nghiên cứu kiến trúc, ứng dụng ims và giải pháp triển khai ims tại vnpt - Pdf 24

1

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN
TRƢỜNG ĐẠI HỌC CÔNG NGHIỆP
NGUYỄN ĐÌNH THU NGHIÊN CỨU KIẾN TRÚC, ỨNG DỤNG IMS VÀ
GIẢI PHÁP TRIỂN KHAI IMS TẠI VNPT

Chuyên ngành: Kỹ thuật điện tử LUẬN VĂN THẠC SĨ KỸ THUẬT Thái Nguyên - 2013

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên

2
MỞ ĐẦU

3
hữu các mạng truy nhập khác nhau, để cạnh tranh họ mong muốn cung cấp nhiều
dịch vụ mới cho khác hàng. Môi trường truyền thông đa dịch vụ là mong muốn của
các nhà cung cấp dịch vụ nhằm cung cấp cho khách hàng các dịch vụ phong phú và
tiên tiến nhất. Hiện nay, sự hội tụ giữa chuyển mạch kênh và chuyển mạch gói cũng
như sự hội tụ cố định với di động là tiền đề thúc đẩy cho sự phát triển nhanh chóng
của các công nghệ/giải pháp có tính tích hợp cao và điển hình ở đây là giải pháp
điều khiển IMS có khả năng hỗ trợ điều khiển chung cho mọi loại hình dịch vụ cũng
như liên kết nhà cung cấp nội dung tạo nên sự đa dạng phong phú trong các dịch vụ
gia tăng trên nền mạng viễn thông mới. Các nhà khai thác viễn thông lớn ở Việt
Nam như VNPT, Vietel đang từng bước triển khai các công nghệ này vào mạng
của mình.
Vậy, đối với Tập đoàn Bưu chính viễn thông Việt Nam việc lựa chọn lộ trình
như thế nào, sử dụng giải pháp của hãng nào đang thực sự quan tâm . Với mục đích
tìm hiểu, nghiên cứu về phân hệ đa phương tiện IP trong mạng NGN và giải pháp
kỹ thuật của các hãng viễn thông trên thế giới, qua đó đánh giá và đề xuất phương
án kỹ thuật triển khai phân hệ đa phương tiện IP cho mạng viễn thông của VNPT.
Tác giả đã thực hiện bản luận văn có tựa đề “Nghiên cứu kiến trúc, ứng dụng IMS
và giải pháp triển khai IMS tại VNPT”.

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên

hợp nhất giữa đầu cuối di động và đầu cuối cố định nói riêng, sự hợp nhất di động

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên

5
và cố định nói chung.
Để các ứng dụng trên nền giao thức IP trao đổi với nhau, chúng ta cần có
một cơ chế thích hợp. Mạng thoại hiện nay cung cấp cơ chế này là rất hạn chế.
Muốn thiết lập phiên kết nối ngang hàng, mạng thiết lập một kết nối ad-hoc giữa hai
đầu cuối thông qua mạng IP. Hạn chế kết nối IP này chỉ đáp ứng với những môi
trường một nhà cung cấp dịch vụ trên Internet, một hệ thống đóng; trao đổi giữa các
nhà cung cấp dịch vụ là hạn chế.
Do đó, chúng ta cần một hệ thống mang tính toàn cầu, hệ thống IMS. IMS
cho phép các ứng dụng chạy trên các đầu cuối hỗ trợ giao thức IP có thể dễ dàng
thiết lập kết nối ngang hàng điểm - điểm, hoặc kết nối điểm - nhà cung cấp nội dung
(peer-to-content).
Khái niệm IMS được định nghĩa như sau:
“IMS là kiến trúc toàn cầu, độc lập với truy nhập; điều khiển dịch vụ và
kết nối dựa trên giao thức IP. Kiến trúc này cho phép cung cấp nhiều loại dịch
vụ đa phƣơng tiện tới ngƣời dùng thông qua các giao thức thông dụng trên
Internet. ”
Khả năng kết hợp giữa tính di động và mạng IP quyết định tới sự thành công
của dịch vụ trong tương lai. Hình 1.1 thể hiện khả năng điều khiển dịch vụ, các kết
nối IP của kiến trúc IMS, không phụ thuộc vào mạng truy nhập. IMS là công nghệ
chính để hiện thực hóa sự thống nhất của các mạng truy nhập. Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên

