TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ TP HCM
PHÒNG QUẢN LÝ ĐÀO TẠO SAU ĐẠI HỌC
TIỂU LUẬN TRIẾT HỌC
ĐỀ TÀI NHÓM 3
TƯ TƯỞNG ĐẠO GIA
VÀ NHỮNG GIÁ TRỊ, HẠN CHẾ CỦA NÓ SVTH: Nguyễn Duy Đông
STT: 29 – Lớp CHKT Đêm 5 - Khóa 21
GVHD: TS. Bùi Văn Mưa
TP HCM 2012
MỤC LỤC
LỜI MỞ ĐẦU Trang 1
PHẦN NỘI DUNG 2
Chương 1: NHỮNG TƯ TƯỞNG TRIẾT` HỌC CỦA TRƯỜNG
PHÁI ĐẠO GIA 21. Sơ lược sự hình thành và phát triển Đạo gia 2
2. Một số tư tưởng triết học cơ bản của Đạo gia 2
2.1Tư tưởng triết học trong Đạo đức kinh của Lão Tử 2
2.1.1Lý luận về đạo và đức 2
2.1.2Quan niệm niệm biện chứng về thế giới của Lão Tử 4
2.1.3Quan niệm nhân sinh và chính trị xã hội 6
Thuyết vô vi 6
Về đường lối trị nước an dân 8
2.2Trang Tử và sự phát triển của Đạo gia 9
Quốc, Nhật Bản. Nghiên cứu tư tưởng của Đạo gia để có thể hiểu hơn về cái “vô
vi”, “thuận theo đạo trời”, tìm sự thanh thản trong tâm hồn, và hiểu hơn tại sao
Trang 3
Nguyễn Duy Đông-CHKT.K21.D5
Tư tưởng Đạo gia, những giá trị và hạn chế GVHD:TS Bùi Văn Mưa
Đạo giáo lại có sức ảnh hưởng lâu dài, to lớn, sâu rộng đến như vậy. Đồng thời
cũng hiểu được những giá trị to lớn của hệ thống tư tưởng này, cũng như những
hạn chế còn vướng mắc.
PHẦN NỘI DUNG
Chương 1: NHỮNG TƯ TƯỞNG TRIẾT HỌC CỦA
TRƯỜNG PHÁI ĐẠO GIA
1. Sơ lược sự hình thành và phát triển Đạo gia
Người ta không biết rõ Đạo giáo khởi phát lúc nào, chỉ thấy được là
tôn giáo này hình thành qua một quá trình dài, thâu nhập nhiều trào lưu
thượng cổ khác. Đạo giáo thâu nhiếp nhiều tư tưởng đã phổ biến từ thời
nhà Chu (周朝, 1040-256 trước CN). Thuộc về những tư tưởng này là vũ
trụ luận về thiên địa, ngũ hành ( 五行 ), thuyết về năng lượng, chân khí
(氣), thuyết âm dương (陰陽) và Kinh Dịch (易經).
Đạo của Đức Lão Tử là một khái niệm trừu tượng chỉ cái tự nhiên,
cái có sẵn một cách tự nhiên: “Người ta bắt chước Đất, Đất bắt chước
Trời, Trời bắt chước Đạo, Đạo bắt chước Tự Nhiên”. Nó là nguồn gốc của
vạn vật. Đức là biểu hiện cụ thể của Đạo trong từng sự vật. Đạo sinh ra
vạn vật, nhưng làm cho vật nào hình thành ra vật ấy và tồn tại được trong
vũ trụ là do Đức. Nếu Đạo là cái Tĩnh vô hình thì Đức là cái Động hữu
hình của Đạo. Nếu Đạo là bản chất của vũ trụ thì Đức là sự cấu tạo và tồn
tại của vũ trụ.
