Ngành tin học văn phòng
Phần I
Một số hình ảnh về Dù trữ Quốc
gia khu vực Hà Nội
1
Ngành tin học văn phòng
I. Giới thiệu chung về Dự trữ quốc gia khu vực Hà Nội:
1. Tổ chức quản lý và hoạt động của cơ quan:
Dự trữ Quốc gia khu vực Hà Nội (điện thoại: 8643317) có trụ sở tại
36/1 Phan Đỡnh Giút - Phường Phương Liệt - Quận Thanh Xuân - Hà Nội
thuộc Cục Dự trữ Quốc gia được thành lập tháng 8 năm 1956. Toàn bộ cơ
quan có diện tích khoảng 3500 m
2
nằm đối diện với công ty Hoá chất mỏ.
Nội dung hoạt động chính của cơ quan bao gồm:
- Dù trữ các loại hàng hoá của quốc gia như:
+ Các loại lương thực, thực phẩm như gạo, đường.
+ Các loại thuốc men.
+ Sắt, thép và các loại kim loại quý
+ Các mặt hàng cần thiết khác.
- Quản lý và bảo quản các mặt hàng dự trữ quốc gia luôn đảm bảo an
toàn về chất lượng và số lượng.
- Đồng thời phân phối, cứu hộ và cứu nạn các mặt hàng cho các đơn vị
khi cần thiết: phũng ngừa, khắc phục các hậu quả do thiên tai, hạn hán hay lũ
lụt
Trong hoạt động phát triển, do quy mô và yêu cầu nhiệm vụ quản lý
khác nhau nên không có sự đồng nhất về cơ cấu tổ chứ cho tất cả các cơ quan
mà mỗi cơ quan đều có mô hình quản lý riêng. Tại Dự trữ Quốc gia khu vực
Hà Nội, cơ cấu bộ máy tổ chức được thiết lập theo mô hình trực tuyến tham
mưu. Dự trữ Quốc gia khu vực Hà Nội có khoảng hơn một trăm nhân viên
(kể cả giám đốc) được bố trí thành 5 phòng ban cụ thể như sau:
- Phòng kế hoạch: chịu trách nhiệm xây dựng kế hoạch sử dụng, lưu
trữ và bảo quản hàng hoá, mua bán chuẩn bị vật tư cho phù hợp với yêu cầu
của công việc.
- Phòng kỹ thuật: kiểm tra các loại thiết bị và chất lượng các loại
lương thực, thực phẩm, hàng hoá và các loại thuốc men.
- Phòng kế toán: thực hiện các nghiệp vụ về hạch toán kế toán, phân
bổ tiền lương, tiền thưởng của cơ quan thực hiện các chế độ theo Bộ luật lao
động.
- Phòng thí nghiệm: thực hiện việc nghiên cứu và kiểm tra về mặt chất
lượng, mặt kỹ thuật của các thiết bị máy móc và các loại lương thực, thực
phẩm
Nhìn chung tất cả nhân viên trong cơ quan đều rất chan hoà, thân
thiện với nhau tạo được những mối quan hệ tốt đẹp trong công việc ở cơ
quan và ngoài cơ quan. Tất cả mọi người tạo thành một khối đoàn kết thống
nhất vì lợi Ých chung của cơ quan, cùng nhau đưa Dự trữ Quốc gia khu vực
Hà Nội ngày càng phát triển. Từ người lãnh đạo trở xuống các nhân viên đều
nhiệt tình với công việc và luôn hoàn thành tốt nhiệm vụ được giao.
2. Cơ sở vật chất của công ty:
Trong công tác văn phòng, cơ sở vật chất đóng vai trò rất quan trọng,
bởi nú chớnh là việc cung cấp những tiện nghi góp phần thực hiện tốt công
việc quản lý và làm việc của cơ quan. Hầu hết cỏc phũng ban trong cơ quan
đều có đầy đủ máy vi tính, máy in và hệ thống điện thoại, máy fax phục vụ
tích cực cho hoạt động làm việc của cơ quan. Mỗi phòng được bố trí tối thiểu
một máy vi tính cùng với hệ thống điện thoại và các phương tiện làm việc
hiện đại tạo cho mọi người không khí thoải mái khi làm việc, từ đó làm việc
hiệu quả và tạo được năng suất lao động cao hơn. Với một cơ sở vật chất đầy
4
Ngành tin học văn phòng
đủ, hiện đại và quy mô như trên, tất cả cán bộ, nhân viên trong cơ quan đã và
đang hoạt động, lao động rất tích cực, góp phần nâng cao hơn nữa hiệu quả
- Cán sự: quản lý các hoạt động của xe và lái xe, quản lý lịch trực lễ
Tết của các đơn vị trực thuộc và quản lý tài sản, trang thiết bị, phương tiện
vật chất kỹ thuật của toàn Văn phòng cơ quan.
