Tiếp nhận Truyện kỳ mạn lục của Nguyễn Dữ thời kỳ đổi mới - Pdf 24

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN
TRƢỜNG ĐẠI HỌC SƢ PHẠM

HOÀNG THỊ HUYỀN TRANG

TIẾP NHẬN TRUYỀN KỲ MẠN LỤC
CỦA NGUYỄN DỮ THỜI KỲ ĐỔI MỚI

Chuyên ngành: Văn học Việt Nam
Mã số: 60220121 LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC Ngƣời hƣớng dẫn khoa học: PGS.TS. Nguyễn Hữu Sơn Thái Nguyên - 2013
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn

LỜI CẢM ƠN
Trong suốt quá trình thực hiện luận văn tốt nghiệp này, tôi đã nhận được
rất nhiều sự giúp đỡ của thầy cô giáo trong khoa Văn học Việt Nam, Trường
Đại học Sư phạm - Đại học Thái Nguyên. Đặc biệt là sự hướng dẫn, chỉ bảo

Tác giả luận văn

Hoàng Thị Huyền Trang
i
MỤC LỤC
Trang
Lời cảm ơn
Lời cam đoan
MỤC LỤC i
Quy ước các chữ viết tắt iii
PHẦN MỞ ĐẦU iii
1. Lý do chọn đề tài 1
2. Lịch sử vấn đề 2
3. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 7
4. Phương pháp nghiên cứu 8
5. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu 9
Chƣơng 1. LÝ THUYẾT TIẾP NHẬN VÀ NHỮNG NHÂN TỐ TÁC
ĐỘNG ĐẾN QUÁ TRÌNH TIẾP NHẬN TRUYỀN KÌ MẠN LỤC 11
1.1. Khái lược về lý thuyết tiếp nhận 11
1.2. Tiếp nhận Truyền kỳ mạn lục từ cơ sở lịch sử - văn hóa 15
1.3. Tiếp nhận Truyền kỳ mạn lục từ vai trò chủ thể tiếp nhận 20
1.4. Tiếp nhận Truyền kỳ mạn lục từ sự thay đổi của các phương pháp
nghiên cứu 23
Chƣơng 2. CÁC NHÀ VIỆT HỌC Ở NƢỚC NGOÀI TIẾP NHẬN
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn

1
PHẦN MỞ ĐẦU

1. Lý do chọn đề tài
Chúng tôi chọn đề tài Tiếp nhận Truyền kỳ mạn lục của Nguyễn Dữ thời
kì Đổi mới bởi rất nhiều nguyên nhân khác nhau, cả khách quan lẫn chủ quan,
nhưng chủ yếu vẫn là xuất phát từ yêu cầu cấp thiết của đề tài với một số lý do
như sau:
Truyền kỳ mạn lục phản ánh tình hình tư tưởng của thời đại. Nguyễn Dữ
viết tác phẩm cơ bản theo quan điểm Nho giáo. Bên cạnh tư tưởng Nho giáo
còn có ảnh hưởng của tư tưởng Phật giáo, Đạo giáo và ảnh hưởng văn hóa dân
gian. Chúng tôi tiến hành nghiên cứu những quan điểm tiếp nhận của các nhà
nghiên cứu tác phẩm trong và ngoài nước để thấy được sự mới mẻ, khác biệt
của Truyền kỳ mạn lục so với các tác phẩm khác.
Giới nghiên cứu thế kỉ XX xem Truyền kỳ mạn lục như là sự mở đầu và
mẫu mực của sáng tác truyền kì trong văn học Việt Nam trung đại, tác động
vào sự phát triển của đề tài này, với sự xuất hiện sau nó những tác phẩm như
Truyền kỳ tân phả của Đoàn Thị Điểm, Lan trì kiến văn tiểu lục của Vũ Trinh
và nhiều tác phẩm khác. Trong chương trình hiện nay, một số thiên truyện của
tác phẩm đã được đưa vào giảng dạy chính thức hoặc đọc thêm ở trường phổ
thông. Điều này khẳng định giá trị thẩm mỹ và ý nghĩa giáo dục của Truyền kỳ
mạn lục. Tác phẩm đã được tuyển chọn giảng dạy ở nhiều cấp học: Chuyện
Người con gái Nam Xương được học ở lớp 9, Chuyện chức phán sự ở đền Tản
Viên được học ở lớp 10, toàn bộ 20 thiên truyện được giới thiệu trong chương
trình giảng dạy Đại học và Cao đẳng.
Thời kì Đổi mới cũng là thời kì mà cái nhìn cũng rộng mở, tự do ngôn