2. Một số tư tưởng triết học cơ bản của Đạo gia
2.1Tư tưởng triết học trong Đạo đức kinh của Lão Tử
2.1.1 Lý luận về đạo và đức
Lão Tử là nhà triết học lớn với học thuyết về “đạo” nổi tiếng ở Trung
Đức là năng lực của Đạo, là công dụng của Đạo. Đức là biểu hiện cụ
thể của Đạo trong từng sự vật. Nếu Đạo là cái vô hình tĩnh tại thì Đức là
Trang 5
Nguyễn Duy Đông-CHKT.K21.D5
Tư tưởng Đạo gia, những giá trị và hạn chế GVHD:TS Bùi Văn Mưa
cái động hữu hình của Đạo. Đạo là bản chất của vũ trụ, Đức là sự cấu tạo
và tồn tại của vũ trụ. Đây chính là nguyên lý Âm - Dương bất biến của vũ
trụ với tính chất quân bình hằng hữu : “Vạn vật phụ âm nhi bảo dương,
xung khí dĩ vi hòa” có nghĩa “muôn vật đều cõng âm mà bồng dương,
nhân chỗ xung nhau mà hòa với nhau” Do đó, mọi sự trong trời đất mà bất
cập hay thái quá đều trái lẽ tự nhiên và sẽ tự điều chỉnh theo nguyên tắc
phản phục tức theo luật âm sinh dương, dương sinh âm “Vật hễ bớt thì nó
thêm, thêm thì nó bớt “ (Đạo Đức kinh Chương 42).
Sống một đời sống đạo đức chân thực là sống phối hợp với đạo, với
trời; lấy sự trau dồi bồi dưỡng tâm linh làm trọng; lấy sự thuận theo thiên
lý làm hay, mà không câu nệ đến những khuôn sáo giả tạo bên ngoài do xã
hội vẽ vời ra. Sống một đời sống giả tạo là nệ vào những hình thức bên
ngoài, lo những công chuyện lặt vặt bên ngoài; làm việc để cầu danh tranh
lợi, cố bám víu vào những khuôn sáo bên ngoài, cho thế là hay, là phải.
Cho nên bậc thượng nhân sống một cuộc đời vô vi, vô cầu, “được cả
thế gian mà lòng không dự” (hữu thiên hạ dã nhi bất dự). Còn những
người cấp dưới, làm gì cũng phải cố gắng; gượng gạo không tự nhiên; có
những mục đích vị kỷ cầu danh, tranh lợi.
Lão tử cũng cho rằng theo trào lưu lịch sử, nhân loại đã sa đọa dần
dần, đời sống đạo đức ngày càng trở nên phù phiếm. Do vậy, Lão tử chủ
trương hướng đến sự thay đổi của xã hội mà căn bản là sự thay đổi từ lòng
người, Lão Tử muốn thấy Đạo được thịnh hành trong thiên hạ.
Như vậy, quan niệm về đạo của trường phái Đạo gia đã thể hiện một
trình độ khái quát cao của tư duy về những vấn đề bản nguyên thế giới
được xem xét trong tính chỉnh thể thống nhất của nó.
đỉnh thì tất sẽ trở thành cái đối lập với nó; sự vật khi phát triển đến cực
điểm các tính chất của nó thì những tính chất ấy sẽ đi ngược lại để trở
thành tính chất tương phản. Lão Tử gọi đó là quy luật "phản phục", quy
luật này có hai nghĩa :
Trang 7
Nguyễn Duy Đông-CHKT.K21.D5
Tư tưởng Đạo gia, những giá trị và hạn chế GVHD:TS Bùi Văn Mưa
Nghĩa thứ nhất, phản phục là sự vận động, biến hóa có tính chất
tuần hoàn, đều đặn, nhịp nhàng và tự nhiên của vạn vật. Như hết ngày rồi
lại đến đêm, trăng tròn rồi lại khuyết, trăng khuyết rồi lại tròn. Đó là quy
luật bất di bất dịch của tự nhiên.
Thứ hai, phản phục còn có ý nghĩa trở về với đạo tự nhiên, vô vi.
Trở về với đạo tự nhiên, vô vi là trở về với gốc rễ, cội nguồn của mình,
bền bỉ, trường tồn. Sự trở về với “đạo” của vạn vật, ở trạng thái nguyên
sơ, tĩnh lặng, trống rỗng và tự nhiên được coi là tất yếu, bởi theo Lão Tử:
“Nặng là gốc của nhẹ, tĩnh là chủ của động – Trọng vi khinh căn, tĩnh vi
táo quân” (Đạo đức kinh, Chương 26), cái trống không là cơ sở để sinh ra
cái có. Chỉ có trở về với “đạo” thì vạn vật mới tồn tại, phát triển điều hòa,
hanh thông. Cho nên Lão Tử nói: “đạo pháp tự nhiên” là vì vậy. Từ đó,
Lão Tử cho rằng tất cả những chủ trương cố tình can thiệp vào cái trật tự
tự nhiên thì nhất định sẽ bị thất bại: “nếu trời không trong sẽ vỡ. Đất
không yên sẽ lở. Hang không đầy sẽ cạn. Vạn vật không sống sẽ dứt”
(Đạo đức kinh, Chương 39).