- Chuyên viên thứ nhất: quản lý tổ bảo vệ
- Chuyên viên thứ hai: thực hiện các chức năng, nhiệm vụ, trách nhiệm
của cán bộ văn thư lưu trữ. Quản lý toàn bé con dấu, tiếp nhận, bảo quản và
chuyển công văn đảm bảo kịp thời đúng quy định của Nhà nước, của ngành
và của đơn vị về bảo mật.
- Hai lái xe: có trách nhiệm lái xe phục vụ giám đốc và cỏc phũng ban
trong cơ quan, quản lý và bảo dưỡng xe.
- Bèn nhân viên thường trực, bảo vệ: làm tốt công tác thường trực,
phát báo cho cỏc phũng ban và trực điện thoại.
- Nhân viên phục vụ: có trách nhiệm bảo đảm vệ sinh của cỏc phũng
ban và cỏc phũng công cộng.
Tổ chức của phòng rất khoa học và hợp lý, đảm bảo cho hoạt động
của phòng đạt được hiệu quả cao.
2. Hoạt động chính của phòng:
Phòng Tổ chức Hành chính là một bộ phận không thể thiếu trong công
tác quản lý của Dự trữ Quốc gia khu vực Hà Nội. Phũng cú nhiệm vụ và
chức năng:
- Quản lý hồ sơ cán bộ và các văn bản có liên quan đến công tác tổ
chức, cán bộ.
- Quản lý và thực hiện công tác thanh tra, kiểm tra trong nội bộ đơn vị,
tổ chức công tác tiếp dân, giải quyết khiếu nại, tố cáo theo quy định của phát
luật.
6
Ngành tin học văn phòng
- Đề bạt cán bộ, đào tạo bồi dưỡng cán bộ (đào tạo nguồn nhân lực của
cơ quan kể cả công tác tuyển dụng nếu có).
- Quản lý, theo dõi và thực hiện các công tác liên quan đến nghiệp vụ
Khi nghe và nhận điện thoại ta phải hết sức chú ý đến lời nói và nội
dung của cuộc gọi. Khi nhấc máy trả lời điện thoại, câu đầu tiên em nói là:
“Alụ, Dự trữ Quốc gia khu vực Hà Nội xin nghe! ”
- Nếu người gọi đến yêu cầu được gặp một trong số những nhân viên
trong cơ quan mà người đó có mặt em sẽ trả lời:
“Xin cụ (chỳ) vui lòng chờ một chút.”
Và chuyển máy đến cho người đó. Khi chuyển máy chú ý che đầu ống nghe
lại để tránh trường hợp đầu dây bên kia có thể nghe được.
- Nếu người nhận điện thoại không có mặt ở cơ quan lúc đó, em sẽ trả
lời:
“Dạ hiện nay cụ (chỳ) B đang đi vắng, cụ (chỳ) có cần nhắn gỡ
khụng ạ? ” hoặc “Xin cụ (chỳ) vui lòng gọi lại sau ạ? ”.
Nếu có thể hỏi thờm tờn, điện thoại để người vắng mặt liên lạc lại sau. Sau
khi người gọi chủ động ngừng cuộc gọi, phải nhớ ghi vào sổ trực điện thoại
với nội dung sau:
TT Tên người gọi Địa chỉ Số điện thoại Tên người nhận Ghi chó
1
2
3
b) Một số lưu ý khi trực điện thoại:
Khi trực điện thoại ta phải chú ý đến một số điều sau để có thể hiểu và
truyền đạt lại thông tin một cách chính xác và đạt được kết quả giao tiếp tốt
nhất:
- Phải chuẩn bị sẵn giấy bót để ghi lại các lời nhắn, các cuộc hẹn gặp.
Phải xưng hô rõ ràng khi nhấc máy.
