Miễn dịch học
TRƯỜNG ĐẠI HỌC NHA TRANG
Viện Công nghệ sinh học & Môi trường
BÀI BÁO CÁO NHÓM 6
ĐỀ TÀI: Bệnh Vảy Nến.
GVHD: Nguyễn Thị Anh Thư
Lớp: 54 CNSH
Danh sách nhóm:
1. Nguyễn Thị Kim Vy
2. Huỳnh Thị Bích Mai
3. Võ Thị Như Mai
4. Lê Đinh Ý Nhi
5. Trần Thị Vĩnh Trang
6. Nguyễn Mạnh Tường
Nha trang, tháng 11 năm 2014.
1
Miễn dịch học
MỤC LỤC:
3. CƠ CHẾ MIỄN DỊCH: 5
5.1 Đông Y: 10
5.1.1 Nguyên lý: 10
5.1.2 Ưu thế: 10
5.1.3 Điều trị vẩy nến bằng phương pháp ngâm thuốc: 10
5.2 Tây Y: 11
5.2.1 Điều trị tại chỗ: 11
5.2.2 Điều trị toàn thân: 15
5.2.3 Trị liệu bằng ánh sáng (Phototherapy) 16
5.2.4 Phương pháp sinh học (Biotherapy) 17
7. TÀI LIỆU THAM KHẢO: 22
BỆNH VẨY NẾN LÀ GÌ?
- Bệnh vẩy nến là bệnh viêm da mãn tính do rối loạn biệt hóa của tế bào
quá trình này, các tế bào miễn dịch, chẳng hạn như tế bào đuôi gai và tế bào
T, di chuyển từ lớp hạ bì đến các lớp biểu bì , tiết ra tín hiệu hóa học, chẳng
hạn như yếu tố hoại tử khối u α, interleukin-1β, và interleukin-6, gây viêm ,
và interleukin-22, gây ra tế bào sừng để sinh sôi nảy nở.
- Các hệ thống miễn dịch bao gồm một hệ thống miễn dịch bẩm sinh , và
một hệ thống miễn dịch thích ứng.
- Trong hệ thống bẩm sinh, tế bào miễn dịch có thụ thể đã tiến hóa để nhắm
mục tiêu các loại protein cụ thể và kháng nguyên khác thường được tìm thấy
trên các tác nhân gây bệnh.Trong hệ thống miễn dịch thích ứng, tế bào miễn
dịch phản ứng với protein và kháng nguyên khác mà chúng chưa bao giờ tiếp
xúc trước đây, được trình bày cho chúng bởi các tế bào khác. Hệ thống bẩm
sinh thường đi kháng nguyên trên hệ thống thích nghi. Khi hệ thống miễn
dịch làm cho một sai lầm, và xác định một phần lành mạnh của cơ thể như là
một kháng nguyên ngoại lai, hệ thống miễn dịch tấn công các protein, giống
như trong tự miễn dịch.
- Bệnh vẩy nến, DNA là một kích thích viêm. DNA kích thích các thụ thể trên
tế bào đuôi gai plasmacytoid, sản xuất interferon-α, một tín hiệu kích thích
3
Miễn dịch học
miễn dịch (cytokine). Bệnh vẩy nến, tế bào sừng sản xuất peptide kháng
khuẩn. Trong phản ứng với các tế bào đuôi gai và tế bào T, chúng cũng sản
xuất các cytokine như interleukin-1, interleukin-6, và yếu tố hoại tử khối u-α,
mà các tín hiệu có nhiều tế bào viêm đến và sản xuất viêm hơn nữa.
- Tế bào đuôi gai cầu hệ thống miễn dịch bẩm sinh và thích nghi. Chúng đang
tăng lên trong tổn thương vẩy nến và gây ra sự tăng sinh của tế bào T và
helper type 1 tế bào T. Một số tế bào đuôi gai có thể sản xuất yếu tố hoại tử
khối u-α, trong đó kêu gọi các tế bào miễn dịch và kích thích viêm nhiễm
hơn. Mục tiêu điều trị liệu pháp miễn dịch, và psoralen và tia cực tím A
(PUVA), làm giảm số lượng của các tế bào đuôi gai.
- Các tế bào T di chuyển từ lớp hạ bì vào lớp biểu bì. Chúng nó được thu hút
Tương tác giữa tế bào APC và lympho T gây hoạt hóa tế bào T
Giai đoạn 3: Lympho T hoạt hóa sẽ tạo ra nhiều cytokine bao gồm IL -12,TNF-α,
IFN-ɣ và IL-2. Từ đó lympho T phát triển và biệt hóa thành tế bào T nhớ ( T
CD45RO
+
).