thời với Nguyễn Dữ, đem dịch Nôm đã chứng tỏ điều này. Ở các thời sau nhiều
người như Ngô Thì Sĩ, Nguyễn Khuyến có các bài thơ vịnh các nhân vật trong
Truyền kỳ mạn lục của Nguyễn Dữ. Trong lời đề tựa, tác giả Bùi Duy Tân gọi
đây là “áng văn hay của bậc đại gia”, là “thiên cổ kỳ bút”, tuy chưa tính đến
mức độ vay mượn, cũng cho thấy sự đánh giá cao.

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn

3
Trong Hội thảo quốc tế “90 năm nghiên cứu về văn hóa và lịch sử Việt
Nam”, do Trung tâm Khoa học xã hội và Nhân văn Quốc gia và Học viện Viễn
đông Bác cổ Pháp tổ chức tại Hà Nội vào tháng 12 năm 1992, Giáo sư Xuyên
Bản (Kawanmoto Kurunie), Đại học Tổng hợp Keio đã có bài tham luận với
tựa đề “Những vấn đề khác nhau liên quan đến “Truyền kỳ mạn lục” (Lịch sử
sáng tác, xuất bản và sự nghiên cứu tập truyện theo cách nhìn của văn học so
sánh) (Bản tiếng Pháp, Ngân Xuyên dịch). Ngoài việc đi sâu nghiên cứu tác giả
và văn bản Truyền kỳ mạn lục, tác giả cũng so sánh phương pháp cải biên của
Truyền kỳ mạn lục với Ca tỳ tử và đưa ra những nhận xét về sự khác biệt trong
quan điểm của tác giả thuộc hai quốc gia với hai nền văn hóa khác nhau.
Nhà nghiên cứu Nguyễn Nam trong công trình nghiên cứu có ý nghĩa
tổng thành Phiên dịch học lịch sử - văn hóa: trường hợp Truyền kỳ mạn lục đã
vận dụng lý thuyết phiên dịch học vào khảo sát Truyền kỳ mạn lục điểm qua
bản phiên Nôm của Nguyễn Thế Nghi (Thế kỉ XVI-XVII), Trần Gia Du (1876)
và các bản trích dịch, lược dịch, tuyển dịch, tổng dịch ra chữ Quốc ngữ của
Trần Đại Học trên Gia Định báo (1891) ở Sài Gòn, của học giả người Pháp E.
Nordeman trong bộ Quảng tập viêm văn (1898) ở Hà Nội, sau đó là nhiều bản
dịch Việt ngữ trong thế kỉ XX của các dịch giả Cát Thành Trần Thúy, Phan Kế
Bính, Cao Thiện Khánh, Trúc Khê Ngô Văn Triện, Thứ Lang Bùi Xuân
Trang… Với mỗi bản dịch, nhà nghiên cứu đều có phân tích, đánh giá quan
niệm văn bản, dịch thuật, nhu cầu xã hội về tác phẩm, phương thức in ấn,