9
Ngành tin học văn phòng
- Phải chú ý đến nội dung lời nói của người gọi, trả lời chính xác câu
hỏi của người gọi.
- Nên có lời nói lịch sự, nhẹ nhàng và thái độ vui vẻ khi trả lời điện
quan
Số và
ký
hiệu
văn
Ngày
tháng
văn
bản
Tên
loại
Trích
yếu
nội
dung
Ký
nhận
Ghi
chó
10
Ngành tin học văn phòng
bản
1
2
3
- Sắp xếp công văn cẩn thận theo ngày, tháng và đựng trong cặp tài
liệu riêng.
b) Quản lý văn bản đi:
Văn bản chuyển đi phải được đăng ký trong sổ theo mẫu sau:
STT
để gửi đi bưu điện.
- Văn bản đi được giữ lại hai bản, một lưu ở phòng Tổ chức Hành
chính tổng hợp để lập hồ sơ công việc, một bản lưu ở bộ phận văn thư để
phục vụ cho việc tra cứu và sử dụng.
3. Đánh máy văn bản:
Trong thời gian thực tập tại cơ quan, ngoài việc trực điện thoại và
quản lý văn bản thì soạn thảo văn bản là một công việc mà em thường xuyên
được giao trong ngày. Văn bản phải được trình bày theo đúng thể thức quy
định của các văn bản quản lý nhà nước và các yếu tố:
- Tiêu đề: bao gồm quốc hiệu và tiêu ngữ, đặt ở vị trí trên đầu trang
thứ nhất của văn bản, viết bằng kiểu chữ VnTimeH và VnTime, cỡ chữ 13,
đậm.
Vớ dô:
CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Độc lập – Tù do – Hạnh phóc
11
Ngành tin học văn phòng
- Tác giả văn bản: là tên cơ quan ban hành văn bản, vị trí ở gúc trỏi
cựng trang đầu văn bản, viết bằng kiểu chữ VnTimeH, cỡ chữ 13, đậm. Tác
giả văn bản thể hiện văn bản đó của cơ quan nào, vị trí của cơ quan đó trong
hệ thống cơ quan nhà nước.
Vớ dô:
DỰ TRỮ QUỐC GIA KHU VỰC HÀ NỘI
- Số và ký hiệu:
+ Sè văn bản: là số thứ tự văn bản trong năm.
+ Ký hiệu văn bản: là chữ viết tắt tên loại văn bản và tên cơ
quan ban hành văn bản.
+ Sè và ký hiệu được viết ở dưới tác giả văn bản, viết bằng kiểu
bằng kiểu chữ VnTime, cỡ chữ 12, đậm.
Vớ dô:
Nơi nhận: Nơi nhận:
- Chữ ký: bao gồm chữ ký tắt của người chịu trách nhiệm về thể thức
văn bản và chữ ký chính thức của người có thẩm quyền. Khi ký phải ký bằng
bót mực, không nên ký bằng bót bi, bút chỡ. Chữ ký phải được ký ở góc
phải, dưới nội dung văn bản và ngang với nơi nhận.
- Đóng dấu: dấu thể hiện tính pháp lý của văn bản. Dấu đúng trựm lờn
1/4 chữ ký từ phía bên trái và chỉ đóng dấu khi có chữ ký của người có thẩm
quyền, dưới ký hiệu và số của văn bản hoặc dưới trích yếu đối với văn bản,
công văn không tên.
Với công việc soạn thảo văn bản, em đã áp dụng được các kiến thức về
Word, về trình bày văn bản và hoàn thành được công việc được giao. Và qua
13
Ngành tin học văn phòng
đó em cũng đã rót ra được một số yêu cầu đối với công tác soạn thảo văn
bản, đó là:
- Nội dung văn bản phải chính xác với chủ trương chính sách của
Đảng và nhà nước đã ban hành có đủ cơ sở lý luận và thực tiễn, có số liệu và
chứng cứ rõ ràng, có độ tin cậy cao và đảm bảo đúng đối tượng áp dụng.
- Văn bản phải đúng thể thức do nhà nước quy định, đảm bảo tính
pháp lý, hiệu lực thi hành. Văn bản ban hành phải đúng thẩm quyền mà nhà
nước giao cho cơ quan.
