Nguyễn Thị Lam
Phần I: Lịch sử Kế toán
Kế toán thời kỳ cổ đại
Trong một quy ước Hammurabi ban bố trong triều đại đầu tiên của
Babylonia (2285 2242 B.C.) có quy định rằng việc bán hàng phải được ghi nhận
bằng một bản thảo có dấu. Do vậy các giao dịch đều được các bên ghi chép lại.
Ở Mesopotamian có một nghề tương đương với nghề kế toán hiện này là
ghi chép bản thảo. Công việc của họ cũng tương tự như một kế toán viên là phải
ghi chép lại các giao dịch, và hơn nữa họ còn phải đảm bảo rằng các thoả ước
giao dịch phù hợp với yêu cầu về giao dịch thương mại. Đã có hàng trăm người
được thuê làm công việc này, và đây được coi là một nghề nghiệp có uy thế.
Khi một giao dịch được thực hiện, các bên tham gia giao dịch đi thuê ng-
ười chép bản thảo, mô tả thỏa thuận của họ với người đó, và sau đó nhận lấy bản
chép ghi trên đất sét vì đất sét có rất nhiều trong vùng này.
Kế toán trong thời Ai cập cổ đại cũng phát triển tương tự như tại thung
lũng Mesopotamia. Tuy nhiên họ sử dụng giấy cói thay cho đất sét và điều này
giúp cho việc ghi chép bản thảo đựơc thực hiện dễ dàng hơn. Hiện nay còn lưu
giữ được nhiều bản thảo khổ lớn, dùng riêng cho các kho hàng hoàng cung. Tuy
vậy, kế toán Ai cập cổ xưa chỉ dừng lại ở việc ghi chép đơn giản qua hàng nghìn
năm tồn tại. Nguyên nhân chính là do tình trạng mù chữ và sự vắng mặt của
đồng tiền đúc đã ngăn cản sự phát triển của nó.
1
Nguyễn Thị Lam
Người Hy Lạp đã có đóng góp quan trọng đối với ngành kế toán qua việc
sử dụng đồng tiền đúc vào khoảng 600 năm trước công nguyên. Việc đưa đồng
tiền đúc vào tiêu dùng đã khởi nguồn cho một cuộc cách mạng của ngành kế
toán. Ngành nghề ngân hàng trong xã hội Hy Lạp cổ xưa rất phát triển so với
các xã hội trước đó. Các chủ ngân hàng giữ những sổ tài khoản, trao đổi hoặc
cho vay, thậm chí thu xếp chuyển tiền mặt thông qua những ngân hàng cộng sự
tại các thành phố khác nhau.
Ở xã hội Rome cổ đại có một tục lệ là những người chủ gia đình ghi chép
cắt dày bằng một " hạt ngô hoặc lúa mạch chín " trị giá 1 bảng; và một shilling,
chỉ là một vết khía.
Nước Ý thời kỳ Phục hưng : sự ra đời của kế toán kép
Những người Italia cách tân thời kỳ Phục hưng (TK 14 th - 16 th) được
cho là cha đẻ của kế toán hiện đại. Họ đã nâng hoạt động mậu dịch và thương
3
Nguyễn Thị Lam
mại lên một tầm cao mới qua việc sáng tạo các phương thức xác định lợi nhuận
chuẩn xác hơn.
Mặc dầu đã biết đến chữ số Arập từ lâu, vào thời kỳ này, người Italia sử
dụng chúng thường xuyên để theo dõi những tài khoản kế toán. Họ giữ lại cho
những bản ghi chép hoạt động kinh doanh do thời kỳ này việc sử dụng vốn và
tín dụng quy mô lớn ngày một phát triển.