Trung Quốc - Việt Nam thông qua Kim Ngao tân thoại, Tiễn đăng tân thoại,
Truyền kỳ mạn lục in tại Việt Nam năm 2004, nhà nghiên cứu Hàn Quốc Jeon
Hye Kyung (Toàn Huệ Khanh) xác định hai tác phẩm Kim Ngao tân
thoại và Truyền kỳ mạn lục đều chịu ảnh hưởng của Tiễn đăng tân thoại, nhưng
tác giả cũng lý giải hai tác phẩm đó không hoàn toàn là sự mô phỏng vay mượn
một cách đơn giản mà chịu ảnh hưởng một cách toàn thể từ phương diện thể
loại tiểu thuyết truyền kỳ để sáng tạo nên tác phẩm truyền kỳ của riêng mỗi
nước - vừa mang những đặc điểm thể loại tác phẩm chung, vừa mang những

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn

5
nét riêng về tác giả cũng như văn hóa, địa lý mỗi quốc gia. Tác giả sử dụng
phương pháp nghiên cứu so sánh để làm sáng tỏ đặc trưng của tác phẩm, trong
đó lấy Tiễn đăng tân thoại làm thước đo để xem xét diện mạo biến đổi của Kim
Ngao tân thoại và Truyền kỳ mạn lục về tác giả, tác phẩm và văn hóa, từ đó nêu
ý nghĩa văn học sử của tiểu thuyết truyền kỳ ba nước. Tác giả có kết luận sự
giống nhau và khác nhau trên các phương diện thể loại, cốt truyện, nhân vật,
môtip, truyền thống văn hóa dân tộc. Từ những dẫn giải trên, học giả Jeon Hye
Kyung đi đến kết luận: “Về quan hệ ảnh hưởng, ta thấy Truyền kỳ mạn lục và
Kim ngao tân thoại có nhiều chỗ được coi là chứng cứ chịu ảnh hưởng của Tiễn
đăng tân thoại, nhưng Truyền kỳ mạn lục có thể được coi là chịu ảnh hưởng
toàn diện về nhiều mặt của Tiễn đăng tân thoại; còn Kim ngao tân thoại đã mô
phỏng nhiều phần các mô típ của các truyện cá biệt trong Tiễn đăng tân thoại
nhưng về mặt phương pháp sáng tác, tác giả đã sử dụng lối viết một cách nhất
quán để thể hiện tư tưởng của mình nên đã thể hiện rõ động cơ sáng tác và ý
thức sáng tác của tác giả trong ba tác phẩm” [18; 187-188].
Qua thời gian dài tiếp cận Truyền kỳ mạn lục, nhiều vấn đề học thuật đã
được đặt ra, mở rộng và nâng cao, ngày càng toàn diện, hệ thống và chuyên sâu
hơn. Từ việc chỉ khảo sát, giới thiệu riêng tác phẩm Truyền kỳ mạn lục đã tiến

mối quan hệ giữa “Chuyện cây gạo” và “Chiếc đèn mẫu đơn”. Nghiên cứu
Văn học, số 6-2005, tr.50-55; Nguyễn Nam: Phiên dịch học lịch sử - văn hoá:
Trường hợp “Truyền kỳ mạn lục” (Nxb Đại học Quốc gia TP. Hồ Chí Minh,
2002, 474 trang); Vũ Thanh: Chương VI- Truyền kỳ mạn lục, trong sách Truyện
ngắn Việt Nam: Lịch sử - Thi pháp – Chân dung (Nxb. Giáo dục, H., 2007,
tr.172-215; Trần Nho Thìn: Truyền kỳ mạn lục, trong sách Văn học Việt Nam từ
thế kỷ X đến hết thế kỷ XIX (Nxb. Giáo dục Việt Nam, H., 2012, tr.372-410)…
Cùng với các tác giả trên, nhà nghiên cứu Nguyễn Hữu Sơn cũng có một số bài
viết như: Đọc Phiên dịch học lịch sử - văn hóa: trường hợp Truyền kỳ mạn lục.
Tạp chí Văn học, số 1-2004, tr.123-126; Đọc Nghiên cứu so sánh tiểu thuyết
truyền kỳ Hàn Quốc - Trung Quốc - Việt Nam. Giáo dục và thời đại, số 15, ra
ngày 3-2-2005, tr.9; “Văn học sử Hàn Quốc - Từ cổ đại đến cuối thế kỷ XIX”.
Giáo dục và thời đại, số 47, ra ngày 20-4-2006, tr.9; Chuyện chức Phán sự đền
Tản Viên, trong sách Phân tích, bình giảng tác phẩm văn học 10 nâng cao
(Nguyễn Khắc Phi chủ biên). Nxb. Giáo dục, H., 2006, tr.155-159; So sánh
kiểu truyện “người lạc cõi tiên” trong văn học Việt Nam với tiểu thuyết Cửu