- Văn bản phải đảm bảo được tính bí mật về nội dung. Không để văn
bản lọt ra ngoài để người không có trách nhiệm biết được.
- Văn bản ban hành không trái với văn bản có tính pháp lý cao hơn,
văn bản cấp dưới khụng trỏi cấp trên đồng thời nội dung văn bản phải đảm
bảo sự bình đẳng về quyền lợi cho mọi người, không gây hại đến lợi Ých của
nhân dân.
4. Sử dụng mỏy Phụtụcopy:
dấu. Nếu cần phải sửa chữa, bổ xung văn thư sẽ sửa phù hợp với yêu cầu của
Giám đốc, của các cấp lãnh đạo. Việc sử dụng máy in đòi hỏi người làm việc
phải có những thao tác chính xác và nhanh gọn. Cần chú ý đến việc đặt giấy
sao cho thẳng và chế độ để mực của máy phải vừa đủ độ rõ nét. Cũng như
mỏy phụtụ, giấy để in văn bản yêu cầu phải được sấy khô, không bị nhăn
rách. Ngoài ra cần phải chú ý lau, bảo quản máy sạch sẽ và tắt máy ngay khi
dùng xong.
II. Đánh giá về hiệu quả công việc và bản thân:
1. Đánh giá về hiệu quả công việc.
Thời gian 10 tuần thực tập tại phòng Tổ chức Hành chính đối với em
thật bổ Ých. Em đã được làm quen với các công việc văn phòng, bên cạnh đó
là sự giúp đỡ rất nhiệt tình của cỏc cụ chỳ và các anh chị trong phòng, bước
đầu em đã thu được những kết quả rất khả quan và đã hoàn thanh tốt cỏc
cụng việc được mọi người trong phòng tin tưởng giao cho. Cụ thể là:
15
Ngành tin học văn phòng
- Đối việc nhận và trả lời điện thoại: đây là một công việc mới nghe
qua tưởng chõng là dễ, song em nhận thấy đây là công việc mà khó nhiều
hơn dễ. Bởi lẽ, khi trực và trả lời điện thoại là ta đang tiếp xúc (một cách
gián tiếp) với rất nhiều đối tượng khác nhau: nam có, nữ có, già có, trẻ
cú Vỡ vậy, ta cần phải có thái độ sao cho thích hợp với từng loại đối tượng,
từ cách xưng hô đến giọng nói Phải có giọng nói nhẹ nhàng, lịch sự, thông
tin phải ngắn gọn, rõ ràng, chính xác. Đối với công việc này em đó luụn tuân
thủ theo những nguyên tắc trên.
- Nắm được chu trình công việc của người văn thư. Công việc của một
người văn thư là khi nhận một công văn phải xem qua một lượt sau đó phân
loại rồi chuyển cho trưởng phòng hoặc trực tiếp chuyển cho cỏc phũng ban.
Xem và đóng dấu sau khi đã được thủ trưởng duyệt, văn thư đóng dấu đến và
vào sổ công văn đến. Cuối cùng phân cho cỏc phũng ban đã được trưởng
phòng duyệt.
Ngành tin học văn phòng
Phần III: chuyên đề
Nghệ thuật giao tiếp với khách hàng
1. Lý do chọn đề tài báo cáo:
18
Ngành tin học văn phòng
Tại các công sở, cơ quan hay xí nghiệp, giao tiếp ngày càng trở nên quan
trọng hơn, vỡ nú là một phần của sự tồn tại và phát triển của cơ quan trong
lĩnh vực sản xuất kinh doanh cũng như mọi hoạt động phát triển. Chóng ta
sẽ không thể làm việc được với nhau nếu không có sự giao tiếp, sự trao đổi
hay một bản hợp đồng, một đơn đặt hàng, một sự hợp tác chặt chẽ bền vững
sẽ không thể thực hiện hay thành công nếu thiếu giao tiếp. Đặc biệt đối với
công tác văn phòng nói chung và người thư ký văn phòng nói riêng thì giao
tiếp được coi là một điều kiện và yếu tố cần thiết cơ bản của mỗi người, là kỹ
năng hàng đầu của người làm việc trong văn phòng. Vì vậy nghiên cứu về
nghệ thuật giao tiếp, tìm hiểu tâm lý của người đối thoại và việc vận dụng
những kiến thức xã hội vào giao tiếp là điều vô cùng cần thiết và hữu Ých
cho nghề nghiệp của em trong tương lai. Bên cạnh đó qua đợt thực tập này
em càng nhận thức rõ vai trò của giao tiếp và ứng xử trong văn phòng. Đõy
chớnh là lý do em quyết định chọn đề tài: “ Nghệ thuật giao tiếp với khách
hàng”. Tại các công sở, cơ quan hay xí nghiệp, giao tiếp ngày càng trở
nên quan trọng hơn, vì nó là một phần của sự tồn tại và phát triển của cơ
quan trong lĩnh vực sản xuất kinh doanh cũng như mọi hoạt động phát triển.
