SKKN: Kết hợp sử dụng Công nghệ thông tin trong dạy học môn sinh học lớp 10 - Pdf 24

PHẦN I. ĐẶT VẤN ĐỀ
Hiện nay Bộ Giáo dục và Đào tạo đang tiến hành đổi mới toàn diện về giáo
dục ở các cấp học, trong đó có cấp trung học phổ thông (THPT) nhằm nâng cao chất
lượng và hiệu quả trong giáo dục và đào tạo.
Công cuộc đổi mới này liên quan đến nhiều lĩnh vực như đổi mới chương
trình, đổi mới sách giáo khoa, đổi mới thiết bị dạy và học, đổi mới phương pháp dạy
và học, đổi mới quan niệm và cách thức kiểm tra đánh giá, đổi mới quản lí… Ngành
giáo dục thường xuyên tổ chức tập huấn cho giáo viên nhằm thống nhất giữa
chương trình dạy phù hợp với các đối tượng học mà vẫn đảm bảo được các nội dung
đưa ra trong chuẩn kiến thức – kĩ năng.
Tuy nhiên, những đổi mới này có đem lại hiệu quả cao hay không còn phụ
thuộc rất nhiều vào đội ngũ giáo viên, những người trực tiếp thể hiện tinh thần đổi
mới trong từng tiết học.
Trong những năm gần nay đã có nhiều đề tài nghiên cứu và ứng dụng các
biện pháp khác nhau nhằm nâng cao hiệu quả giáo dục, một trong những biện pháp
đó là phương pháp dạy học tích cực. Ngoài việc đổi mới chương trình, đổi mới
phương pháp dạy học, ngành giáo dục cũng khuyến khích việc ứng dụng công nghệ
thông tin (CNTT) vào dạy học, vì CNTT không chỉ giúp ta tiếp cận nhanh hơn với
thế giới mà còn giúp ta làm được những việc rất khó khăn, tưởng chừng không làm
được trong đổi mới phương pháp dạy và học. Dạy học sử dụng CNTT mang đến cho
các tiết học không khí mới qua các tư liệu, các phim, ảnh minh họa, CNTT cũng
góp phần giảm bớt các công việc khác cho các thầy, cô giáo như chuẩn bị bảng phụ
cho các tiết học, giảm sử dụng các đồ dùng, mô hình học tập, và đặc biệt nâng cao
hiệu quả cho các tiết học.
Việc dạy học sử dụng CNTT hiện nay không chỉ đơn thuần là soạn giáo án
trình chiếu (sử dụng chương trình MS PowerPoint của bộ phần mềm Tin học văn
phòng Microsoft Office) mà sử dụng kết hợp MS Powerpoint với các phần mềm hỗ
trợ khác như violet, quicktime, itunes, windows media, đặc biệt sử dụng công cụ
soạn giảng e-learning.
Để phát triển đề tài về sử dụng chương trình MS PowerPoint của mình, tôi
tiếp tục nghiên cứu đề tài theo hướng dạy học sử dụng CNTT với nội dung: “Kết

công cụ này.
- Mất nhiều thời gian khi thực hiện soạn bài giảng bằng chương trình MS
PowerPoint, e-learning nhất là việc tìm kiếm và xử lí hình ảnh, đoạn phim,…
- Giáo viên còn lúng túng trong việc kết nối dữ liệu, chèn hình ảnh, truy cập
Internet để download những tư liệu, hình ảnh và tài liệu tham khảo.
- Khi dạy học sử dụng CNTT, học sinh thường tập trung nhiều vào các
phim, ảnh nhưng lại không chú ý nhiều vào nội dung; việc ghi chép bài của học sinh
cũng gặp khó khăn. Hơn nữa, nếu giáo viên quản lí học sinh không tốt thì sẽ làm
cho học sinh ồn ào, ảnh hưởng tiêu cực đến chất lượng giờ học.
5
Ngoài ra, qua trực tiếp giảng dạy và dự giờ đồng nghiệp, tôi nhận thấy trong
các tiết dạy sử dụng CNTT, đa số học sinh có hứng thú học tập nhưng do việc sử
dụng hình ảnh đoạn phim chưa rõ ràng, đẹp mắt, cách thiết kế slide không phù hợp,
… nên chất lượng bài dạy chưa cao.
II. Thuận lợi và khó khăn trong việc đổi mới phương pháp dạy học
1. Những thuận lợi của việc đổi mới phương pháp dạy học:
- Mặc dù là trường ngoài công lập nhưng được sự chỉ đạo sát sao của ban
giám hiệu và sự quản lí có hiệu quả của đội ngũ giáo viên nên đa số học sinh của
trường chăm ngoan, có nền nếp học tập tốt, có ý thức trong học tập.
- Ban chuyên môn, các tổ chuyên môn nhà trường thường xuyên bàn về đổi
mới phương pháp dạy học, các nội dung hay và khó.
- Học sinh được tiếp cận với việc dạy học tích cực từ các cấp học dưới,
nhiều học sinh có ý thức học bài và làm bài tốt.
- Giáo viên của nhà trường đều được tham gia các lớp tập huấn về các
phương pháp dạy học tích cực do Sở Giáo dục và Đào tạo mở.
2. Những khó khăn của việc đổi mới phương pháp dạy học:
- Do là trường ngoài công lập, đầu vào của học sinh tương đối thấp nên
nhiều em trình độ nhận thức hạn chế, nhiều em chưa có sự tích cực, nỗ lực trong học
tập.
- Hiện nay, bậc học THCS đánh giá học sinh còn tương đối dễ dãi, hầu như

