lịch sử làm đối tượng
nghệ thuật, vấn đề chính sử và dã sử, hư cấu nghệ thuật và bịa đặt lịch sử... những
vấn đề có tính chất lí luận về thể tài văn học này được nêu ra tranh biện và giải
quyết. Mặt khác, các nghiên cứu đã chú ý đến phương thức nghệ thuật tự sự, vấn đề
văn hoá thời đại lịch sử khi được phản ánh qua tác phẩm. Tuy nhiên, với thành tựu
vượt bậc của thể tài văn học này trong dòng chảy chung của văn học dân tộc thời kỳ
đương đại, những giới hạn nghiên cứu không hề đóng khép, mà cần sự khám phá
nhiều hơn. Đấy là cơ sở để chúng tôi tiếp tục kế thừa, phát huy và tìm tòi những
điểm mới mẻ về tiểu thuyết thuyết lịch sử đương đại Việt Nam.
1.2. Cơ sở lí thuyết và hướng tiếp cận của luận án
1.2.1. Vấn đề biểu tượng
đó” [17, tr.78]; Theo “Từ điển biểu tượng” của Liungman “những gì được gọi là
biểu tượng khi nó được một nhóm người đồng ý rằng nó có nhiều hơn một nghĩa là
đại diện cho chính bản thân nó” [38, tr.12]; Theo “Từ điển tiếng Việt” do giáo sư
Hoàng Phê chủ biên, biểu tượng có hai nghĩa: nghĩa thứ nhất là hình ảnh tượng
trưng, nghĩa thứ hai là hình thức của nhận thức, cao hơn cảm giác, cho ta hình ảnh
của sự vật còn giữ lại trong đầu óc khi tác động của sự vật vào giác quan đã chấm
dứt… Có thể thấy rằng, những định nghĩa về biểu tượng của các bộ từ điển có sự
tương đồng nhau khi xem biểu tượng là cái đại diện, biểu hiện cho cái gì đó, ngoài
nó và khác nó. Đó có thể là một vật, một hình ảnh, một hành vi, một nghi thức, nghi
lễ… có tính “ý niệm” được xã hội thừa nhận. Có thể coi biểu tượng gồm có hai
thành tố “Cái biểu đạt” và “Cái được biểu đạt”.
Các tác giả của công trình Từ kí hiệu đến biểu tượng đã khảo sát, phân tích
quan niệm của các nhà nhiên cứu về cái biểu đạt và cái được biểu đạt của biểu
tượng và đã chia thành ba nhóm quan niệm khác nhau. Với quan điểm cái được biểu
đạt vắng mặt và được hiểu trực tiếp từ cái biểu đạt, một số nhà nghiên cứu đã đồng
quy tất cả những cái gì thuộc các hình thức biểu hiện văn hóa tinh thần của loài
người như lễ hội, nghi thức, huyền thoại, tôn giáo, hình ảnh ẩn dụ nghệ thuật, khái
niệm và công thức khoa học, lịch sử, ngôn ngữ…đều là biểu tượng. Tiêu biểu cho
quan niệm này là E. Cassier và Ch. Pierce; Nhưng, nếu coi cái được biểu đạt phải
được hiểu gián tiếp, ngoài cái biểu đạt thì biểu tượng là một dạng ký hiệu đặc biệt,
nó gắn liền với nội dung tư tưởng nào đó, đến lượt nội dung đó lại dùng làm bình
18
diện cho một nội dung khác, thông thường là nội dung ở đây có giá trị văn hóa cao
hơn. “Nó làm trung hòa ý nghĩa thứ nhất, biến một ký hiệu chỉ có chức năng thông
tin thuần túy thành sự biểu đạt văn hóa” [31, tr.27]. Những đại diện tiêu biểu cho
quan niệm này có thể kể đến Iu. Lotman, Todorov và các nhà phân tâm học S.
Freund, Carl Jung…; Loại ý kiến thứ ba coi biểu tượng là một loại hiện tượng
tượng luôn bị khúc xạ, mơ hồ.
Ký hiệu: Ký hiệu được hiểu theo hai nghĩa: (1) - dấu hiệu vật chất đơn giản do
quan hệ tự nhiên hoặc do quy ước, được coi như thay cho một thực tế phức tạp hơn
(chữ viết, ký hiệu hóa học); (2) - cái có thể nhận biết trực tiếp, cho phép kết luận về
sự tồn tại hoặc về tính chân thực với một cái khác liên hệ với nó (chữ cái).
Theo các tác giả cuốn Từ điển thuật ngữ văn học thì “Ký hiệu tức là cái vật
chất có thể cảm biết được mà người phát sử dụng để kích thích đối phương tiếp
nhận nhằm truyền đạt một cách quy ước về một vật hoặc một tình huống vắng mặt
hoặc chưa xuất hiện… Phương diện có thể cảm biết ấy là cái biểu đạt, cái vắng mặt
đó là cái được biểu đạt” [117, tr.164]. Như vậy, ký hiệu là những hình ảnh vật thể
vật chất, hữu hình do sự tồn tại tự nhiên hoặc do con người sáng tạo ra dùng để
nhận biết một sự tồn tại, một liên hệ nào đó bên ngoài nó. Trong khi đó, biểu tượng
không chỉ là hình ảnh vật chất cụ thể mà còn có cả cái phi vật thể, cái được biểu đạt
không chỉ là cái hiển hiện mà còn có cả cái “ẩn nấu”, “hình dung”.
Dấu hiệu: Dấu hiệu là một từ rất thông dụng trong đời sống hằng ngày. Đó là
dấu để làm hiệu, báo hiệu một cái gì đó sắp sửa xảy ra. Vật làm “dấu” cũng đơn
giản là hình ảnh, cử chỉ, màu sắc …có tính ước lệ. Chẳng hạn quan niệm của người
Việt chim én - dấu hiệu mùa xuân, hoa cúc - dấu hiệu mùa thu, hoa mai - dấu hiệu
mùa xuân, người phụ nữ tóc búi trên đỉnh đầu - đã có chồng…
Tín hiệu: Tín hiệu là một từ có hàm nghĩa cố định, bất biến và không thay thế cho
vật nào. Trong mọi trường hợp tín hiệu không thuộc về lĩnh vực tư tưởng, chỉ thuộc về
thế giới của những đồ vật kỹ thuật thuần túy. Ví như: tín hiệu đèn giao thông.
Ẩn dụ: Là phương thức chuyển nghĩa của cái này cho cái kia. Mối quan hệ
giữa vật/ cái biểu đạt và cái được biểu đạt dựa trên cơ sở tương đồng nhau. Ẩn dụ
có tính linh hoạt, thiếu bền vững vì gắn liền với hoàn cảnh và mục đích sử dụng.
Chúng ta có thể thấy “thuyền” trong ca dao chỉ đối tượng người con trai trong quan
hệ tình yêu lứa đôi: “Thuyền về có nhớ bến chăng, Bến thì một dạ khăng khăng đợi
thuyền”. Nhưng khi Tố Hữu sử dụng trong trường ca Nước non ngàn dặm thì
“thuyền” ở đây là con thuyền cách mạng. Như vậy, nghĩa ẩn dụ là nghĩa định danh
diện: Nhân dân, Tổ quốc, Bà má Hậu Giang, Người con gái Việt Nam, Dáng đứng
Việt Nam, Mẹ Tơm, Mẹ Suốt…) do nhà văn tái hiện hoặc sáng tạo ra. Đặc điểm cơ
bản của hình tượng nghệ thuật là “vừa có giá trị thể hiện những nét cụ thể, cá biệt
21