Luca Pacioli và Summa
Luca Pacioli là đại diện tiêu biểu của thời kỳ Phục hưng, ông thông hiểu
các kiến thức về văn học, nghệ thuật, toán học, kinh doanh và các môn khoa
học. Sinh năm 1445 tại Borgo San Sepulcro, Tuscany, Frater Luca Bartolomes
Pacioli thu thập được một lượng kiến thức đáng kinh ngạc về khoa học kỹ thuật,
tôn giáo, kinh doanh, khoa học quân sự, toán học, y học, nghệ thuật, âm nhạc,
pháp luật và ngôn ngữ. Ông đồng ýtình với quan điểm cho rằng tồn tại mối quan
hệ nội sinh giữa vô vàn các quy luật khác nhau và trong mối quan hệ đó luôn
duy trì sự hoà hợp và cân bằng như giưã toán học và kế toán.
Bạn của ông, Leonardo da Vinci đã giúp ông chuẩn bị những bản vẽ cho
tuyển tập 1497, Divina Proportione; đổi lại, Pacioli tính cho Da Vinci mà số lư-
ợng đồng đỏ cần cho pho tượng khổng lồ Duke Lidovico Sforza ở Milan.
Khoảng năm 1482, sau khi hoàn thành luận thuyết thứ ba về toán học,
Pacioli một người muốn cống hiến đời mình cho công việc thuyết giáo, khoác
4
Nguyễn Thị Lam
lên mình chiếc áo tu sĩ. Ông đi chu du khắp Italy thuyết trình về toán học, và đến
mạng Công nghiệp. Nước Anh dẫn đầu về sản xuất than đá, hàng dệt bông và
sắt, và là trung tâm tài chính của thế giới.
Năm 1880 Institute of Chartered Accountants mới được hình thành ở Anh
và xứ Wales tập hợp tất cả những người hành nghề kế toán tại các nước đó.
Ngoài 587 thành viên ghi danh đầu tiên, sau đó đã bổ sung thêm 606 thành viên
là những kế toán viên có kinh nghiệm.
Vào cuối những năm 1800, một số lượng lớn của tư bản Anh chảy sang
các ngành công nghiệp phát triển ở Hoa kỳ. Các kế toán viên người Anh và
Xcốt-len đã sang Mỹ để kiểm toán các khoản mục đầu tư này, và một số trong
bọn họ đã tiếp tục ở lại và hành nghề ở Mỹ.
6
Nguyễn Thị Lam
Thư mục thành phố từ năm 1850 liệt kê 14 kế toán viên đang hành nghề
tại New York, bốn ở Philadelphia và một ở Chicago. Đến năm 1886, con số đó
la 115 tại New York, 87 ở Philadelphia và 31 ở Chicago. Những nhóm những kế
toán viên đã tập hợp lại và phát triển thành hiệp hội kế toán chuyên nghiệp tại
khắp các thành phố Mỹ. Năm 1887, hiệp hội kế toán quốc gia đầu tiên ở Mỹ đ-
ược thành lập là American Association of Public Accountants, tiền thân của
American Institute of Certified Public Accountants.
Kế toán hiện đại
Cuối thế kỷ 19 là thời kỳ phát triển của kinh tế Mỹ song cũng gắn liền với
những vụ bê bối tài chính. Sự tập trung tư bản thái quá và đầu cơ cổ phiếu là
nguyên nhân gây ra khủng hoảng tài chính giai đoạn 1873-1893.
Sự chuyển giao chế độ từ nhà nước tư bản sang đế quốc một pàân là để
nắm quyền kiểm soát hoạt động tài khoá và tăng cường ngân sách phục vụ cho
các cuộc chiến. Với vỏ bọc chủ nghĩa cộng hòa, đế quốc Anh đã tập trung sức
mạnh chính trị và tài chính trong tay hoàng đế. Bước sang những năm 1920, nền
kinh tế Mỹ bắt đầu khủng hoảng, giá cả trên thị trường rớt xuống đến 40%.
Luồng Tiền mặt bị đình chệ, vốn vay trở nên khan hiếm. Đáp lại, các doanh
nghiệp đã thắt chặt quỹ tiền mặt hiền thời của mình. Tại thời điểm đó, người ta
chóng hoà nhịp với tiến trình hội nhập kinh tế quốc tế đã và đang diễn ra.