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn

7
vân mộng (Hàn Quốc). Nghiên cứu Văn học, số 6-2008, tr.78-86; Tác phẩm
Kim Ngao tân thoại của Hàn Quốc và quá trình tiếp nhận, nghiên cứu tại Việt
Nam, trong sách Thúc đẩy Hàn Quốc học ở Việt Nam. Nxb. Thế giới, H., 2010,
tr.199-211; Tác phẩm Truyền kỳ mạn lục – từ điểm nhìn văn học so sánh, bàn
về mối quan hệ giữa truyền thống và giáo lưu, hội nhập văn hóa, trong sách Kỷ
yếu Hội thảo Khoa học 50 năm Trường Đại học Vinh, Tập II, tháng 10-2009,
tr.105-210; Tương đồng mô hình cốt truyện dân gian và những sáng tạo trong
Truyền kỳ mạn lục của Nguyễn Dữ. Nghiên cứu văn học, số 1-2010, tr.30-40…
Lịch sử nghiên cứu của Truyền kỳ mạn lục đã hình thành lâu dài, nhiều
vấn đề cơ bản về nội dung và nghệ thuật đã được đề cập đến. Trong giai đoạn

lục từ khoảng năm 1986 đến nay, luận văn tiến hành thống kê và phân loại các
định hướng nghiên cứu và tiếp nhận tác phẩm. Đó là cơ sở khoa học chứng
minh cho những luận điểm mà chúng tôi sẽ trình bày trong luận văn của mình.
- Phương pháp phân tích
Luận văn vận dụng phương pháp này để phân tích cụ thể các cứ liệu đã
thống kê, từ đó đưa ra nhận xét cho các đặc điểm nêu ở luận điểm. Kết quả
thu được từ sự phân tích này sẽ là những luận cứ khảo chứng cho các luận
điểm mà chúng tôi đề xuất trong đề tài.
- Phương pháp tổng hợp và hệ thống
Bên cạnh việc thống kê, phân loại, phân tích, chúng tôi còn tiến hành so
sánh đối chiếu hoạt động tiếp nhận giữa Truyền kỳ mạn lục với một số tác
phẩm truyền kỳ xuất hiện ở các nước Trung Quốc, Hàn Quốc, Nhật Bản. Dựa
trên các sự phân tích còn có những thao tác tổng hợp, xem xét, đánh giá tác
phẩm trong hệ thống văn học trung đại.
Qua phân tích, so sánh, chúng tôi có điều kiện mở rộng nghiên cứu tiếp
nhận Truyền kỳ mạn lục không chỉ ở Việt Nam mà còn ở Trung Quốc, lục địa
Đài Loan, Nga, Hàn Quốc, Nhật Bản Mở rộng so sánh như vậy, chúng tôi hy
vọng sẽ có cái nhìn toàn diện hơn về tiếp nhận Truyền kỳ mạn lục ở Việt Nam và
trên thế giới.

