Nghiên cứu thành phần hóa học thân cây cẩu tích (Cibotium Barometz), họ lông cu li ở Tuyên Quang - Pdf 24

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn
ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN
TRƢỜNG ĐẠI HỌC SƢ PHẠM TRẦN ĐỨC ĐẠI

NGHIÊN CỨU THÀNH PHẦN HOÁ HỌC
THÂN CÂY CẨU TÍCH (CIBOTIUM BAROMETZ),
HỌ LÔNG CU LI Ở TUYÊN QUANG
NGHIÊN CỨU THÀNH PHẦN HOÁ HỌC
THÂN CÂY CẨU TÍCH (CIBOTIUM BAROMETZ),
HỌ LÔNG CU LI Ở TUYÊN QUANG
Chuyên ngành: Hoá hữu cơ
Mã số : 60.44.01.14
LUẬN VĂN THẠC SỸ HOÁ HỌC
NGƢỜI HƢỚNG DẪN KHOA HỌC: PGS.TS. PHẠM VĂN THỈNH Thái Nguyên - 2013
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn LỜI CẢM ƠN

Bản luận văn này được hoàn thành tại phòng Hoạt chất Sinh học, Viện

liệu, kết quả nêu trong luận văn này là trung thực và chưa từng được ai công
bố trong bất kỳ công trình nào khác. Xác nhận
của Trƣởng khoa chuyên môn

Thái Nguyên, ngày 28 tháng 04 năm 2013
Tác giả luận văn

Trần Đức ĐạiSố hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn

i

MỤC LỤC
Trang
Trang bìa phụ
Lời cảm ơn

2.3. Thu nhận các dịch chiết từ cây cẩu tích 25
2.3.1. Thu nhận các dịch chiết 25
2.3.2. Khảo sát định tính các dịch chiết 27
2.3.2.1. Phát hiện các hợp chất sterol 27
2.3.2.2. Phát hiện các ancaloit 28
2.3.2.3. Phát hiện các flavonoit 28
2.3.2.4. Phát hiện các cumarin 28
2.3.2.5. Định tính các glucosit tim 29
2.3.2.6. Định tính các saponin 29
2.3.2.7. Định tính các tanin 29
2.4. Phân lập và tinh chế các chất 30
2.4.1. Cặn dịch chiết n-hexan của cây cẩu tích (CBH) 30
2.4.1.1. Các chất trong hỗn hợp CBH7 31
2.4.1.2. Hợp chất CBH20 ( β-sitosterol) 32
2.4.1.3. Hợp chất CBH28 32
2.4.1.4. Hợp chất CBH70 (β-sitosterol-3-O-β-D-glucopyranosit) 32
2.4.2. Cặn dịch chiết điclometan của cây cẩu tích (CBD) 33
2.4.2.1. Hợp chất CBD1 33
2.4.2.2. Hợp chất CBD21 34
Chƣơng 3. THẢO LUẬN KẾT QUẢ 35
3.1. Nguyên tắc chung 35
3.2. Phân lập và nhận dạng các hợp chất có trong các dịch chiết khác
nhau của cây cẩu tích 35
3.2.1. Chất rắn CBH7 36
3.2.2. Hợp chất CBH20 (β-sitosterol) 37
3.2.3. Chất CBH70 (β-Sitosterol-3-O-β-D-glucopyranosit) 39
3.2.4. Hợp chất CBH28 47
3.2.5. Hợp chất CBD1 (onitin) 49
3.2.6. Hợp chất CBD21 67
KẾT LUẬN 71

DEPT : Distortionless Enhancement by Polarisation Transfer
COSY : Correlated Spectroscopy
HMQC : Heteronuclear Multiple - Quantum Coherence
HMBC : Heteronuclear multiple - Bond Correlation
 Các lĩnh vực khác
MIC : Minimum inhibitory concentration Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn

iii

DANH MỤC CÁC BẢNG
Trang
Bảng 2.1. Các hệ dung môi triển khai SKLM 24
Bảng 2.2. Khối lượng các cặn chiết thu được từ cây cẩu tích 25
Bảng 2.3. Kết quả định tính các nhóm chất trong cây cẩu tích 30
Bảng 2.4. Số liệu phổ
1
H-NMR, phổ
13
C-NMR 33
Bảng 3.1- Kết quả phân tích thành phần axit béo trong CBH7 36
Bảng 3.2. Số liệu phổ
13
C-NMR (CDCl
3
, 125Mhz) của β-sitosterol và β-
sitosterol-3-O-β-D-glucopyranosit. 41
Bảng 3.3. Số liệu phổ NMR của chất CBD1 50