6

năng như: Giải pháp cho dịch vụ thoại và video trong miền chuyển mạch kênh, tính
năng hỗ trợ di động WiMAX - LTE, WiMAX – UMTS.
Ngoài 02 tổ chức chuẩn hóa trên, Liên minh Di động mở OMA (Open
Mobile Alliance) cũng đóng vai trò quan trọng trong tiến trình phát triển các dịch vụ
IMS. Tuy nhiên, trong khi 3GPP và 3GPP2 tiếp tục phát triển và chuẩn hóa kiến
trúc lõi IMS, xây dựng các dịch vụ cơ bản IMS như là thoại, video và dịch vụ hội
nghị, thì OMA tập trung phát triển sáng tạo, thiết kế nhiều ứng dụng và dịch vụ
khác nhau trên đỉnh của kiến trúc IMS.
1.1.3 LỢI ÍCH CỦA IMS
IMS, tạm dịch là hệ thống con đa phương tiện IP, không đơn thuần là một
nền tảng dịch vụ (service plaftorm) mà là một kiến trúc mạng dùng để thao tác,
quản lý và điểu khiển các dịch vụ đa phương tiện đến người dùng cố định và di
động. IMS định nghĩa một lớp quản lý dịch vụ chung cho tất cả các loại hình dịch
vụ đa phương tiện, độc lập với loại hình mạng truy nhập mà người dùng đang kết
nối. IMS xây dựng trên nền mạng lõi IP và cho phép nhiều mạng truy nhập khác,
bao gồm cả mạng di động lẫn mạng cố định, kết nối với nhau thông qua lớp dịch vụ
chung để cung cấp các gói dịch vụ hội tụ.
Một trong những mục đích đầu tiên của IMS là giúp cho việc quản lý mạng
trở nên dễ dàng hơn bằng cách tách biệt chức năng điều khiển và chức năng vận tải
thông tin. Một cách cụ thể, IMS là một mạng phủ (overlay), phân phối dịch vụ trên
nền hạ tầng chuyển nối gói. IMS cho phép chuyển dần từ mạng chuyển nối mạch

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên

8
sang chuyển nối gói trên nền IP, tạo thuận lợi cho việc quản lý mạng thông tin di
động. Việc kết nối giữa mạng cố định và di động đã góp phần vào tiến trình hội tụ
mạng viễn thông trong tương lai. IMS cho phép người dùng có thể sử dụng một hay
nhiều loại thiết bị khác nhau, di chuyển từ mạng này sang mạng khác mà vẫn có thể
dùng cùng một dịch vụ.

Đứng từ viễn cảnh công nghệ, NGN dựa trên một kiến trúc mới. Với mạng
chuyển mạch gói cho phép tách biệt tầng truyền tải và tầng điều khiển. Mạng truyền
tải dựa trên công nghệ IP, với khả năng hỗ trợ cho tất cả các loại dịch vụ, sử dụng
công nghệ MPLS để đảm bảo chất lượng dịch vụ.
Mạng truy nhập của NGN là mạng truy nhập băng rộng hỗ trợ truy nhập dịch
vụ thoại, dữ liệu và nhiều dịch vụ khác. Truy nhập băng rộng có thể sử dụng thông
qua hệ thống truy nhập cố định như DSL, cáp quang hay truy nhập vô tuyến băng
thông rộng.
Tại tầng dịch vụ, kiến trúc mạng NGN cho phép thuê bao truy nhập tới bất kì
dịch vụ nào thông qua mạng thuê bao hay nhà cung cấp dịch vụ. Hơn nữa, NGN
giới thiệu phương thức truy nhập dịch vụ thông qua bất kì mạng truy nhập hay thiết
bị nhờ sự chuyển vùng của mạng di động hiện tại.
Các doanh nghiệp kinh doanh dịch vụ viễn thông nên tập trung đầu tư xây
dựng kiến trúc mạng NGN nhằm :
a) Đầu tư vào NGN để tiết kiệm chi phí
Đối với kiến trúc mạng truyền thống như PSTN/ISDN đòi hỏi hạ tầng mạng
riêng từ truy nhập đến điều khiển, một hệ thống quản lý/tính cước độc lập. Như vậy
trong hạ tầng mạng bao gồm rất nhiều chủng loại thiết bị, dẫn đến chi phí vận hành
bảo dưỡng, hệ thống hoạt động không hiệu quả. Nếu xây dựng hạ tầng mạng NGN
– IP hóa hoàn toàn có thể giảm được số chủng loại thiết bị- tiết kiệm chi phí vận
hành bảo dưỡng, hơn nữa các thiết bị mới nhiều tính năng hơn. Như vậy chi phí cho
toàn bộ hệ thống giảm.
b) Đầu tư để tăng doanh thu thông qua việc cung cấp các dịch vụ mới
Kiến trúc NGN-IMS cho phép triển khai một loạt các dịch vụ mới có thể
thay thế doanh thu từ dịch vụ thoại. Dịch vụ thoại sẽ truyền qua hệ thống VoIP, kết
hợp với hình ảnh, hội thảo truyền hình với chất lượng cao đáp ứng nhu cầu khách
hàng.