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn

9
5. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
Với đề tài Tiếp nhận Truyền kỳ mạn lục của Nguyễn Dữ trong thời kì Đổi
mới, chúng tôi tiến hành tiếp cận trên một số vấn đề sau:
Chúng tôi đề cập một số nét cơ bản tình hình nghiên cứu lý thuyết tiếp
nhận tác phẩm Truyền kỳ mạn lục trên thế giới và ở Việt Nam thời kì Đổi mới
như thế nào? Và dựa vào những khái niệm cơ bản và tầm quan trọng của lý
thuyết tiếp nhận để thấy được giá trị đích thực cũng như vị trí của tác phẩm đối

chương như sau:
Chương 1- Lý thuyết tiếp nhận và những nhân tố tác động đến quá trình
tiếp nhận Truyền kỳ mạn lục
Chương 2- Các nhà Việt học ở nước ngoài tiếp nhận Truyền kỳ mạn lục
thời kỳ Đổi mới
Chương 3- Tiếp nhận Truyền kỳ mạn lục ở Việt Nam thời kỳ Đổi mới

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn

11
Chƣơng 1
LÝ THUYẾT TIẾP NHẬN VÀ NHỮNG NHÂN TỐ
TÁC ĐỘNG ĐẾN QUÁ TRÌNH TIẾP NHẬN TRUYỀN KÌ MẠN LỤC

1.1. Khái lƣợc về lý thuyết tiếp nhận
Tiếp nhận văn chương là hoạt động tiêu dùng, thưởng thức, phê bình
văn học của độc giả thuộc nhiều loại hình, nhiều trình độ khác nhau. Có sáng
tác văn học thì dĩ nhiên có tiếp nhận văn học và chính sự tiếp nhận văn học đã
tác động ngược trở lại sáng tác, khiến cho cả hai thực sự góp phần làm thỏa
mãn nhu cầu tinh thần, nhu cầu thẩm mỹ của con người trong cuộc sống
Theo Từ điển thuật ngữ văn học: Tiếp nhận văn học là quá trình chiếm

phẩm – Bạn đọc. Mối quan hệ giữa tác phẩm và bạn đọc đã từ rất lâu được
người ta ít nhiều đề cập. Hoạt động tiếp nhận chỉ thực sự được đặt ra một cách
có hệ thống từ khi văn học thành văn ra đời. Lý luận tiếp nhận văn chương theo
kiểu truyền thống quan niệm tiếp nhận văn chương ở hai dạng: tri âm và ký thác.
Tiếp nhận theo kiểu tri âm: Là tiếp nhận tác phẩm theo đúng ý đồ của tác
giả. Sự cắt nghĩa và hiểu tác phẩm ở người đọc trùng khít với ý định của tác giả
ký gởi vào tác phẩm từ giữa ý đồ tác giả, ý đồ của người lý giải nằm trong cùng
một vòng tròn đồng tâm. Tri âm là biểu hiện tột cùng của sự hiểu biết, cảm
thông lẫn nhau. Tiếp nhận theo kiểu này là tiếp nhận mang tính chủ quan,
người ta quan niệm rằng tác phẩm được viết là để dành riêng cho những người
sánh văn chương, có khả năng đi sâu tìm hiểu dụng tâm, dụng ý, nỗi lòng của
tác giả, chứ không phải viết ra cho đông đảo độc giả công chúng ngoài xã hội
thưởng thức, tiếp nhận. Quan điểm tiếp nhận theo kiểu tri âm đòi hỏi sự gặp gỡ,
đồng điệu tuyệt đối giữa người sáng tác và bạn đọc, nhưng trên thực tế việc này
rất khó khăn.
Tiếp nhận theo kiểu ký thác: Là sự tiếp nhận mà người đọc mượn tác
phẩm để biểu lộ nỗi lòng của mình đối với cuộc đời. Do đó, tác phẩm văn
chương được coi như là một phương tiện để người đọc giải bày tấm lòng, gửi
gắm những quan niệm nhân sinh, những cảm xúc về thế cuộc hoặc những vấn