Tiếp thu nền kinh tế văn hoá Trung Hoa qua hàng nghìn nắm Bắc thuộc,
hơn nữa do có vị trí thông thương đường biển, đường sông thuận lợi, nghề kế
toán Việt nam có cơ hội phát triển từ rất sớm. Tuy vậy kế toán chỉ phần lớn phục
vụ lợi ích cho giai cấp vua chúa, quan lại với việc thắt chặt gánh nặng địa tô,
thuế má lên người dân. Mặt khác, cũng do chiến tranh diễn ra liên miên khiến
cuộc sống người dân luôn bị xáo trộn, sản xuất bị ngưng trệ.
Thế kỷ 20 đã chứng kiến cuộc chiến tranh xâm lược của thực dân Pháp,
đế quốc Mỹ đã chia tách đất nước làm hai phần. Mãi đến thắng lợi lịch sử mùa
xuân năm 1975 lại nền độc lập thống nhất cho đất nước sau hơn một thế kỷ chia
cắt. Lúc này chúng ta mới có thể thực hiện hệ thống kế toán độc lập thống nhất
cả nước.
Sau chiến tranh, Việt nam đã xây dựng hệ thống kế toán xã hội chủ nghĩa
theo mô hình các nước xã hôi chủ nghĩa, mà điển hình là Liên Xô cũ, một mô
hình cứng nhắc, không phù hợp với xu thế phát triển kinh tế quốc tế nói chung.
Chúng ta đó cú những chớnh sỏch tài chớnh riờng biệt, quy định đối với
cỏc doanh nghiệp Nhà nước mà khụng quy định đối với doanh nghiệp cổ phần
9
Nguyễn Thị Lam
và TNHH, cũn kế toỏn chỉ là cụng cụ để ghi chộp cỏc hoạt động tài chính theo
quy định của Nhà nước, mà chủ yếu để quyết toỏn thuế, do vậy, các báo cáo tài
chính được ghi chộp trờn số liệu của kế toỏn rất khỏc nhau giữa doanh nghiệp
Nhà nước và doanh nghiệp thuộc cỏc thành phần khỏc, khụng tạo ra môi trường
bỡnh đẳng và sự đồng nhất, cú thể so sánh được.
Khắc phục hạn chế này, từ những năm 1993 - 1994 Việt Nam đó bắt đầu
tiếp cận với cỏc chuẩn mực quốc tế và được nghiờn cứu một cách đầy đủ từ giai
đoạn năm 1996- 1998, khi thực hiện dự ỏn kế toỏn kiểm toỏn của cộng đồng
chõu Âu (EURO-TAPVIET). Kể từ năm 1999, chúng ta đó bắt tay vào soạn thảo
và xõy dựng chuẩn mực kế toỏn Việt Nam trên cơ sở hệ thống chế độ kiểm toỏn
quốc tế. Đến thỏng 12/2001, Bộ Tài chớnh ban hành 4 chuẩn mực đầu tiờn và
định số 129/2004/ND-CP ngày 31/5/2004 của chính phủ, “Act on Accounting”
(Đạo luận kế toán) quy định về mô hình kế toán tiêu chuẩn và vị trí kế toán
trưởng, kế toán viên. Theo Nghị định này, doanh nghiệp có thể thuê dịch vụ kế
11
Nguyễn Thị Lam
toán của một công ty kế toán hoặc kiểm toán chuyên nghiệp mà không cần bố trí
vị trí kế toán chuyên biệt.
Các năm 2003, 2004, 2005 là 3 năm liên tiếp chúng ta thực hiện luật kế
toán, với sự ban hành “Act of Accounting”, 3 sắc lệnh hướng dẫn, hệ thống các
chuẩn mực kế toán, các quy định đối với kế toán trưởng, và đối với việc hành
nghề kế toán đã tạo một hành lang pháp lý thuận lợi đối với hoạt động kế toán
của doanh nghiệp đang hoạt động ỏ Việt nam nói chung.