C – NMR của CBD1 55
Hình 3.10. Phổ
13
C – NMR của CBD1 57
Hình 3.11. Phổ
13
C-DEPT của CBD1 58
Hình 3.12. Phổ
13
C-DEPT của CBD1 60
Hình 3.13. Phổ HMBC của CBD1 62
Hình 3.14. Phổ HMBC của CBD1 63
Hình 3.15. Phổ HMBC của CBD1 65
Hình 3.16. Phổ HSQC của CBD1 66
Hình 3.17. Phổ
1
H–NMR của CBD21 68
Hình 3.18. Phổ
1
H–NMR của CBD21 70

DANH MỤC SƠ ĐỒ
Trang
Sơ đồ 2.1. Ngâm chiết mẫu cây Cẩu tích 35 Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn

1
MỞ ĐẦU

2
được nhiều người sử dụng, đã góp phần nâng cao thể trạng, phát triển giống
nòi người Việt Nam. Hơn thế nữa, nhiều phương pháp chữa bệnh không dùng
thuốc như châm cứu, bấm huyệt, khí công, dưỡng sinh
Trong nhiều năm qua, Việt Nam đã từng bước lồng ghép Y dược cổ
truyền vào hệ thống Y tế quốc gia, phát huy được vai trò to lớn của Y dược cổ
truyền. Đường lối phát triển Y dược học cổ truyền Việt Nam đã được khẳng
định nhất quán là: Kế thừa, phát huy, phát triển y dược học cổ truyền, kết hợp
với y học hiện đại, xây dựng nền y dược học cổ truyền Việt Nam khoa học dân
tộc và đại chúng. Hiện đại hóa y dược cổ truyền và kết hợp y dược cổ truyền
với y dược hiện đại đang là mục tiêu và yêu cầu phát triển của thời đại. Thực
hiện tốt công việc này sẽ góp phần đưa sự nghiệp chăm sóc sức khỏe nhân dân
lên tầm cao mới. Việc phát hiện các vị thuốc mới và các chất mới trong vị
thuốc cho nhu cầu trị, chữa bệnh nhằm hiện đại hóa y học cổ truyền và kết hợp
y học cổ truyền với y học hiện đại là vấn đề mang tính chiến lược hiện nay.
Cây cẩu tích là một cây thuốc quý có trong kho tàng cây thuốc, vị thuốc
Việt Nam trị, chữa bệnh thông thường và trị nhiều chứng bệnh nan y có hiệu
quả cao. Trên thế giới hiện có ít công trình nghiên cứu về cây cẩu tích, còn ở
nước ta chưa có tổ chức cá nhân nào công bố công trình nghiên cứu thành phần
hóa học cây cẩu tích. Bởi vậy việc tìm ra thành phần hóa học và công dụng của
cây cẩu tích có ý nghĩa thực tiễn rất quan trọng. Với những lý do trên tôi chọn
đối tượng đề tài Nghiên cứu về thành phần hóa học của thân cây cẩu tích
(Cibotium Barometz) ở Huyện Yên Sơn –Tuyên Quang.

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn

3
Chƣơng 1
TỔNG QUAN


của các lá chét bậc hai có lông len. Ở túi bào tử 1 hay 2, có khi 3 hay 4 ở về
mỗi bên của gân giữa bậc 3; các túi màu nâu, có 2 môi không đều nhau; cái ở
ngoài hình cầu, cái ở trong hẹp hơn, thuôn.
Thu hái và chế biến của các nhà thuốc Đông Y: Cây cẩu tích có thể thu
hái thân rễ quanh năm, tốt nhất vào mùa Thu – Đông. Khi thu hái về, trước tiên
cắt bỏ rễ con và cuống lá, cạo hết lông vàng để riêng. Rễ củ (thân) đã cạo hết
lông, rửa sạch, thái phiến hay cắt từng đoạn dài 4-10mm, phơi hay sấy khô,
bảo quản nơi khô ráo. Khi dùng tẩm dược liệu với rượu để một đêm rồi sao
vàng. [4][6]
1.2. Công dụng cây cẩu tích
1.2.1. Những nghiên cứu ứng dụng cây cẩu tích trên thế giới