- Dựa vào yêu cầu đổi mới phương pháp dạy và học, cần tạo sự hứng thú cho
học sinh trong tiết học Sinh học 10 thông qua những hình ảnh, đoạn phim trực quan
sinh động.
- Dựa vào tình hình thực tế soạn giảng và dạy học sử dụng CNTT, giáo viên cần
biết cách tìm thông tin, tư liệu trên mạng Internet và phải có kĩ năng xử lí một số
hình ảnh, đoạn phim đưa vào bài giảng.
- Dựa vào kết quả học tập và khả năng tiếp thu bài của học sinh để đưa ra
phương pháp dạy học phù hợp với đối tượng học sinh.
- Sinh học là bộ môn khoa học thực nghiệm, tri thức Sinh học chủ yếu được hình
thành bằng các phương pháp đặc thù trong hoạt động nhóm: quan sát tìm tòi chủ yếu
dựa trên hình ảnh, đoạn phim trực quan và phân tích hình ảnh, đoạn phim thí
nghiệm tìm tòi,… kết hợp vấn đáp gợi mở, nghiên cứu thông tin.
Từ những vấn đề trên, bản thân tôi đã tự nỗ lực tìm tòi, học hỏi, rút ra một
số kinh nghiệm từ bản thân và đồng nghiệp. Sau đây tôi xin giới thiệu một
phương pháp dạy học kết hợp với dạy học sử dụng CNTT trong chương trình Sinh
học 10. Nội dung chỉ đi sâu vào các phương pháp sử dụng trong dạy học mà tôi sử
7
dụng cùng với sử dụng CNTT trong dạy học mà không đề cập nhiều đến vấn đề
sử dụng CNTT (đã được đề cập trong đề tài trước).
2. Một số phương pháp dạy học được sử dụng kết hợp với sử dụng CNTT trong
dạy học Sinh học 10:
a. Phương pháp so sánh
- Khi dạy học bằng CNTT, phương pháp so sánh là phương pháp rất thông dụng,
phổ biến. Phương pháp so sánh là một trong các phương pháp đặc trưng của môn
sinh học. Sử dụng phương pháp này có thể giúp học sinh hoàn thiện kĩ năng đọc,
phân tích kênh hình, kênh chữ và kết luận tóm tắt vấn đề trọng tâm của mỗi nội
dung, mỗi vấn đề.
- Nếu dạy học không sử dụng CNTT, sử dụng phương pháp so sánh đòi hỏi người
giáo viên phải chuẩn bị công phu các bảng phụ, tranh vẽ, phiếu học tập và các bảng
thông tin phản hồi cho mỗi nội dung. Đây là một khó khăn không nhỏ cho nhiều

+ Tế bào nhân thực.
+ Cơ thể đa bào, có sự phân hóa phức tạp.
- Khác nhau:
Các chỉ tiêu
so sánh
Giới
Đặc điểm sống
Các ngành chính Vai trò
Thực vật
Sống tự dưỡng nhờ
quang hợp, thành tế
bào cấu tạo từ
xenlulôzơ, sống cố
định, phản ứng
chậm.
Rêu, Quyết, Hạt
trần và Hạt kín
Cung cấp thức ăn
cho người và động
vật, điều hoà khí
hậu, hạn chế lũ lụt,
xói mòn, hạn hán…
Động vật
Sống dị dưỡng, di
chuyển được,
không có thành tế
bào, khả năng phản
ứng nhanh.
Thân lỗ, Ruột
khoang, Giun dẹp,

