skkn ứng dụng công nghệ thông tin trong giảng dạy - Pdf 13

Đề tài: ứng dụng CNTT trong dạy học
A. Đặt vấn đề
Ngày nay, khi công nghệ thông tin càng phát triển thì việc phát
ứng dụng công nghệ thông tin vào tất cả các lĩnh vực là một điều tất
yếu. Trong lĩnh vực giáo dục đào tạo, CNTT bớc đầu đã đợc ứng dụng
trong công tác quản lý, một số nơi đã đa tin học vào giảng dạy, học tập.
Tuy nhiên, so với nhu cầu thực tiễn hiện nay, việc ứng dụng CNTT
trong giáo dục ở các trờng nớc ta còn rất hạn chế. Chúng ta cần phải
nhanh chóng nâng cao chất lợng, nghiệp vụ giảng dạy, nghiệp vụ quản
lý, chúng ta không nên từ chối những gì có sẵn mà lĩnh vực CNTT
mang lại, chúng ta nên biết cách tận dụng nó, biến nó thành công cụ
hiệu quả cho công việc của mình,mục đích của mình.
Hơn nữa, đối với giáo dục và đào tạo, công nghệ hông tin có tác
dụng mạnh mẽ, làm thay đổi nội dung, phơng pháp dạy và học. CNTT
là phơng tiện để tiến tới xã hội học tập. Mặt khác, giaó dục và đào
tạo đóng vai trò quan trọng thúc đẩy sự phát triển của CNTT thông qua
việc cung cấp nguồn nhân lực cho CNTT. Bộ giáo dục và đào tạo cũng
yêu cầu đẩy mạnh ứng dụng CNTT trong giáo dục đào tạo ở tất cả các
cấp học, bậc học, ngành học theo hớng dẫn học CNTT nh là một công
cụ hỗ trợ đắc lực nhất cho đổi mới phơng pháp dạy học ở các môn.
Thực hiện tinh thần chỉ đạo trên của bộ giáo dục và của sở giáo
dục và đào tạo, nhận thức đợc rằng, việc ứng dụng CNTT phục vụ cho
việc đổi mới phơng pháp dạy học là một trong những hớng tích cực
nhất, hiệu quả nhất trong việc đổi mới phơng pháp dạy học và chắc
chắn sẽ đợc sử dụng rộng rãi trong nhà trờng phổ thông trong một vài
năm tới, tôi đã mạnh rạn học tập và đa CNTT vào giảng dạy 5 năm nay.
Nhng làm thế nào để ứng dụng CNTT hiệu quả trong các tiết dạy
đó là vấn đề mà bất cứ một môn học nào cũng gặp phải khi có ý định
đa CNTT vào giảng dạy. Trong bản sáng kiến này, tôi sẽ đa ra những ý
kiến, kinh nghiệm của cá nhân mình, cũng nh một số tiết dạy tôi đã thử
nghiệm trong các năm học vừa qua để cùng các bạn đồng nghiệp thảo

công tác giảng dạy chỉ đợc áp dụng trong các tình huống này.
GV: Hải Phòng
2
Đề tài: ứng dụng CNTT trong dạy học
II. Yêu cầu cần thiết để làm giáo án điện tử
Mặc dù giáo án điện tử (GAĐT) cha đợc các trờng học đón nhận
rộng rãi, cha thực sự phổ biến, nhng bớc đầu nó đã tạo ra một không
khí học tập và làm việc khác hẳn cách học và cách giảng dạy truyền
thống. Phải chăng việc dạy bằng giáo án điện tử sẽ giúp ngời thầy đỡ
vất vả bởi vì chỉ cần click chuột? Thực ra, muốn click chuột để tiết
dạy thực sự hiệu quả thì ngời dạy cũng phải chịu bỏ công tìm hiểu, làm
quen với cách giảng bài mới này. Cụ thể, ngời thầy cần phải:
- Có một ít kiến thức về sử dụng máy tính.
- Biết sử dụng phần mềm trình diễn PowerPoint.
- Biết cách truy cập Internet.
- Có khả năng sử dụng một phần mềm chỉnh sửa ảnh, làm các ảnh
động, cắt các file âm thanh.
- Biết cách sử dụng projector.
Thoạt nghe thì có vẻ phức tạp nhng thực sự muốn ứng dụng CNTT
vào giảng dạy có bắt buộc phải thực hiện hết những yêu cầu trên? Câu
trả lời là không. Tuỳ thuộc vào tính chất của mỗi môn học mà các yêu
cầu khác nhau đợc đặt ra cho các giáo viên. Tuy nhiên nếu đáp ứng đợc
các nhu cầu trên thì thật tuyệt vời.
Tại sao tôi lại đặt ra các yêu cầu nh trên? Chúng ta thử tởng tợng
xem nếu một ngời không có khái niệm gì về CNTT liệu họ có bật máy
tính lên và chọn cho mình một chơng trình làm việc? Liệu họ có biết đ-
ợc tài liệu của mình ở đâu trên máy tính? Cách copy tài liệu từ nơi này
sang nơi khác hay xoá một tài liệu nào đó khi không còn dùng?
Nghĩa là dù ít hay nhiều họ cũng phải sử dụng đợc chiếc máy tính theo
ý muốn của mình.