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên


Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên

11
1.2.2 QUẢN LÝ ĐẢM BẢO CHẤT LƢỢNG DỊCH VỤ - QoS
Một yêu cầu đặc biệt quan trọng của IMS đó là phải có khả năng cho phép
đầu cuối người dùng (UE) thỏa thuận một mức QoS xác định. QoS của một phiên
giao dịch được xác định bởi tập các hệ số, như là tốc độ bít, cỡ gói, kiểu dữ liệu,
băng thông lớn nhất… mà hệ thống có thể phân bổ tới người dùng dựa trên thông
tin khách hàng hay năng lực hiện tại của mạng. Sau khi thỏa thuận các thông số tại
mức ứng dụng nhất định, UE thực hiện chiếm dụng tài nguyên tương ứng trong môi
trường mạng. Khi kết nối end-to-end QoS được thiết lập, UE mã hóa và đóng gói
các kiểu dữ liệu với giao thức tương ứng và gửi chúng tới mạng truyền tải và truy
nhập thông qua giao thức lớp truyền tải dựa trên nền IP.
IMS cũng cho phép các nhà khai thác điều khiển mức QoS đến người dùng
chính vì lẽ đó các nhà khai thác có thể phân loại khách hàng của mình thành các
nhóm khác nhau.
1.2.3 HỖ TRỢ LIÊN MẠNG
Yêu cầu liên kết với Internet là bắt buộc trong xây dựng cấu trúc khung làm
việc của IMS, với việc liên kết với Internet, số lượng tiềm năng nguồn và đích cho
các phiên đa phương tiện sẽ tăng đột ngột.
IMS cũng được yêu cầu liên kết tới các mạng chuyển mạch kênh như là
PSTN hoặc các mạng di động tế bào. Các đầu cuối IMS hỗ trợ audio/video sẽ được
ra mắt đầu tiên trên thị trường, các đầu cuối này có thể kết nối tới cả các mạng
chuyển mạch kênh và mạng chuyển mạch gói. Khi người dùng muốn thực hiện một
cuộc gọi tới một thuê bao PSTN hoặc thuê bao di động, các đầu cuối IMS lựa chọn
trong miền chuyển mạch kênh.
Chính vì vậy, vấn đề liên mạng với một mạng chuyển mạch kênh không
được yêu cầu nghiêm ngặt lắm mặc dù phần lớn các đầu cuối IMS cũng sẽ hỗ trợ
miền chuyển mạch kênh. Vấn đề liên kết với các mạng chuyển mạch kênh có thể
xem như là một yêu cầu về lâu về dài. Thông thường vấn đề liên mạng với mạng

1.2.6 TẠO DỊCH VỤ NHANH CHÓNG VÀ ĐA TRUY NHẬP
Yêu cầu này có tác động lớn trong việc thiết kế cấu trúc của hệ thống IMS,
nó chỉ ra rằng các dịch vụ IMS không cần thiết phải được chuẩn hóa. Điều này đánh
dấu một mốc quan trọng trong việc thiết kế mạng di động tổ ong bởi vì trước đây
mỗi một dịch vụ đơn lẻ hoặc là cần chuẩn hóa hoặc có đăng ký độc quyền. Ngay cả