phốtphat
Chứa các nguyên tử
kết vòng (colestêrol,
hoocmôn
testostêrôn,
ơstrôgen )
- Vitamin là các
phân tử hữu cơ
nhỏ
- Sắc tố
carôtenôit
Chức Dự trữ năng Cấu tạo màng tế Cấu tạo màng tế bào Tham gia 1 số
9
năng
lượng cho tế
bào, cơ thể
bào và một số hoocmôn
hoạt động sống
của cơ thể
Ví dụ 3: Bài 6. Axit nuclêic có thể củng cố bằng cách cho HS so sánh giữa các loại
ARN: Em hãy so sánh các loại ARN về cấu tạo và chức năng.
Loại ARN Cấu trúc Chức năng
mARN
mARN cấu tạo từ một chuỗi
polinuclêôtit dưới dạng mạch thẳng.
mARN có chức năng truyền đạt
thông tin di truyền.
tARN
tARN có cấu trúc với 3 thuỳ, trong
đó có một thuỳ mang bộ ba đối mã.

- Tổng hợp lipit, chuyển hoá
đường, phân huỷ chất độc hại với
cơ thể.
- Có thể sử dụng so sánh để củng cố kiến thức để mang lại những kết quả tốt hơn trong
việc tổng hợp kiến thức của các em: So sánh các bào quan của tế bào nhân thực về cấu
tạo và chức năng.
Bào quan Cấu trúc Chức năng
Nhân tế bào
Là bào quan lớn nhất, chứa NST và nhân
con, có cấu trúc màng kép, trên màng có
nhiều lỗ màng có kích thước lớn.
Mang thông tin di truyền, điều
hòa hoạt động của tế bào.
Ti thể
Cấu trúc màng kép, chứa hệ enzim hô hấp,
trong là chất nền có chứa ADN và
ribôxôm.
Thực hiện chức năng chuyển
hóa năng lượng, cung cấp nguồn
năng lượng ATP cho tế bào.
Lục lạp
Cấu trúc màng kép, chứa chất diệp lục và
hệ enzim quang hợp, trong chất nền có
chứa ADN vòng và ribôxôm.
Chuyển đổi năng lượng ánh
sáng thành năng lượng hóa học
trong các phân tử hữu cơ.
Ribôxôm
Không có màng, có cấu tạo từ rARN và
prôtêin với hai tiểu đơn vị.

Các chất phân cực, các ion (tan
trong nước), chất có kích thước
lớn.
Axit amin, H
2
O,
Na
+
, K
+
, Cl
-
,
glucôzơ,
PHÂN BIỆT XUẤT BÀO – NHẬP BÀO
NHẬP BÀO XUẤT BÀO
- Là phương thức đưa các chất vào bên
trong tế bào bằng cách biến dạng màng
sinh chất.
- Là phương thức đưa các chất ra khỏi tế
bào bằng cách biến dạng màng sinh chất.
+ Thực bào: mảnh vỡ, chất kích thước
lớn, chất rắn.
+ Ẩm bào: các giọt dịch.
Chất được xuất bào là các prôtêin đại phân
tử.
PHÂN BIỆT VẬN CHUYỂN THỤ ĐỘNG VỚI VẬN CHUYỂN CHỦ ĐỘNG
NỘI DUNG VẬN CHUYỂN THỤ ĐỘNG VẬN CHUYỂN CHỦ ĐỘNG
1. Có dùng
ATP không

Vị trí xảy ra Màng tilacôit của lục lạp. Chất nền của lục lạp.
Nguyên liệu H
2
O CO
2
Chuyển hóa
năng lượng
NLAS → hóa năng (ATP, NADPH)
Hóa năng (ATP, NADPH) →
hóa năng (cacbohiđrat)
Phương trình
tổng quát
NLAS + H
2
O + NADP
+
+ ADP + P
i
Sắc tố QH
NADPH + ATP + O
2

NADPH + ATP + CO
2

Hệ enzim QH

NADP
+
+ H

Quang dị dưỡng
VD: Vi khuẩn không chứa lưu
huỳnh màu lục và màu tía.
Hóa năng
Hóa tự dưỡng
VD: Vi khuẩn nitrat hóa, vi
khuẩn ôxi hóa hiđrô, ôxi hóa
lưu huỳnh…
Hóa dị dưỡng
VD: Nấm. động vật nguyên sinh,
phần lớn vi khuẩn không quang
hợp.
Ví dụ 8: Bài 29. Cấu trúc các loại virut có thể sử dụng bảng so sánh ba loại cấu trúc
của virut (dạy mục II) và so sánh virut với vi khuẩn (để củng cố).
Loại cấu
trúc
Đặc điểm Ví dụ
Cấu trúc
xoắn
Capsôme sắp xếp theo chiều xoắn của
axit nuclêic tạo virut có hình que, hình
cầu, hình sợi,
Virut khảm thuốc lá, virut dại,
virut cúm, virut sởi
Cấu trúc Capsôme sắp xếp theo hình khối đa diện Virut bại liệt, virut mụn cơm,
12
khối với 20 mặt tam giác đều. ….
Cấu trúc
hỗn hợp
Đầu có cấu trúc khối chứa axit nuclêic