- Hãy quan sát trên màn hình
- Trang giấy, mặt bảng, mặt bàn là những hình ảnh của mặt phẳng.
H:Nêu 1 vài hình ảnh của mặt phẳng?(Quan sát trên màn hình rồi trả lời câu hỏi)
H: Mặt phẳng có bị giới hạn không?
H: Đờng thẳng a trên mặt bảng chia mặt bảng thành mấy phần? - >2phần
GV: Mỗi phần ấy và đờng thẳng a tạo thành một hình mới gọi là nửa mặt
phẳng bờ a.H: Thế nào là nửa mặt phẳng bờ a? -> Vào bài
GV: Hải Phòng
4
Đề tài: ứng dụng CNTT trong dạy học
Tiết 15: Nửa mặt phẳng
3. Phát triển bài:
Hoạt động của thầy Hoạt động của trò Ghi bảng
H: Thế nào là nửa mặt
phẳng bờ a?
GV: Đó là K/N SGK/72
GV: Nửa mặt phẳng phía
trên gọi là nửa mặt
phẳng (I), nửa phía dới
gọi là nửa mặt phẳng (II)
H: Nửa mặt phẳng (I)và
nửa mặt phẳng (II) có
phần nào chung?
GV: Ngời ta gọi chúng là
2 nửa mặt phẳng đối
nhau
H: Thế nào là 2 nửa mặt
phẳng đối nhau?
GV: Đó là chú ý SGK/72
-Quan sát:

là nửa mặt phẳng đối của
(I)
- Nửa mặt phẳng (I) gọi
là nửa mặt phẳng bờ a
chứa điểm N, nửa mặt
phẳng (II) gọi là nửa mặt
phẳng bờ a không chứa
điểm N.
1.Nửa mặt phẳng bờ a:
*Khái niệm: SGK/72
*Chú ý: SGK/72
GV: Hải Phòng
(II)
(I)
M
P
(I)
(II)
a
N
5
a
Đề tài: ứng dụng CNTT trong dạy học
Hoạt động của thầy Hoạt động của trò Ghi bảng
H: 2 điểm M, N cùng
thuộc nửa mặt phẳng
nào?
GV: Ta nói hai điểm
M,N nằm cùng phía đối
với đờng thẳng a.

thuộc nửa mặt phẳng (I)
- Hai điểm M và P
không nằm cùng phía
đối với đờng thẳng a vì
M(I), P(II)
- Đọc ?1/b
- H/s tự nối
- Trả lời
.
- Đọc đề bài
- 3 HS lên bảng vẽ hình
HS khác vẽ vào vở.
GV: Hải Phòng
6
Đề tài: ứng dụng CNTT trong dạy học
Hoạt động của thầy Hoạt động của trò Ghi bảng
GV: Hải Phòng
O
x
z
y
M
N
y
z
x
M
N
Hình a
O

giữa 2 tia Ox và Oy
không?
GV: cho HS hoạt động
nhóm cử đại diện nhóm
lên trình bầy.
- Tia Oz có cắt đoạn
thẳng MN
- Khi tia Oz cắt đoạn
thẳng MN tại 1 ểm nằm
giữa Mvà N
-Hình b) Tia Oz có cắt
đoạn thẳng MN
Tia Oz nằm giữa 2 tia
Ox và Oy
-Hình c) hình d) Tia Oz
không cắt đoạn thẳng
MN
Tia Oz không nằm giữa
2 tia Ox và Oy.
2. Tia nằm giữa hai tia:
SGK/72
M

Ox, N

Oy
(MO,NO)
Nếu tia Oz cắt đoạn thẳng
MN tại 1 điểm nằm giữa
Mvà N thì tia Oz nằm giữa

12
39
6
(I)
(II)
10
Đề tài: ứng dụng CNTT trong dạy học
Coi 3 kim đồng hồ là 3 tia chung gốc.Trong các hình sau chỉ ra kim nào là tia
nằm giừa 2 tia còn lại? giải thích?
GV: Hải Phòng
12
39
6
M
N
11
§Ò tµi: “øng dông CNTT trong d¹y häc”
GV: ………………………… H¶i Phßng
12
39
6
M
N
12
Đề tài: ứng dụng CNTT trong dạy học
6.Về nhà:
Hớng dẫn bài 5/73 SGK
Ngoài những nội dung trên, hình ảnh minh họa đợc đa vào bài
giảng, thao tác cơ bản nhất đòi hỏi ngời thầy phải nắm đợc là cách thiết
lập các hiệu ứng để làm cho bài giảng sinh động, mang lại không khí