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên

13
khi dịch vụ đã được chuẩn hóa thì không có gì có thể đảm bảo rằng dịch vụ vẫn tiếp
tục duy trì khi mà người dùng chuyển vùng sang mạng khác. Một ví dụ điển hình
mọi người thường thấy trong mạng GSM là các cuộc gọi có thể bị chuyển tới hộp
thư thoại khi mà người dùng di chuyển tới một quốc gia khác.
Mục đích của IMS giảm thời gian để đưa ra một dịch vụ mới. Trước đây
việc chuẩn hóa dịch vụ và thực hiện kiểm tra năng lực dịch vụ là nguyên nhân gây
trễ đáng kể. Với IMS để giảm thời gian này, người ta chuẩn hóa các năng lực dịch
vụ thay cho việc chuẩn hóa dịch vụ như trước đây.
IMS cũng chỉ là một mạng IP và nó giống với bất kỳ mạng IP nào khác. Nó
làm việc ở lớp thấp và có truy nhập độc lập. Bất kỳ mạng truy nhập nào cũng có thể
kết nối tới IMS. Ví dụ như là kết nối từ mạng truy nhập vô tuyến nội hạt WLAN, từ
ADSL, HFC hoặc truy nhập từ modem.
1.3 KIẾN TRÚC IMS
Kiến trúc IMS được phân thành 3 lớp (Hình 1.2): lớp ứng dụng, lớp điều khiển
(hay còn gọi là lớp IMS hay IMS lõi) và lớp vận tải (hay lớp người dùng).
- Lớp ứng dụng bao gồm các máy chủ ứng dụng AS (Application Server) và
các máy chủ thuê bao thường trú HSS (Home Subscriber Server).
- Lớp điều khiển bao gồm nhiều hệ thống con trong đó có hệ thống IMS lõi.
- Lớp truyền tải bao gồm thiết bị người dùng UE (User Equipment), các
mạng truy nhập kết nối vào mạng lõi IP. Hai thực thể chức năng NASS và
RACS định nghĩa bởi TISPAN có thể được xem như thuộc lớp vận tải hay


Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên

15
Sự khác nhau giữa các thực thể này nằm trong các thủ tục để đạt mục đích mà
chúng thực hiện. Mỗi thực thể hoạt động giống như một stateful proxy (mặc dù
chúng có thể là stateless); vì vậy thực thể duy trì chi tiết về tất cả các phiên trong
tiến trình cũng như trạng thái đăng ký của thiết bị thuê bao.
Sự phân chia ba chức năng này thành các thực thể riêng biệt cũng tạo ra cảm
giác cho mục đích an toàn. Có các chức năng bảo an đặc biệt được định nghĩa cho
mỗi CSCF mà phù hợp cho kiến trúc phân tán.
P - CSCF I - CSCF S - CSCF

Hình 1.3 Lõi IMS và các CSCF
Sau đây ta xem xét cụ thể 3 chức năng trên.
1.3.1.1 Chức năng điều khiển phiên cuộc gọi ủy quyền
P-CSCF là điểm kết nối, giao tiếp đầu tiên của các thuê bao trong hệ thống
IMS. Có nghĩa là tất cả lưu lượng báo hiệu SIP từ UE sẽ được gửi tới P-CSCF.
Ngược lại, tất cả các kết cuối báo hiệu SIP từ mạng được gửi từ P-CSCF tới UE.
Bốn chức năng cơ bản của P-CSCF bao gồm: nén SIP, kết hợp bảo mật IP (IPSec),
tương tác với chức năng quyết định chính sách (PDF) và xác định phiên khẩn cấp.
Giao thức SIP là giao thức báo hiệu chứa lượng lớn các tham số mào đầu,
bao gồm cả các thông tin mở rộng và thông tin liên quan tới bảo mật. Kích thước
các bản tin của SIP thường lớn hơn so với các phương thức mã hoá nhị phân. Để
làm rút ngắn thời gian thiết lập phiên, 3GPP uỷ thác việc hỗ trợ nén SIP được thực
hiện giữa UE và P-CSCF. P-CSCF cần nén các bản tin nếu UE thông báo rằng nó
muốn nhận các bản tin báo hiện nén.
P-CSCF chịu trách nhiệm cho duy trì Kết nối bảo mật (SA) và sử dụng sự
bảo vệ tính nhất quán và bảo mật cho báo hiệu SIP. Công việc này được thực hiện
trong suốt quá trình đăng ký SIP khi UE và P-CSCF thực hiện thỏa thuận bảo mật

- P-CSCF nằm trên đường truyền của tất cả các thông điệp báo hiệu trong hệ
thống IMS. Nó có khả năng kiểm tra bất kỳ thông điệp nào. P-CSCF có
nhiệm vụ đảm bảo truyền tải các yêu cầu từ UE đến máy chủ SIP (ở đây là
S-CSCF) cũng như những thông điệp phản hồi từ máy chủ SIP về UE.
- P-CSCF xác thực người dùng và thiết lập kết nối bảo mật IPSec với thiết bị
IMS của người dùng. Nó còn có vai trò ngăn cản các tấn công như spoofing