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn

5
Theo Y học truyền thống Trung Quốc dùng cây cẩu tích có tác dụng bổ
gan và thận, tăng cường xương và gân, đau dây thần kinh tọa, phong hàn. Do
đó, nó thường được sử dụng như là thành phần chính với các thuốc thảo dược
Trung Quốc ngâm rượu để uống bồi bổ cơ thể và điều trị bệnh như mỏi lưng,
thấp khớp. Trong các ứng dụng lâm sàng hiện đại ở Trung Quốc, cây cẩu tích
được sử dụng để điều trị đau thắt lưng, chân tê liệt, liệt nửa người, xuất tinh
sớm, xuất huyết ở phụ nữ và các loại khối u như u xương, u xương ác tính, u
não, u đa tủy, chống viêm gan virus. [29]
Năm 2011, Xiong Zhao và đồng nghiệp đã tiến hành nghiên cứu khả
năng chống loãng xương của dịch chiết cây cẩu tích trên chuột, kết quả cho
thấy uống hàng ngày dịch chiết xuất từ cây cẩu tích đã góp phần đáng kể để
phòng ngừa hoặc điều trị của sự phát triển mất xương gây ra bởi sự cắt bỏ
buồng trứng ở chuột. Dịch chiết xuất từ cây cẩu tích có thể ngăn chặn sự mất
mát khối lượng xương và sự suy giảm của vi kiến trúc trabecular OVX gây ra,
do đó duy trì sự toàn vẹn về cấu trúc và chất lượng cơ sinh học của xương.

hợp Perosin là một nhóm lớn thuộc Secquitecpen có trong cây cẩu tích và nhận thấy
chúng có các hoạt tính chống tiểu đường Type 1, Type 2, chống béo phì. [17]
Năm 2009, Qi Wu, Xiu –Wei Yang nghiên cứu thành phần cấu tạo cây
cẩu tích và thử lâm sàng trên người và kết luận onitin có độc tính thấp, an toàn
khi uống, dễ được hấp thu qua đường tiêu hóa, có hoạt tính chống co thắt như
papaverine, nhưng cơ chế hoạt động khác với papaverine. Onitin là một thuốc
thử leishmanicidal mạnh. [25]
Năm 2009, Nguyễn Xuân Cường và cộng sự đã nghiên cứu “Chất ức
chế hình thành tế bào hủy xương từ thân rễ của Cibotium Barometz” kết
quả có hai chất sau:

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn

7
HO
HO
HO
O
O
HO
OH
O
O
1'
1''
2
5
3
3''
4''

(1), (2) có tiềm năng lớn trong việc bào chế thuốc chống loãng xương ở người.
1.2.2. Một số bài thuốc của cây cẩu tích đang được dùng ở Việt Nam
Theo y học cổ truyền Việt Nam cây cẩu tích có vị đắng ngọt, tính ấm, có
tác dụng bổ can thận, mạnh gân cốt, trừ phong thấp, chống viêm. Lông vàng
tác dụng cầm máu dùng dịt vào vết thương. Dùng chữa phong hàn, tê thấp, đau
lưng nhức mỏi, chứng tiểu tiện són không cầm, di tinh, bạch đới, đau dây thần
kinh tọa. Liều dùng: 12g - 20g, dùng với các vị thuốc khác. [6]
Bài thuốc chữa phong thấp, tê bì chân tay không muốn cử động:
Cẩu tích 20g, Ngưu tất 8g, Mộc qua 12g, Tang chi 8g, Tùng tiết 4g, Tục
đoạn 8g, Đỗ trọng 8g, Tầm giao 12g, Quế chi 4g, đun với 600ml nước chia hai
lần uống trong một ngày. [2]

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn

8
Rượu bổ thận tráng dương: Cẩu tích 18g, đỗ trọng 15g, tục đoạn 15g, uy
linh tiên 15g, ngưu tất 15g, ngũ gia bì 15g, rượu 30 độ 1000ml. Ngâm 7 ngày,
ép chiết lấy nước. Mỗi lần uống 20ml, ngày 2 lần: sáng, chiều. Dùng cho các
bệnh chứng phong thấp, đau mỏi lưng gối.
Cẩu tích còn có tác dụng bổ thận, trừ thấp. Trường hợp gan và thận
suy nhược, lưng đau buốt, đái vặt không nín được, phụ nữ đới hạ. Cẩu tích
16g, ngưu tất 12g, thỏ ty tử 12g, sơn thù du 12g, đỗ trọng 12g, thục địa 16g,
cao ban long 12g. Cao ban long để riêng; sắc các vị khác lấy nước, hoà cao
ban long vào để uống.
Chữa phong thấp, chân tay tê bại không muốn cử động: Cẩu tích 20g,
tùng tiết 4g, đỗ trọng 8g, mộc qua 12g, tục đoạn 8g, tần giao 12g, tang chi 8g,
ngưu tất 8g, quế chi 4g. Sắc 2 - 3 lần và cô đặc lấy 200 - 250ml, chia uống 2
lần trong ngày.
Chữa thận hư, đau lưng, đi tiểu nhiều lần, bạch đới, di tinh: Cẩu tích
15g, thục địa 12g, đỗ trọng 10g, dây tơ hồng 8g, kim anh tử 8g. Sắc uống