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn

13
đề bức thiết của cuộc sống mà trong một chừng mực nào đó người đọc không
có điều kiện để nói ra một cách trực diện.
Tiếp nhận theo kiểu tri âm và ký thác gặp nhau ở tính đồng cảm giữa tác
phẩm và bạn đọc.
Với lý luận tiếp nhận, văn chương hiện đại thừa nhận tác phẩm văn
chương là một loại hàng hóa đặc thù. Đó là một loại hàng hóa tinh thần do nhà
văn sáng tạo nên nhằm thỏa mãn nhu cầu về đời sống của con người trong xã

cùng một tác phẩm.
Tiếp nhận văn học mang đậm dấu ấn chủ quan, gắn liến với thị hiếu, tình
cảm của mỗi người. Giá trị của tác phẩm không phải là cố cộng cách tiếp nhận
nó, có cách tiếp nhận đúng nhưng lại có cách tiếp nhận sai lệch. Trong các cách
tiếp nhận tác phẩm có chỗ đúng, chỗ sai nhưng không có nghĩa là chỉ có một
cách tiếp nhận nào đó là duy nhất đúng. Một tác phẩm có thể có nhiều cách tiếp
nhận khác nhau và có thể đều tỏ ra hợp lý, điều này gắn với sự đa nghĩa của tác
phẩm văn học.
Vấn đề lý luận tiếp nhận đã gây được sự chú ý của giới nghiên cứu phê
bình. Đã có những bài nhiên cứu về vấn đề này xuất hiện trên các báo, tạp chí:
Năm 1974, trên Tạp chí Văn học số 4, Nguyễn Văn Hạnh đã đề cập vấn đề này
như một “khâu thường thức”. Năm 1980, Hoàng Trinh tìm hiểu vấn đề tiếp
nhận văn học trong mối quan hệ với văn học so sánh. Ông đã đưa ra các „hình
thái” và “cấp độ tiếp nhận” (Tạp chí Văn học, số 4/1980).
Ở nước ta khi mà giáo trình Lý luận văn học đã có bài “Tiếp nhận văn
học” thì công chúng tiếp nhận văn học từ năm 1986 trở về đây đã khác so với
công chúng tiếp nhận văn học trước năm 1985 rất nhiều. Người ta không còn
đến với tác phẩm văn học như là đến với bản sao của hiện thực để xem các
nhân vật trong tác phẩm có giống ngoài hiện thực, “ngang tầm” với hiện thực
hay không, mà chủ yếu để xem tác phẩm văn học nói gì về hiện thực, có tư
tưởng gì mới về hiện thực.

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn

15
1.2. Tiếp nhận Truyền kỳ mạn lục từ cơ sở lịch sử - văn hóa
Chế độ phong kiến Việt Nam thời Lê sơ hưng thịnh suốt thế kỷ XV và
đạt đến đỉnh cao vào thời Lê Thánh Tông. Nhưng, bước sang thế kỷ XVI và
tiếp đến thế kỷ XVII, nó bắt đầu khủng hoảng và rơi vào tình trạng suy thoái.
Đến năm 1527, nhà Mạc thay thế nhà Lê vẫn tiếp tục giương cao ngọn cờ Nho

nguyện vọng được sống trong hoà bình, ổn định của nhân dân cũng được phản
ánh trong tư tưởng của các nhà Nho đương thời, thể hiện ở những quan điểm về
đức trị, về nhân nghĩa. Trong Truyền kỳ mạn lục, Nguyễn Dữ viết: “Kẻ làm vua
chúa nên lấy sự chính lòng mình để làm gốc chính triều đình, chính trăm quan,
chính muôn dân” (Câu chuyện đối đáp của người tiều phu ở núi Na).
Việc tiếp nhận Truyền kỳ mạn lục cũng diễn ra trong quy luật như sáng
tạo trong một từ trường lịch sử - văn hóa thống nhất và có chung một quan
niệm về nghệ thuật và con người, về vai trò của nhà văn trong hoàn cảnh đất
nước lúc bấy giờ. Sự chi phối của các hệ tư tưởng như là nhà nho, những trí
thức đầu thế kỉ XX, quan niệm văn học vô sản và những tư tưởng của thời Đổi
mới cũng phần nào ảnh hưởng đến sự tiếp nhận tác phẩm.
Tư tưởng chủ đạo của Nguyễn Dữ trong tác phẩm là tư tưởng Nho gia.
Nhà văn phơi bày những cái xấu xa của xã hội là để cổ vũ thuần phong mỹ tục
xuất phát từ ý thức bảo vệ chế độ phong kiến, phủ định triều đại mục nát đương
thời để khẳng định một vương triều lý tưởng khác trong tương lai, phê phán
bọn vua quan tàn bạo để ca ngợi thánh quân hiền thần, trừng phạt bọn người
gian ác, xiểm nịnh, dâm tà, để biểu dương những gương tiết nghĩa, nhân hậu,
thủy chung. Tuy nhiên Truyền kỳ mạn lục không chỉ thể hiện tư tưởng nhà Nho,
mà còn thể hiện sự dao động của tư tưởng ấy trước sự rạn nứt của ý thức hệ
phong kiến.
Theo quan điểm Nho giáo thì tiêu chuẩn để làm người phụ nữ (người vợ,
người mẹ) mẫu mực của Nho giáo là “công, dung, ngôn, hạnh”, chữ “dung”
nhà Nho đem “dung” để đối lập với “sắc”. Nữ dung không phải là làm cho đẹp,