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên

17
(bắt chước), replay (lặp lại) để đảm bảo sự bảo mật và an toàn cho người
dùng.
- P-CSCF cũng có thể nén và giải nén các thông điệp SIP để giảm thiểu khối
lượng thông tin báo hiệu truyền trên những đường truyền tốc độ thấp.
- P-CSCF có thể tích hợp chức năng quyết định chính sách PDF (Policy
Decision Function) nhằm quản lý và đảm bảo QoS cho các dịch vụ đa
phương tiện.
- P-CSCF cũng tham gia vào quá trình tính cước dịch vụ.
1.3.1.2 Chức năng điều khiển phiên cuộc gọi tƣơng tác mạng
Interrogating-CSCF (I-CSCF) trong hệ thống mạng của một nhà cung cấp dịch
vụ là điểm liên lạc cho tất cả các kết nối hướng đến một UE nằm trong mạng đó.
Địa chỉ IP của I-CSCF được công bố trong máy chủ DNS của hệ thống. Chức năng
của I-CSCF bao gồm:
- Định tuyến thông điệp yêu cầu SIP nhận được từ một mạng khác đến S-
CSCF tương ứng. Để làm được điều này, I-CSCF sẽ liên lạc với HSS
(thông qua DIAMETER) để cập nhật địa chỉ S-CSCF tương ứng của người
dùng. Nếu như chưa có S-CSCF nào được gán cho UE, I-CSCF sẽ tiến hành
gán một S-CSCF cho người dùng để nó xử lý yêu cầu SIP.
- Ngược lại, I-CSCF sẽ định tuyến thông điệp yêu cầu SIP hoặc thông điệp
trả lời SIP đến một S-CSCF/I-CSCF nằm trong mạng của một nhà cung cấp

trao quyền; nhận dạng người dùng công khai là nhận dạng mà người dùng khác sử
dụng để liên lạc với người dùng mong muốn.
Các tham số truy nhập IMS được dùng để cài đặt các phiên chúng gồm có:
nhận thực người dùng, quyền chuyển vùng và tên của S-CSCF được chỉ định.
Thông tin service-triggering cho phép thực thi dịch vụ SIP.
HSS cũng cung cấp các yêu cầu đặc trưng người dùng (user-specific) thay thế
cho các khả năng của S-CSCF. Thông tin này được dùng bởi I-CSCF để lựa chọn S-
CSCF phù hợp cho người dùng. Ngoài ra HSS còn chứa chức năng HLR/AUC để
cung cấp cho PS/CS domain. Cấu trúc của HSS như trong hình 1.4. Truyền thông
giữa các chức năng HSS khác nhau không được chuẩn hoá.
HLR cho phép các thuê bao truy cập tới các dịch vụ miền PS và CS hỗ trợ
chuyển vùng đối với GSM/UMTS. AUC lưu khoá bí mật cho mỗi thuê bao di động

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên

19
được dùng để tạo ra số liệu bí mật động cho mỗi thuê bao di động. Nó được sử dụng
cho nhận thực qua lại giữa mạng và IMSI. Nó còn dùng cho bảo vệ tính toàn vẹn và
mã hóa thông tin trên đường vô tuyến giữa UE và mạng. Có thể có nhiều hơn một
HSS trong mạng tuỳ thuộc số lượng thuê bao di động và khả năng thiết bị và tổ
chức mạng. Có nhiều điểm tham khảo giữa HSS và các thực thể mạng khác.
HLR/AUC
Functionality for CS
HLR/AUC
Functionality for PS
IP multimedia
functionality
HSS