Như vậy, trong tư tưởng về phép biện chứng, có thể nói về căn bản,
Lão Tử đã vạch ra được quy luật, con đường vận động, biến đổi của vạn
vật trong thế giới khách quan. Theo ông, nguồn gốc của sự vận động, biến
đổi ấy của vũ trụ, vạn vật là sự liên hệ, tác động, chuyển hóa giữa các mặt
đối lập trong chính các sự vật.
2.1.3 Quan niệm nhân sinh và chính trị xã hội
Mở rộng tư tưởng về “đạo” đến mặt đời sống xã hội, Lão Tử đã đề
bởi bất cứ ý tưởng, dục vọng, đam mê, ham muốn nào. Nếu trong đời sống
người ta cố chạy theo những nhu cầu, ham muốn trái với khả năng, bản
tính tự nhiên của mình thì sẽ đánh mất chính bản thân mình.
Ba là "Vô vi" còn có nghĩa là luôn bảo vệ, giữ kín bản tính tự nhiên
của vạn vật mà trước hết là chống lại mọi hành động của con người xã
hội. Lão Tử nói "Thiên hạ nhiều kị huý thì dân càng nghèo, dân nhiều khí
giới thì nước càng loạn. Người nhiều tài khéo, vật xảo càng thêm. Pháp
Trang 9
Nguyễn Duy Đông-CHKT.K21.D5
Tư tưởng Đạo gia, những giá trị và hạn chế GVHD:TS Bùi Văn Mưa
lệnh càng tăng, trộm cắp càng nhiều". Theo đạo vô vi người ta "có ba của
báu hòng nắm giữ và bảo vệ : một là tự ái, hai là tiết kiệm và ba là không
dám đứng trước thiên hạ".
Tiếp theo chúng ta xem xét về đường lối trị nước an dân của Lão
Tử. Từ học thuyết vô vi, Lão Tử đề cập tới những vấn đề chính trị, xã hội.
Trong đời sống xã hội và phép trị nước, trước hết Lão Tử chủ trương phải
bỏ hết những gì trái với đạo tự nhiên vô vi, vượt quá bản tính, khả năng,
nhu cầu tự nhiên cần thiết của con người. Ông nói : "Thánh nhân bỏ
nhiều, bỏ thừa, bỏ quá". Và, "theo đạo thì càng bớt, bớt rồi lại bớt đến vô
vi". Khi đã đạt tới mức "vô vi thì không gì không tri. Thường dùng vô vi
mà được thiên hạ; hữu sự không đủ lấy thiên hạ".
Chủ trương của Lão tử là muốn cho dân trở lại đời sống thời thái
cổ, vì thời buổi ấy dân chúng sống thuần phác hồn nhiên, thuận thiên lý,
chưa có chút gì là nhân vi ngụy tạo. Người thời buổi văn minh ngày nay
thường ước mơ trạng thái ấy. Họ muốn trút bỏ trách nhiệm và muốn thoát
nợ suy tư. Lão tử ước mơ cho dân con sống lại những ngày hoàng kim ấy.
Ông mong muốn một đất nước nhỏ bé, ít dân, không có nhà nước, không
có quân đội, sống một đời sống thuần phác, tiêu dao. Sống chung với thiên
nhiên, con người tuy ở gần nhau nhưng không cần thiết phải gắp nhau.
Như vậy mới trọn vẹn với thiên tính, mới hòa mình vào trong cái đạo của
luận và vũ trụ quan, nó là nền tảng và quyết định đường lối triết học của
ông. Tư tưởng “đạo” của Trang Tử có sự kế thừa các tư tưởng truyền
thống ở Trung Quốc, như “thái cực” trong Kinh Dịch, “đạo” trong Lão
Tử, đồng thời cũng có những bước phát triển mới. Có thể diễn đạt tư
tưởng đó của ông bằng những nội dung sau:
Nội dung thứ nhất về “đạo” của Trang Tử là cái vô danh. Ông cho rằng
“đạo” là cái không thể diễn đạt bằng lời, không thể gọi nó bằng một cái
nào đó, mà nếu có đặt tên cho nó thì chẳng qua là ước lệ, là ý muốn chủ
quan của con người mà thôi. Nếu đã ghép “đạo” vào một tên gọi, định cho
nó một tính chất, một nội dung nào đó chính là xuyên tạc, bóp méo nó đi
Trang 11
Nguyễn Duy Đông-CHKT.K21.D5
Tư tưởng Đạo gia, những giá trị và hạn chế GVHD:TS Bùi Văn Mưa
mà thôi. Đó không phải là “đạo” theo lẽ tự nhiên, vô thủy vô chung của
nó.