trong bài đọc và thiết
lập

mối
quan hệ giữa chúng trên cơ sở đó chia bài đọc
thành các phần tương ứng với tên đề mục cho phù
hợp.
- Với những nội dung kiến thức dài, khó, kiến thức có liên quan đến thực
tế tôi thường ra các
câu
hỏi, bài tập định hướng để học sinh khi đọc SGK, thu
thập thông tin từ các nguồn khác như tài liệu tham khảo, thực tế để tìm cách
trả lời. Câu hỏi đặt ra yêu cầu học sinh phải khái
quát
được nội dung cơ bản,
câu hỏi phải yêu cầu học sinh vận dụng tư duy để trả
lời.
- Thường xuyên kiểm tra việc đọc tài liệu và sự chuẩn bị của học sinh, yêu
cầu mỗi học sinh có
vở
bài tập ở nhà để soạn bài trước.
- Học bài cũ: tôi thường yêu cầu học sinh học bài cũ bằng cách về nhà
đọc lại bài ghi ngay,
hoàn
thành các bài tập về nhà, hướng dẫn học sinh học
theo hướng tổng hợp kiến thức theo

đồ, hệ thống hoá kiến thức, học qua hình
vẽ, sơ đồ, giải thích các hiện tượng thực tế có liên quan đến
kiến

Bước 6: Thu thập thông tin
Bước 7: Đánh giá thông tin thu được
Trong các bước trên, học sinh thường gặp khó khăn trong việc phân tích và tổng
hợp các thông tin.
Trong chu trình học tập theo phương pháp này, thời gian làm việc độc lập (cá
nhân) luôn luân phiên với thời gian làm việc trong nhóm (có sự giúp đỡ của giáo
viên).
Theo chúng tôi, công việc cần thảo luận theo nhóm thường xuất hiện vào hai
thời điểm đặc biệt được miêu tả trong chu trình dưới đây:
Như vậy chu trình dạy học dựa theo vấn đề gồm 4 giai đoạn:
Thảo luận
trong nhóm
Thảo luận
trong nhóm
Làm việc
độc lập
Làm việc
độc lập
2
1
3
4
2
14
Sau khi kết thúc giai đoạn 1 (Giới thiệu chủ đề, chuẩn bị các hoạt động), học
sinh thảo luận theo các nhóm nhỏ → giai đoạn 2 (có hoặc không có sự trợ giúp của
giáo viên) nhằm phân tích chủ đề, đưa ra các câu hỏi và giả thiết đầu tiên, phân
chia nhiệm vụ cho các thành viên nhóm. Tiếp theo đó các thành viên làm việc độc
lập theo nhiệm vụ đã được phân chia (giai đoạn 3). Kết thúc giai đoạn 3, từng cá
nhân sẽ giới thiệu thành quả làm việc trong nhóm. Cuối cùng mỗi cá nhân tự viết

+ Nhóm 1: Hãy mô tả đặc điểm cấu trúc xoắn của virut và nêu một số đại diện.
+ Nhóm 2: Hãy mô tả đặc điểm cấu trúc khối của virut và nêu một số đại diện.
+ Nhóm 3: Cấu trúc hỗn hợp thể hiện như thế nào? Nêu đại diện.
Ví dụ 3

: tổ chức học sinh học tập mục I.3 (Một số bệnh truyền nhiễm thường gặp)
trong bài 32 – Bệnh truyền nhiễm và miễn dịch, giáo viên phát phiếu học tập cho 5
nhóm và hướng dẫn học sinh hoàn thành phiếu học tập so sánh 5 loại bệnh ở người
do virut gây ra:
Loại bệnh Phương thức lây truyền Ví dụ
Bệnh đường hô hấp
Bệnh đường tiêu hóa
Bệnh hệ thần kinh
Bệnh đường sinh dục
Bệnh da
+ Nhóm 1: Hãy nêu phương thức lây truyền của bệnh đường hô hấp và cho ví dụ.
+ Nhóm 2: Nêu các phương thức lây truyền của bệnh đường tiêu hóa và cho ví
dụ.
+ Nhóm 3: Bệnh hệ thần kinh lây truyền như thế nào ? cho ví dụ về loại bệnh này.
+ Nhóm 4: Hãy nêu phương thức lây truyền của bệnh đường sinh dục, cho ví dụ.
+ Nhóm 5: Hãy nêu phương thức lây truyền của các bệnh lây qua da và cho ví dụ.