Chúng ta sẽ không thể làm việc được với nhau nếu không có sự giao tiếp, sự
trao đổi hay một bản hợp đồng, một đơn đặt hàng, một sự hợp tác chặt chẽ
bền vững sẽ không thể thực hiện hay thành công nếu thiếu giao tiếp. Đặc biệt
đối với công tác văn phòng nói chung và người thư ký văn phòng nói riêng
thì giao tiếp được coi là một điều kiện và yếu tố cần thiết cơ bản của mỗi
người, là kỹ năng hàng đầu của người làm việc trong văn phòng. Vì vậy
nghiên cứu về nghệ thuật giao tiếp, tìm hiểu tâm lý của người đối thoại và
thù của quá trình trao đổi thông tin giữa hai bên giao tiếp với nhau.
- Tác động qua lại giữa hai bên: có nhiều kiểu tác động lẫn nhau giữa
con người trong quá trình giao tiếp, mà trước hết đó là sự hợp tác và sự cạnh
tranh. Tương ứng với chúng là sự đồng tình hay xung đột.
20
Ngành tin học văn phòng
- Khía cạnh tri giác: bao gồm quá trình hình thành hình ảnh về người
khác, xác định được các đặc điểm hành vi của người đó thông qua các biểu
hiện bên ngoài.
2. Các phương tiện giao tiếp:
Trong quá trình giao tiếp, chúng ta phải sử dụng những phương tiện
giao tiếp. Phương tiện giao tiếp là tất cả những yếu tố mà chúng ta dùng để
thể hiện thái độ, tình cảm, mối quan hệ và những yếu tố tâm lý khác của
mình trong một cuộc giao tiếp.
Phương tiện giao tiếp hết sức phong phú và đa dạng, nhưng chúng ta
có thể chia chóng ra thành hai nhúm chớnh: Ngôn ngữ và phi ngôn ngữ.
- - Phương tiện giao tiếp ngôn ngữ bao gồm:
+ Nội dung ngôn ngữ: đó là ý nghĩa của một từ, một câu hay một tập
hợp từ.
Ví dụ: mỗi cá nhân hay mỗi nhóm người đến từ những địa phương hay
dõn tộc khác nhau sẽ có những sắc thái riêng trong cách sử dụng ngôn ngữ.
Ở Việt Nam, điều này được thể hiện rõ ràng giữa người miền Bắc và người
miền Nam – Người miền Bắc thì gọi là bạn trong khi người miền Nam lại gọi
là bồ hay người miền Nam nói “Mời anh xơi cơm” còn người miền Bắc lại
nói “Mời anh ăn cơm”.
+ Tính chất của ngôn ngữ: đú chớnh là nhịp điệu, âm điệu và ngữ điệu
của ngôn ngữ.
Ví dụ: lời nói có được rõ ràng khúc triết hay không phụ thuộc nhiều
vào cách nhấn giọng. Nhờ cách nhấn giọng, người nói có thể làm cho người
nghe chó ý đến những lời nói và cử chỉ của mình. Tuy nhiên muốn nhấn
hoạt động của con người, trong đó các đối tượng của giao tiếp trực tiếp gặp
gỡ nhau và thường dùng ngôn ngữ nói và biểu cảm để truyền cho nhau
những ý nghĩ và tình cảm của mình.