Về nguyên nhân của “đạo” và năng lực của nó, Trang Tử viết: “Đạo tự
bản tự căn, vốn tồn tại như xưa, khi chưa có trời đất, làm thiêng liêng quỷ
thần. Thượng đế sinh ra trời đất, ở trước thái cực mà chẳng là cao, ở dưới
lục cực mà chẳng là sâu. Sinh trước trời đất mà chẳng là lâu, dài hơn
thượng cổ mà chẳng là già” (Nam Hoa kinh, Đại tông sư). Quan điểm duy
vật đã thể hiện rõ khi ông cho “đạo” là cái tự nhiên như thế, nó không do
ai sinh ra mà tự bản tự căn. Nó là bản thể đầu tiên của vũ trụ và vạn vật,
nên nó “sinh ra trời đất”.
Nội dung thứ hai về “đạo” của Trang Tử là vô thường. Đây là nội dung
cốt lỗi của “đạo” ở Trang Tử. “Đạo” vô thường chính là cuộc biến hóa của
vũ trụ, là cuộc đại chuyển tiếp giữa vũ trụ và vạn vật, là trạng thái động,
biến đổi không ngừng của “đạo”. Trạng thái vận động không ngừng đó
được ví như con rồng luôn uốn lượn, thay đổi. Trang Tử viết: “Thoắt lặng
không hình, biến hóa không thường, chết chăng sống chăng? Trời đất
cùng chăng, thân mình đi chăng? Mơ màng đi đâu? Muôn vật la liệt,
không hành động thái quá. Học giả Phùng Hữu Lan trong Đại cương triết
học sử Trung Quốc viết: “Học thuyết tương đối của Trang Tử mang màu
sắc quân bình trong mọi vấn đề. Tất cả mọi sự phân biệt rõ ràng, mọi hành
vi có mục đích rõ ràng đều hỏng cả vì nó thái quá, trái với học thuyết vô
vi của ông”.
Ở Trang Tử “vô vi” còn có một ý nghĩa nữa là phá bỏ tất cả những gì
trở ngại cho việc phát triển tự nhiên của vạn vật. Trang Tử cho rằng tất cả
những chế độ chính trị, pháp luật, đạo đức luân lý đều là những cái có
hại cho sự phát triển tự do theo bản tính tự nhiên của người và vật, cần
phải loại bỏ: “Cái đạo trị thiên hạ, không khác nào việc chăng ngựa, chỉ
trừ khử những cái có hại cho ngựa mà thôi” (Nam Hoa kinh, Từ vô quỷ).
Xuất phát từ học thuyết “vô vi”, Trang Tử đã trình bày những vấn đề
chính trị - xã hội của mình. Ông đòi hỏi phải tôn trọng chỗ khác nhau mọi
vật của mọi vật, thuận theo bản tính tự nhiên của chúng, mọi vật tự do
Trang 13
Nguyễn Duy Đông-CHKT.K21.D5
Tư tưởng Đạo gia, những giá trị và hạn chế GVHD:TS Bùi Văn Mưa
sống theo khả năng, sở thích của mình thì thiên hạ sẽ yên bình: “Người ta
phải làm sao cho tâm thích cái điềm đạm, khí hợp với cái điềm tĩnh, vật ở
chỗ tự nhiên của nó mà không theo tự dục của mình, thì thiên hạ mới trị”
(Nam Hoa kinh, Ứng đế vương).
Vậy theo Trang Tử, để trị thiên hạ thì không cần phải làm gì cả, tự
nhiên mà hóa. Mẫu mực xã hội ở ông là một xã hội không thể chế, không
pháp luật, không luân lý, không đạo đức Đó là một xã hội thời tiền sử.
Chương 2: NHỮNG GIÁ TRỊ VÀ HẠN CHẾ CỦA TRƯỜNG
PHÁI ĐẠO GIA
1. Những giá trị của tư tưởng triết học trường phái Đạo gia
Như vậy, trong tư tưởng về phép biện chứng, có thể nói về căn bản, Lão Tử
đã vạch ra được quy luật, con đường vận động, biến đổi của vạn vật trong thế
giới khách quan. Theo ông, nguồn gốc của sự vận động, biến đổi ấy của vũ trụ,
hóa (phản phục) hay cắt bỏ một trong hai mặt đối lập để làm cho mặt kia tự mất
đi (quân bình). Hành động hay nhất là không can thiệp đến việc đời, nhưng nếu
phải làm thì hãy làm cái không làm một cách kín đáo (vô vi). Thánh nhân trị vì
thiên hạ bằng vô vi xóa mọi ràng buộc về đạo đức, pháp luật; trả lại cho con
người cái bản tính tự nhiên của nó.