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn

17
giữ sắc đẹp, mà là giữ cho nét mặt luôn dịu dàng, thùy mị, không kiêu kì. Trong
Truyền kỳ mạn lục, sắc đẹp của người phụ nữ được miêu tả theo hai hướng, một
là người một phụ nữ có sắc đẹp nhưng lại là yêu ma, quỷ quái, tinh của các loài

về với Phật giáo.
Phật giáo, Nho giáo, Đạo giáo du nhập vào nước ta từ lâu, và đã tác động
không nhỏ đến đời sống văn hóa xã hội trong dân ta từ bao đời nay. Đạo giáo
tuy không ảnh hưởng sâu sắc như Phật giáo và Nho giáo, nhưng nó cũng đã để
lại đến ngày nay không ít những đạo quán, những địa danh, mang ý nghĩa Đạo
giáo, những đạo sĩ được thờ phụng.
Đạo giáo là một hiện tượng tôn giáo hết sức phức tạp. Nó không hiện rõ
ra một thuyết lý về sáng thế và cứu thế, con người từ đâu mà ra, con người chết
đi về đâu. Mà hoạt động của Đạo giáo lại phù phép, bùa chú, luyện đan cầu
trường sinh bất tử. Khi du nhập vào nước ta kết hợp với pháp thuật, ma thuật
trong tín ngưỡng thần linh bản địa, lại lồng vào trong đó không ít những yếu tố
Phật giáo. Trong Chuyện cây gạo, Chuyện yêu quái ở Xương Giang đạo sĩ ra
tay cứu giúp người dân bằng pháp thuật, lá bùa loại trừ yêu ma gây nhiễu loạn
cuộc sống bình an của nhân dân.
Theo nghiên cứu của Nguyễn Đăng Na, văn xuôi tự sự Việt Nam phát
triển theo ba xu hướng chính:
Một là, sưu tầm, ghi chép, cải biên truyện dân gian, gọi tắt là xu hướng
dân gian. Mở đầu cho thời kỳ này là tác phẩm Lĩnh Nam chích quái của Trần
Thế Pháp (cuối thế kỷ XIV), các câu chuyện được dựa trên sự phát triển của
dân tộc Việt Nam từ xưa với nguồn gốc, quá trình chinh phục tự nhiên, mở
mang bờ cõi, đánh giặc giữ nước… Và sau đó được các tác giả về sau tiếp tục
bảo lưu, sưu tập thêm hoặc có những cải biên. Đối với Lê Thánh Tông và
Nguyễn Dữ, hai tác giả dựa trên các mô típ của truyện dân gian từ thế kỷ X –
XIV, đến thế kỷ XV – XVI như: “vợ bị cướp”, “lấy vợ kỳ dị” (ma, tinh các loài

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn

19
vật, tiên…), “phép thần phù trợ”, “gặp gỡ người chết”, “thăm địa phủ”, “xuống
thủy cung”… mà tạo nên những truyện mới, mang tính thời sự của xã hội.


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status