đã công bố cho hấy các lớp chất chủ yếu có trong cây cẩu tích gồm các axit
béo, các hợp chất phenolnic tan trong nước, steroit, secquitecpen và các
glycozit và các nhóm chất khác.
1.3.1 Các axit béo được các nhà khoa học tìm thấy trong cây cẩu tích
Người ta đã tìm thấy nhiều axít béo có trong thành phần hóa học của cây cẩu
tích, phổ biến hơn cả là axit palmitic, axit oleic, axit linoleic, axit stearic, este của axit
palmitic, este của axit stearic …
Axit palmitic C
16
H
32
O
2
(hay CH
3
(CH
2
)
14
COOH); điểm nóng chảy
62,9
0
C. [8][34]

1. Hexadecanoic
Axít oleic là một axít béo có một nối đôi (hay axit béo omega-9); Công thức:
C
18
H
34

CH
3
OH

5. Axit béo omega-9
Este metylpalmitat có công thức phân tử CH
3
(CH
2
)
14
COOCH
3
. [8][34]
O
CH
3
CH
3
O

6. Este metylpalmitat
Este etylstearat có công thức phân tử C
17
H
35
COOC
2
H
5

6
O
4
từ cây cẩu tích có công thức cấu tạo. [23]

9. Axit 3,4-Dihydroxybenzoic
Năm 2003 Cheng Qi-hou và cộng sự đã phân lập được axit caffeic từ cây cẩu
tích công thức phân tử C
9
H
8
O
4
, khối lượng riêng 1,478 g/cm
3
; điểm chảy 223–225°C,
công thức cấu tạo: [8]

10. Axit 3,4-Dihydroxycinnamic

Năm 2007 Yang Hui-Jie và cộng sự đã phân lập được từ thực vật Cibotium
Barometz hợp chất (3R)-des-O-methyllasiodiplodin. [37]

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn

12
O
OH
OH
O

HO
OH
O
O
O
1'
1''
2
5
3
3''
4''
6''
7'''
1'''
2'''
4'''
6'''

13. 3-[(6-O-protocatechuoyl-β-D-glucopyranosyloxy)Metyl]-2(5H)-furanone

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn

13
HO
HO
HO
O
O
HO

- Andehit protocatechuic công thức phân tử là C
7
H
6
O
3
, công thức
cấu tạo là:
CHO
HO
HO

15. 3,4-dihydroxybenzaldehyde

Vanilin công thức phân tử là C
8
H
8
O
3
, nhiệt độ nóng chảy là 81-83°C,
nhiệt độ sôi 285°C, khối lượng riêng 10g/dm
3
, công thức cấu tạo là:

16. 4- Hydroxy-3-methoxybenzaldehyde
Năm 2012 Wenqiong Mai và các đồng nghiệp đã phân lập được 2 chất
sau: Kaempferol, Công thức phân tử C
15
H


18. Onychin

1.3.3. Các hợp chất sesquitecpen
Năm 2009, Qi Wu và các cộng sự đã phân lập được các hợp chất sau: [25]

Me
OH
Me
O
Me
Me
HO

19. 2,3-Dihydro-4-hydroxy-6-(2-hydroxyethyl)-2,2,5,7-tetramethyl-1H-inden-1-one
Me
OH
Me
O
Me
Me
O
O
OH
HO
HO
HO

20. 2,3-Dihydro-4-hydroxy-6-(2-glucosylethyl)-2,2,5,7-tetramethyl-1H-inden-1-one


8
từ cây dương xỉ, công thức cấu tạo: [12][22]
O
H
O
CH
3
O
OH
OH
OH
HO
H
3
C
CH
3
HO

22. Ptaquiloside
Ptaquiloside là độc tố chính của dương xỉ, ptaquiloside có thể gây ung
thư đã được chứng minh vào năm 1984, và ptaquiloside gây ra các hiệu ứng
sinh học đặc trưng của dương xỉ, chẳng hạn như cấp tính ngộ độc dương xỉ:
mù sáng ở cừu, đột biến, ảnh hưởng clastogenic và genotoxicity. [12][22]
Năm 2010, Yang Hui-jie cùng các cộng sự đã phân lập được một số hợp
chất từ cây cẩu tích có công thức cấu tạo: [37]
O
OH
HOOC


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status