Còn đối với đóng góp của Trang Tử, đã có công mài dũa “Đạo” của Lão Tử,
tư tưởng nhân sinh căn bản trong Nam hoa kinh của ông là vô vi - mẫu mực sống
của các bậc thánh nhân - đứng ở chỗ khôn lường mà chơi ở miền không có. Vô vi
hành động theo lẽ tự nhiên nhi nhiên, vô tư, hồn nhiên như trẻ thơ "giữ tâm điềm
đạm, khí điềm tĩnh, thuận theo tự nhiên mà không theo ý riêng của mình" (Ứng
đế vương). Cũng giống như Vô vi của Lão Tử là "vô vi nhi vô bất vi" nhưng mới
hơn ở Trang Tử là không thái quá và biết phá bỏ những gì cản trở cho sự phát
triển tự nhiên của vạn vật, làm cho mọi vật đều được tự do, bình đẳng sống theo
đúng bản tính, sở thích tự nhiên của nó.
Tóm lại, triết học của Lão Tử và Trang Tử đã đóng góp rất nhiều vào sự phát
triển của triết học phương đông bằng chứng là sự ảnh hưởng to lớn, rộng rãi kéo
dài cả ngàn năm cho đến tận bây giờ của Đạo giáo đến đời sống văn hóa tinh
Trang 15
Nguyễn Duy Đông-CHKT.K21.D5
Tư tưởng Đạo gia, những giá trị và hạn chế GVHD:TS Bùi Văn Mưa
thần của người dân Trung Hoa nói riêng, và cả các nước láng giềng lân cận, thậm
chí vươn mình qua cả Tây phương.
2. Những hạn chế của tư tưởng triết học trường phái Đạo gia
Bên cạnh những giá trị to lớn nói trên, tư tưởng của Lão Tử, Trang Tử (đại
diện cho trường phái Đạo gia) vẫn có những thiếu sót, hạn chế.
Trong học thuyết về quy luật vận động của vạn vật, Lão Tử chỉ mới thấy các
mặt đối lập trong sự vật, hiện tượng nương tựa nhau một cách hình thức, giản
đơn. Lão Tử quan niệm sự chuyển hóa của các mặt đối lập chỉ là sự thay thế,
chuyển đổi vị trí cho nhau một cách tuần tự, kế tiếp, phản phục, quân bình,
không có sự đấu tranh phủ định, bài trừ, thâm nhập vào nhau một cách biện
triết học Lão Tử vẫn còn những thiếu sót, hạn chế, nhưng về phương diện lịch sử,
chúng ta cũng phải nghiêng mình trước những di sản tài hoa và sắc sảo của ông.
Ngoài ra, không phải ngẫu nhiên mà tư tưởng của Đạo gia, cùng với Nho
gia, Phật gia lại có sức ảnh hưởng to lớn như thế, lâu dài như thế đến không chỉ
đời sống kinh tế, chính trị xã hội của đất nước Trung Hoa mà còn ảnh hưởng tới
đời sống tinh thần, văn hóa nghệ thuật của người dân nước này.
Tìm hiểu tư tưởng Đạo gia, không nhất thiết phải giải phóng hoàn toàn
tinh thần con người, mà chỉ cần tìm lại một chút thanh thản trong tâm hồn, nơi xã
hội văn minh hiện đại, đầy những lo toan cuộc sống.
Trang 17
Nguyễn Duy Đông-CHKT.K21.D5
Tư tưởng Đạo gia, những giá trị và hạn chế GVHD:TS Bùi Văn Mưa
TÀI LIỆU THAM KHẢO
1. Doãn Chính, Trương Văn Chung, Nguyễn Thế Nghĩa, Vũ Tình Đại cương
triết học Trung Quốc, HN, Nxb CTQG, 1999
2. TS. Nguyễn Ngọc Thu – TS. Bùi Văn Mưa Giáo trình đại cương lịch sử
triết học
3. TS. Bùi Văn Mưa PGS.TS Lê Thanh Sơn Triết học (Phần II)
4.
5.
6.
7.
8.
Trang 18
Nguyễn Duy Đông-CHKT.K21.D5