15 năm là quóng thời gian đáng ghi nhận trong sự nghiệp phát triển kế toán,
kiểm toán nước nhà. Chỳng ta đó đạt một số thành tựu :
1- Đó tập trung quản lý thống nhất việc nghiờn cứu, ban hành và đưa vào vận
hành trong nền kinh tế quốc dân một hệ thống chế độ kế toán doanh nghiệp phù
hợp với yêu cầu quản lý nền kinh tế thị trường, đó và đang thực hiện có hiệu quả
trong mọi lĩnh vực hoạt động kinh tế, xó hội.
2 - Đổi mới một bước và đẩy mạnh tiến trỡnh cải cỏch hệ thống kế toỏn Nhà
nước, bao gồm cả kế toỏn quản lý quỹ NSNN, tài sản quốc gia và kế toỏn cỏc
đơn vị thụ hưởng NSNN, đang hướng đến việc xây dựng mới hệ thống kế toán
Nhà nước theo hướng tập trung hỡnh thành Tổng Kế toỏn Nhà nước.
3 - Bước đầu đó đạt được sự quản lý thống nhất chế độ kế toán ở một số lĩnh
vực, như: chế độ kế toán ngân sách; chế độ kế toán NHNN và các TCTD; chế độ
12
Nguyễn Thị Lam
kế toán hộ kinh doanh; chế độ kế toán các hoạt động trên thị trường chứng
kế toán tài chính, điều tiết thuế chính vỡ thế thực trạng kế toỏn tại cỏc doanh
nghiệp cho thấy kế toỏn chỳng ta thiờn về việc phản ỏnh kế toỏn để đối phó
với thuế nhiều hơn là phục vụ cho công tác tham mưu ra quyết định của Thủ
trưởng đơn vị. Một tỡnh trạng khỏ phổ biến trong khối cỏc doanh nghiệp tư
nhân, TNHH các doanh nghiệp nay đa phần là làm kế toán để đối phó với
thuế, dẫn đến doanh nghiệp sợ thuế và từ đó nẩy sinh các tiêu cực nhũng
nhiễu của cán bộ thuế. Một tỡnh trạng nữa cần đề cấp đến là việc thực hiện
và áp dụng các thông tư hướng dẫn về chế độ kế toán cũn chưa đồng bộ, có
nhiều văn bản bất hợp lý so với thực tế nhưng vẫn chưa sửa đổi hoặc thay đổi
gây khó khăn trong việc thực thi: Chế độ công tác phí, chế độ tiền lương, chế
độ phụ cấp độc hại
Kế toán quản trị chưa được phát triển tại các doanh nghiệp Việt Nam mà đa
số mới chỉ được áp dụng trong các doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài.
14
Nguyễn Thị Lam
Việc tổ chức, chỉ đạo thực hiện của các cấp, các ngành và công tác kiểm tra
kế toán trong một số ngành, một số địa phương hoặc cơ sở cũn bị xem nhẹ;
Công tác đào tạo đội ngũ kế toán, kiểm toán có trỡnh độ cao chưa được thực
hiện mà Đào tạo chuyên gia kế toán là một đũi hỏi cấp bỏch hiện nay: Kế
toỏn là một nghề, cũng giống như các nghề khác; nghĩa là phải có chức danh
nghề nghiệp để đánh giá theo từng cấp độ chuyên môn nghiệp vụ của những
người làm việc trong lĩnh vực này. Mặt khác, trong xu thế hội nhập kinh tế
thế giới và khu vực hiện nay, đũi hỏi kế toỏn khụng chỉ dừng lại trong phạm
vi quốc gia mà phải mang tính toàn cầu. ở Việt Nam cũng cần phải có các
chuẩn mực nghề nghiệp, chức danh nghề nghiệp, bảo đảm sự hành nghề theo
những nguyên tắc và chuẩn mực thống nhất. Có nghĩa là cần phải đào tạo đội
ngũ chuyên gia kế toán đạt tiêu chuẩn trỡnh độ Việt Nam tương đương với
tiêu chuẩn, trỡnh độ của chuyên gia kế toánquốc tế.