- Giao tiếp gián tiếp: là giao tiếp thông qua một phương tiện trung gian
khác như thư từ, sách báo, điện thoại, truyền hình
22
Ngành tin học văn phòng
d. Dùa vào hình thức của giao tiếp:
- Giao tiếp chính thức: là giao tiếp có sự Ên định theo pháp luật, theo
mét quy trình được các tổ chức thừa nhận như hội họp, mít tinh, đàm phán
- Giao tiếp không chính thức: là giao tiếp không tuân theo sù quy định
nào cả, mà mang nặng tính cá nhân như giao tiếp giữa bạn bè với nhau
e. Dùa vào thái độ và sách lược giao tiếp:
- Giao tiếp kiểu Thắng - Thắng: trong kiểu giao tiếp này mọi người
luôn mong muốn tìm kiếm lợi Ých chung, làm cho các bên tham gia giao tiếp
đều thoả mãn nhu cầu của mình.
- Giao tiếp kiểu Thắng - Thua: mục đích chủ yếu của cuộc giao tiếp
này là làm sao cố gắng đè bẹp đối phương bằng mọi cách.
- Giao tiếp kiểu Thua - Thắng: với kiểu giao tiếp này, người ta vội
vàng làm hài lòng hoặc nhân nhượng vô nguyên tắc miễn làm sao giữ được
mối quan hệ tốt đẹp.
- Giao tiếp kiểu Thua - Thua: hình thức này sẽ xảy ra khi hai bên đều
cố tình chọn kiểu Thắng - Thua để giao tiếp.
- Giao tiếp kiểu Thắng - Thắng hoặc Không hợp đồng: là kiểu giao
tiếp mà trong đó nếu hai bên không đưa ra được giải pháp có lợi cho cả hai
thì thà là không hợp tác, bởi thế còn tốt hơn là thực hiện một giải pháp chỉ có
lợi cho một bên.
CHƯƠNG II
Giao tiếp với khách hàng
1. Giao tiếp với khách hàng tại công ty:
vào hoạt động của cơ quan. Vì vậy khi giao tiếp với khách hàng ta phải bảo
đảm các yếu tố sau: Vì vậy, để thu hút được khách hàng đến với doanh
nghiệp thì kế hoạch giao tiếp với khách hàng phải được nghiên cứu rất tỉ mỉ,
phải đạt được những mục đích như: tìm hiểu nhu cầu, thị hiếu của người tiêu
dùng để kịp thời thoả mãn. Đồng thời thông qua dư luận của khách hàng mà
cải tiến sản phẩm, phương thức bán hàng, giao hàng hợp lý, thông tin cho
24
Ngành tin học văn phòng
khách hàng về những sản phẩm mới khơi dậy những nhu cầu tiền Èn của họ.
Bên cạnh đó tâm lý khi giao tiếp với khách hàng cũng đóng một vai trò vô
cùng quan trọng. Chúng ta phải gạt bỏ những tâm lý sợ sệt, phải bình tĩnh, tự
tin thể hiện khả năng giao tiếp của mình. Qua đợt thực tập tại Dự trữ Quốc
gia khu vực Hà Nội, đặc biệt là mỗi lần có khách đến thăm cơ quan và phòng
Tổ chức Hành chính, em đã nhận thấy rõ việc thể hiện tốt các kỹ năng,
nguyên tắc khi giao tiếp, ứng xử với khách hàng là rất cần thiết bởi nó đóng
vai trò quyết định vào hoạt động của cơ quan. Vì vậy khi giao tiếp với khách
hàng ta phải bảo đảm các yếu tố sau:
a. Khả năng diễn thuyết:
Đây là một khả năng rất quan trọng, bởi chính là khả năng để diễn giải
và thuyết phục người đối thoại với mình tập chung chó ý vào một vấn đề
đang đề cập, giúp họ tin tưởng, hưởng ứng và đồng tình với vấn đề đó. Cùng
một vấn đề song mỗi người lại có một cách biểu đạt riêng, có thể người này
thể hiện nó rất đơn giản và bình thường thì người khác lại biến nó thành một
vấn đề rất hấp dẫn và khiến mọi người quan tâm. Đõy chớnh là nghệ thuật
trong diễn thuyết. Vì vậy trước khi diễn thuyết chúng ta phải làm rừ các vấn
đề sau:
- Thứ nhất là “Ai ?”: tức là làm rõ vai trò của mình để từ đó có cách
ứng xử phù hợp.
Ví dụ: nếu bạn là người đại diện cho công ty để giới thiệu và bán sản
phẩm của công ty mình cho khách hàng thì phải tập chung sự chú ý của