Hình 1.4 Cấu trúc của HSS

vụ (service identifiers) tương đương như đánh địa chỉ cho dịch vụ. Phù hợp với các
chỉ mục trong HSS nơi mà người dùng đã đăng ký. Điều này làm cho S-CSCF định
tuyến chính xác tới AS yêu cầu.
1.3.3.2 Các chức năng tài nguyên phƣơng tiện- MRF
MRFC và MRFP kết hợp với nhau để cung cấp các dịch vụ bear như: thoại hội
nghị, tạo tone, văn bản chuyển thành thoại, phát hiện tone, nhận dạng thoại tự động
ASR, fax, điều khiển kết nối và thông báo. MRFC làm nhiệm vụ xử lý truyền thông
SIP tới và từ S-CSCF và điều khiển MRFP. MRFP đáp trả lại bằng cung cấp tài
nguyên lớp người dùng (user plane) mà được yêu cầu và chỉ đạo bởi MRFC. MRFP
thực hiện các chức năng sau:
- Trộn các luồng thông tin đến. (đối với truyền thông đa thực thể)
- Nguồn luồng phương tiện. (cho các thông báo đa phương tiện)
- Luồng đa phương tiện đang xử lý (ví dụ chuyển đổi mã tiếng, các phân tích
đa phương tiện)

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên

21
1.3.4 CÁC CHỨC NĂNG TƢƠNG TÁC MẠNG
1.3.4.1 Chức năng điều khiển cổng phƣơng tiện – MGCF
P - CSCF I - CSCF S - CSCF
MGCF
AS HSS SLF

Hình 1.6 Vị trí của MGCF trong IMS
Chức năng này được đưa ra là do nó cung cấp chức năng truy nhập vào miền
IP/SIP mặc dù nó thực sự không được xem như là bộ phận của IMS vị trí của nó
như hình 1.6. MGCF cung cấp kết nối vào mạng PSTN, cung cấp chức năng cổng
giữa báo hiệu số 7 và IP/SIP. Khi cuộc gọi bắt nguồn từ mạng báo hiệu số 7 và kết
thúc trong mạng SIP thì bản tin báo hiệu số 7 ISUP được chuyển tới MGCF để ánh

phương tiện media IMS trên giao thức RTP giao tiếp còn lại nhận hoặc phát các
tham slot PCM kết nối tới mạng CS. Ngoài ra nó có thể thêm chức năng chuyển đổi
mã khi đầu cuối IMS không hỗ trợ mã hoá được dùng bởi mạng CS ví dụ đầu cuối
IMS dùng mã AMR còn đầu cuối PSTN dùng mã G.711
1.3.4.4 Chức năng điều khiển cổng ranh giới – BGCF
Hoạt động giống MGCF nhưng nó được dùng để kết nối tới nhà cung cấp dịch
vụ khác như trong hình 1.8.
P - CSCF I - CSCF S - CSCF
MGCF
AS HSS SLF
BGCF

Hình 1.8 Vị trí của BGCF trong mạng IMS
Nó cung cấp chức năng cổng giữa hai mạng của hai nhà cung cấp, vì tính bảo
mật nên nó chỉ được kết nối tới BGCF của nhà cung cấp mạng khác. BGCF kết nối
trực tiếp với S-CSCF trong chính miền mạng của nó để nhận bản tin định tuyến trực

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên

23
tiếp từ S-CSCF dựa vào TEL URI.
1.3.5 CÁC CHỨC NĂNG HỖ TRỢ
1.3.5.1 Chức năng quyết định chính sách – PDF
Chịu trách nhiệm đưa ra các quyết định dựa trên thông tin liên quan tới
phương tiện và phiên có được từ P-CSCF. Nó hoạt động giống như điểm quyết định
chính sách cho điều khiển SBLP. Chức năng của điểm quyết định chính sách cho
SBLP gồm các nhiệm vụ sau:
- Lưu thông tin liên quan tới phương tiện và phiên (địa chỉ IP, số port, độ
rộng băng thông…).
- Tạo ra thẻ bài trao quyền để nhận dạng PDF và phiên.

về các dịch vụ gia tăng trên IMS và ứng dụng IMS xây dựng mạng viễn thông hội
tụ. Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên

25
CHƯƠNG 2. CÁC DỊCH VỤ GIA TĂNG TRÊN NỀN IMS VÀ ỨNG
DỤNG IMS XÂY DỰNG MẠNG HỘI TỤ
2.1 CÁC DỊCH VỤ GIA TĂNG TRÊN IMS
2.1.1 DỊCH VỤ HIỂN THỊ
Dịch vụ hiển thị nâng cao chất lượng nhắn tin, được sử dụng trong rất nhiều
ứng dụng và dịch vụ khác. Dịch vụ hiển thị sẽ là trái tim của tất cả liên lạc và là
cách thức hỗ trợ chức năng mới cho điện thoại. Dịch vụ hiển thị cũng là cơ hội kinh
doanh có lợi nhuận cho cả nhà vận hành mạng và nhà cung cấp dịch vụ.


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status