Luật Kế toán đó được ban hành ngày 17/06/2003 đó tạo ra một hành lang
phỏp lý mới đối với các đơn vị kinh tế nói chung và các doanh nghiệp, tổ chức
Chuẩn mực kế toỏn Việt Nam phự hợp với chuẩn mực kế toỏn quốc tế thể hiện
sự thừa nhận của nhà nước Việt Nam đối với cỏc chuẩn mực kế toỏn quốc tế
được ỏp dụng ở Việt Nam, cũng đồng nghĩa với việc Việt Nam cú chấp nhận đổi
mới theo cơ chế thị trường. Cỏc chuẩn mực kế toỏn sẽ gúp phần tạo thuận lợi
cho môi trường đầu tư ở Việt Nam phự hợp với thụng lệ quốc tế, để nhà đầu tư
nước ngoài cú thể đầu tư vào Việt Nam, hiểu Việt Nam và Việt Nam hiểu được
quốc tế. Qua đó cũng giúp cho việc thực hiện chủ trương mở cửa và hội nhập
của Việt Nam với nền kinh tế quốc tế; tạo ra môi trường kinh doanh bỡnh đẳng
giữa cỏc thành phần kinh tế trong nước và doanh nghiệp nước ngoài, thu hỳt sự
quan tõm của các nhà đầu tư tham gia vào phát triển nền kinh tế.
Về phớa cỏc doanh nghiệp muốn làm ăn lâu dài, chính đáng sẽ cú lợi nhiều vỡ
nú tạo ra môi trường kinh doanh bỡnh đẳng, tạo sự tin cậy giữa cỏc doanh
nghiệp khi ỏp dụng chuẩn mực kế toỏn.
17
Nguyễn Thị Lam
Tiếp tục hoàn thiện
Để tiếp cận với cỏc chuẩn mực kế toán là tương đối phức tạp và việc tiếp cận nú
cũn khỏ khú khăn đối với Việt Nam, đặc biệt là đối với những nghiệp vụ mới
nảy sinh trong hoạt động kinh tế ở nước ta. Ông Bùi Văn Mai nhận xột, chỳng ta
khụng nờn vội vàng ban hành tất cả cỏc chuẩn mực kế toỏn với số lượng lớn,
khiến đối tượng ỏp dụng bị rối, thấy phức tạp quỏ, khụng tiếp cận được. Hơn
nữa cũng cần phải cú thời gian để giáo viên các trường đại học kinh tế, tài chớnh
tiếp cận với cỏc chuẩn mực kế toán và đưa vào giáo trỡnh giảng dạy. 22 chuẩn
mực kế toán được ban hành trong thời gian khỏc nhau nờn cần chuẩn hoỏ lại cho
phự hợp với tỡnh hỡnh thực tiễn của nền kinh tế. Nếu so với hệ thống kế toỏn
quốc tế bao gồm 36 chuẩn mực thỡ số lượng ban hành của ta cũng đó chiếm tỷ
lệ khỏ cao. Cú một số chuẩn mực kế toán đũi hỏi khắt khe và chưa phải là thời
huy tác dụng trong thực tiễn; thiết lập và giữ vững trật tự kỷ cương trong công
tác kế toán, kiểm toán.
3. Tăng cường và hoàn thiện hoạt động kiểm toán trong nền kinh tế quốc dân
(kể cả Kiểm toán độc lập, Kiểm toán Nhà nước và Kiểm toán nội bộ).
Cụ thể là phải nâng cao chất lượng hoạt động kiểm toán; mở rộng thị trường
kiểm toán (kể cả mở rộng ra thị trường nước ngoài); tăng cường quy mô và số
lượng các đơn vị cung cấp dịch vụ kiểm toán nhằm đáp ứng nhu cầu kiểm toán
trong điều kiện hội nhập.
4. Xây dựng đề án chiến lược về ứng dụng kỹ thuật tin học, làm căn cứ định
hướng và bước đi cho việc thực hiện các chương trỡnh ứng dụng tin học, từng
bước hiện đại hoá công tác kế toán, kiểm toán và thông tin cho các ngành, các
địa phương cho từng thời kỳ. Tổ chức soạn thảo và ấn hành các tài liệu hướng
dẫn có liên quan đến việc tin học hoá kế toán, tạo thuận lợi cho các đơn vị cơ sở
thực hiện.