Phương pháp nêu vấn đề kết hợp với tổ chức hoạt động nhóm giúp cho việc tổ
chức giờ học của giáo viên linh hoạt, có sự hỗ trợ giữa các nhóm, thời gian sử dụng
cho nhiều hoạt động nên có thể tận dụng thời gian để đi sâu vào các vấn đề trọng
tâm của mỗi tiết dạy. Quan trọng hơn, phương pháp này có sự giao lưu giữa trò với
trò, giữa trò với thầy trong việc tiếp cận kiến thức khoa học rất hiệu quả. Ngoài ra,
việc thảo luận nhóm mang tính bắt buộc cho mỗi cá nhân nên có thể giúp học sinh
nâng cao kĩ năng giao tiếp, kĩ năng xã hội và phát triển được quá trình nhận thức
(đọc hiểu, phân tích, tổng hợp).

trước khi đến lớp. Vì vậy, mỗi thầy, cô giáo chủ nhiệm là phải người tổ chức, quản
lí học sinh của mình, phải biết cách khuyến khích, động viên cho các em tích cực
học tập, tích cực nghiên cứu tài liệu trước khi đến lớp. Bên cạnh đó, các thầy, cô
giáo bộ môn có cách tổ chức học sinh học tập tích cực, chủ động thông qua các đánh
giá kết quả học sinh công bằng, hợp lí để khuyến khích các em tinh thần học tập. Sự
kết hợp của các lực lượng giáo dục trong nhà trường tốt thì việc đổi mới phương
pháp dạy học nhằm nâng cao chất lượng dạy và học mới được đảm bảo.
17
V. BÀI HỌC KINH NGHIỆM
Việc đổi mới phương pháp dạy và học theo hướng tích cực kết hợp sử dụng
CNTT là cần thiết, nhằm hướng tới việc học tập chủ động, chống lại thói quen học
thụ động, cụ thể là: phát huy tính tích cực, tự giác, chủ động, sáng tạo của người
học. Đáp ứng được yêu cầu về con người về tri thức trong công cuộc công nghiệp
hoá, hiện đại hoá đất nước, bắt kịp xu thế đổi mới phương pháp hiện đại; hình thành
và phát triển những giá trị nhân cách tích cực; năng lực giải quyết vấn đề; năng lực
hoạt động sáng tạo.
Thiết nghĩ, muốn tạo được thói quen tự học cho học sinh thì tất cả các giáo
viên cần thực hiện tốt việc đổi mới phương pháp dạy - học ở tất cả các bộ môn một
cách thường xuyên, đôngg thời luôn tìm tòi, trau dồi kĩ năng sử dụng CNTT để việc
áp dụng trong giảng dạy đạt hiệu quả cao.
Để học sinh thực hiện được việc học tập tích cực, chủ động cần kể đến vai trò
định hướng của giáo viên chủ nhiệm, vai trò tổ chức của giáo viên bộ môn trong
từng tiết học.
Đổi mới phương pháp dạy học, dạy học sử dụng CNTT cần được thực hiện từ
các nội dung nhỏ nhất đến các nội dung lớn, từ các tiết dạy bình thường cũng như
các tiết kiểm tra chuyên môn, thao giảng – hội giảng, chứ không chỉ gói gọn trong
một tiết dạy có đăng kí, có dạy thử để mọi người dự giờ. Làm được như vậy, chất
lượng dạy của thầy và học của trò sẽ được đảm bảo tốt nhất.
18
PHẦN III. KẾT LUẬN - KIẾN NGHỊ

phông chiếu, loa kèm theo,… Ngoài ra, phải thường xuyên mở lớp tập huấn về
giảng dạy giáo án điện tử cho giáo viên nhằm không ngừng bổ sung, nâng cao các
kiến thức, kĩ năng về công nghệ thông tin.
Trên đây là một vài ý kiến chủ quan của tôi về “Kết hợp dạy học sử dụng công
nghệ thông tin với một số phương pháp trong dạy học Sinh học 10”. Phạm vi nhỏ
bé của đề tài cũng như hiểu biết có hạn nên không thể đề cập hết những vấn đề lớn
khác trong dạy học sử dụng CNTT, các lợi ích mang lại từ các phương pháp dạy học
khác nhau.
19


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status