13
Đề tài: ứng dụng CNTT trong dạy học
cho các nội dung nói trên tơng đối nhiều trên Internet. Chúng tôi thiết
nghĩ, nếu chỉ cần bỏ chút thời gian mà có đợc những nội dung, hình
ảnh cần minh hoạ cho bài giảng thì ngời thầy nào cũng sẵn lòng cả.
Điều này cũng đồng nghĩa với việc giáo viên cần biết cách thức truy
cập Internet để lấy thông tin.Tuy nhiên, không phải hình ảnh nào
chúng ta lấy từ Internet đều thỏa mãn ý muốn của chúng ta. Chẳng
hạn, chúng ta cần hình ảnh của một hình lập phơng để minh họa trong
giờ học toán nhng hình ảnh chúng ta lấy từ internet lại quá nhỏ hay nó
lại nằm chung với một hình khác .Nh vậy chúng ta bó tay , không cần
minh họa hay vẽ lên bảng hay tìm một hình khác cho đến khi vừa ý?
Không, giải pháp đơn giản hơn là chúng ta có thể phóng to hình này
lên hay xén lại hình để chỉ lấy phần hình thoi. Hay để tăng thêm tính
thuyết phục, tính chất thực của các sự kiện , giáo viên dạy lịch sử có
thể thông qua các đoạn phim t liệu. Vậy chúng ta thực hiện các công
việc trên bằng cách nào? Điều này đòi hỏi giáo viên cần biết một ít kỹ
thuật để xử lý màu sắc, cắt xén ảnh, các đoạn phim, đoạn nhạc một
cách hợp lý . Hoặc trong giờ học ngoại ngữ, giáo viên có thể lấy các
hình ảnh minh họa và cho các em nghe các bài đọc của ngời bản xứ .
Có nh thế bài giảng sẽ sinh động hẳn, các em lại nhớ đợc các từ vựng
và phát âm chuẩn hơn. Có thể đây là thao tác tơng đôí phức tạp nhng
nó mang lại tính hiệu quả cao trong công tác giảng dạy .
Bài giảng sau khi thiết kế sẽ đợc trình chiếu lên màn hình thông
qua máy chiếu. Nghĩa là dù muốn hay không giáo viên buộc phải biết
cách sử dụng nó. Đây là một trong những yêu cầu bắt buộc đối với
giáo viên, chỉ cần một vài thao tác lắp máy chiếu với CPU của máy
tính và điều chỉnh độ lớn, độ nét trên màn hình giáo viên chắc hẳn sẽ
có một bài giảng chất lợng, học trò sẽ có không khí học thoải mái hơn.
Điều cuối cùng tôi muốn nói đến là nhờ các GAĐT mà các giáo

đề mình muốn trình bày dới dạng keyword một cách rõ ràng và dễ
hiểu. Nhìn vào slide giáo viên có nhiệm vụ giải thích kỹ càng và mở
rộng nó ra chứ không phải là đọc các dòng chữ trên slide. Nừu cha
quen với cách giảng dạy này, giáo viên có thể thấy khó khăn trong việc
xác định xem slide tiếp theo sẽ trình bày về vấn đề gì. Không sao, giáo
viên có thể in ra một bản handout để vừa giảng vừa nhìn vào nó để xác
định vấn đề sẽ nói tiếp theo.
Sử dụng GAĐT cũng có nghĩa giáo án truyền thống đợc lãng
quên. Chúng ta hãy nhìn lại xem trong giáo án truyền thống chúng ta
trình bày những gì? Phải chăng là tất cả nội dung bài giảng ? Vậy thì
đối với GAĐT chỉ gồm một số slide, các slide chỉ chứa keyword, hình
ảnh thì làm thế nào mà giáo viên có thể quan sát hết các vấn đề cần
đợc giảng? Phải chăng giáo viên thích nói nội dung nào trớc đều đợc?
Những nội dung cảm thấy thích thì tập trung nhiều thời gian vào và
giảm thời gian cho các nội dung còn lại? Liệu một giáo viên mới có thể
nhớ hết nội dung mình đã chuẩn bị trớc buổi dạy? Chỉ cần chúng ta
xây dựng đề cơng giảng dạy thì vấn đề trên sẽ đợc giải quyết ngay lập
tức. Đề cơng này sẽ ghi rõ số tiết dạy của môn học, tên bài giảng tơng
ứng với các tiết học nội dung cụ thể sẽ đợc trình bày trong mỗi tiết học
là gì? Vấn đề nào trình bày trớc, vấn đề nào trình bày sau? Vấn đề nào
cần đợc trọng tâm và nhấn mạnh? Sở dĩ chúng ta phải chuẩn bị kỹ lỡng
nh vậy là vì nếu tiết giảng dạy đó giáo viên cha nói hết nội dung các
slide hay đã trình bày hết nhng thời gian còn thừa đồng nghĩa với việc
cháy giáo án và học trò rất dễ nhận ra. Kết hợp đề cơng này cùng
handuot một cách hợp lý giáo viên ắt hẳn sẽ không còn băn khoăn gì
về cách dạy mới mẻ này.
IV. Giải pháp cho việc áp dụng GAĐT
Đúng là GAĐT tử lắm công phu thật. Có lẽ vì thế mà một số tr-
ờng đã thực hiện nhng chỉ mang tính hình thức và dừng lại ở các tiết
GV: Hải Phòng


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status