5. Xây dựng, từng bước hỡnh thành đội ngũ nhân viên kế toán, kiểm toán
chuyên nghiệp, lành nghề thích ứng với nền kinh tế thị trường. Cụ thể là phải:
Nghiên cứu, ban hành đầy đủ hệ thống văn bản hướng dẫn thực hiện hệ thống
20
Nguyễn Thị Lam
chức danh, tiêu chuẩn cán bộ chuyên môn nghiệp vụ kế toán, kiểm toán. Tổ
chức đội ngũ, tiến hành kiểm tra sát hạch trỡnh độ để sắp xếp, sử dụng đội ngũ
cán bộ kế toán theo chức danh tiêu chuẩn. Vận hành cơ chế chặt chẽ về việc
tuyển chọn, thi tuyển, sát hạch để nâng cấp, nâng bậc, cấp chứng chỉ hành nghề
cho cán bộ kế toán, kiểm toán viên. Cải tiến chương trỡnh, nội dung đào tạo cán
bộ kế toán trong các trường đại học và trung học, thực hiện chế độ bồi dưỡng,
nâng cao trỡnh độ định kỳ cho cán bộ.
quản lý Nhà nước nhằm tăng cường hiệu quả hoạt động nhằm giảm tính công
quyền và nâng cao tính nghề nghiệp trong quản lý hoạt động kế toán, kiểm toán.
Tiếp theo là hỗ trợ Hội kế toán Việt Nam nâng cao tính nghề nghiệp trong hoạt
động dịch vụ kế toán, kiểm toán phù hợp với thông lệ quốc tế.
Thứ ba là phát triển thị trường dịch vụ kế toán, kiểm toán. Đa dạng hoỏ loại
hỡnh doanh nghiệp kế toỏn, kiểm toỏn, mở rộng thị trường kế toán, kiểm toán,
đa dạng hóa dịch vụ; nâng cao chất lượng dịch vụ kế toán, kiểm toán.
22
Nguyễn Thị Lam
Thứ tư là duy trỡ và mở rộng quan hệ hợp tỏc quốc tế, thực hiện cỏc bước của
tiến trỡnh hội nhập kế toỏn, kiểm toỏn.
Tại hội nghị, Phó Thủ tướng Vũ Khoan đó đánh giá cao những cố gắng, nỗ lực
của những người làm công tác kế toán, kiểm toán. Đồng thời chỉ đạo hội nghị
cần quan tâm tới 4 vấn đề lớn. Thứ nhất, những văn bản pháp quy về kế toán,
kiểm toán chưa thật cụ thể, đầy đủ, và đồng bộ; vỡ vậy cần cú hướng dẫn cụ thể
và trước khi ban hành cần lấy ý kiến tham gia rộng rói của cỏc doanh nghiệp, và
phải nhanh chúng điều chỉnh những văn bản cho phù hợp với thay đổi của cuộc
sống. Thứ hai là song song với việc ban hành đồng bộ các văn bản pháp quy là
đảm bảo cho chính sách đó được thực thi: phổ biến chính sách mới, thực hiện
kiểm tra, kiểm soát việc thực hiện các hệ thống chế độ kế toán để đảm bảo tính
minh bạch tỡnh hỡnh kinh doanh của doanh nghiệp. Thứ ba là kế toán và kiểm
toán phải đáp ứng được yêu cầu của hội nhập: cần rà soát lại các văn bản pháp
quy và sửa đổi cho phù hợp với thông lệ quốc tế; mở cửa thị trường kế toán,
kiểm toán phù hợp với cam kết đó ký; đồng thời những người làm công tác kế
toán, kiểm toán phải thông thạo được các luật chơi quốc tế. Thứ tư là đào tạo,
đào taọ lại hệ thống những người làm kế toán về chuyên môn nghiệp vụ, trong
sạch về đạo đức nghề nghiệp, phải kiên định, sao cho người làm công tác kế