5
Miễn dịch học
Giai đoạn 4: T nhớ sẽ bộc lộ CLA ra bề mặt tế bào để gắn với E- selectin của tế bào
nội mô lòng mạch,cùng với sự gắn kết LFA-1 với ICAM-1 giúp cho các tế bào T
thoát khỏi lòng mạch và di chuyển đến da. Ngoài ra các cytokine do tế bào sừng
tiết ra có vai trò lôi kéo các tế bào T nhớ đi tới chính xác các vị trí viêm.
Giai đoạn 5: Tại vùng da viêm,bạch cầu T tiếp xúc với tế bào trình diện kháng
nguyên APC sẽ được hoạt hóa lại và tiết ra các cytokine như TNF-α,IFN-ɣ làm
kích thích tế bào sừng phát triển,quá sản,rối lọan biệt hóa,gây ra các triệu chứng
lâm sàn vẩy nến.
TRIỆU CHỨNG,DẤU HIỆU NHẬN BIẾT:
4.1 Các thể vẩy nến:
- Tùy theo tính chất, đặc điểm lâm sàng, người ta chia vẩy nến làm 2 thể
chính: Thể thông thường và thể đặc biệt.
- Trong thể thông thường, dựa vào kích thước, vị trí của thương tổn da,
người ta phân làm các thể như: Thể giọt, thể đồng tiền, thể mảng, vẩy nến ở
đầu, vẩy nến đảo ngược,…
- Thể đặc biệt ít gặp hơn nhưng nặng và khó điều trị hơn. Đó là các thể: Vẩy
nến thể mủ, vẩy nến thể móng khớp, vẩy nến thể đỏ da toàn thân.
6
Miễn dịch học
4.2 Dấu hiệu nhận biết:
Tổn thương tại da
Bệnh vẩy nến là do sự rối loạn điều tiết hóa lành tính của tế bào thượng bì
vẩy nến. Tỷ lệ khớp bị thương tổn đối với bệnh vẩy nến tùy từng thể. Trường
hợp bệnh nhẹ, các thương tổn da khu trú, thì chỉ có khoảng 2% bệnh nhân có
biểu hiện thương tổn ở khớp. Trong khi đó trường hợp bệnh nặng, dai dẳng
có đến 20% bệnh nhân có thương tổn khớp. Bệnh viêm khớp vẩy nến thường
khiến bệnh nhân bị biến dạng các khớp, khó vận động.
Biểu hiện hay gặp nhất là viêm khớp mạn tính, biến dạng khớp, cứng khớp,
lệch khớp, bệnh nhân cử động đi lại rất khó khăn … Một số bệnh nhân
thương tổn da rất ít nhưng biểu hiện ở khớp rất nặng, đặc biệt là khớp gối và
cột sống.
8
Miễn dịch học
Các thể tổn thương khác của bệnh vẩy nến
Có rất nhiều cách để phân biệt các loại tổn thương gây ra do bệnh vẩy nến.
Dựa vào tính chất, đặc điểm lâm sàng, mà có thể chia vẩy nến làm 2 loại
chính là thông thường và loại đặc biệt hoặc dựa vào kích thước, vị trí của
thương tổn da mà có thể phân ra các thể như thể giọt, thể đồng tiền, thể
mảng, vẩy nến ở đầu, vẩy nến đảo ngược, …
Một số trường hợp bệnh vẩy nến ở thể nặng và khó điều trị hơn như vẩy nến
thể mủ với sự xuất hiện của các mụn mủ khô và nông, vẩy nến thể đỏ da toàn
thân.
Lưu ý bệnh thường phát triển mạnh vào mùa khô và gây ra cảm giác đau đớn
vô cùng ở những vùng da bị nhiễm bệnh, bị va chạm hoặc có các biểu hiện
chảy máu ở chỗ da bị nứt. Điều này khiến bệnh có thể bị nhầm lẫn với nứt nẻ
da cũng hay gặp ở mùa khô. Do đó để cho chắc chắn, ngay sau khi có những
nghi ngờ mắc bệnh, cần đưa người bệnh tới khám ở các cơ sở y tế tin cậy để
được chuẩn đoán và điều trị kịp thời.
ĐIỀU TRỊ:
Vẩy nến hiện nay vẫn chưa thể chữa khỏi hoàn toàn mà chỉ làm giảm, sạch
thương tổn và kéo dài thời gian tái phát. Có nhiều phương pháp điều trị và dựa vào
tuổi, phái, dạng lâm sàng, vị trí sang thương cũng như sự lan tỏa của bệnh.
cho thuốc trực tiếp phát huy tác dụng đối với vùng da bị tổn thương, tăng tỷ lệ hấp
thụ của thuốc, kết hợp với sự điều tiết tự thân của người bệnh sẽ làm cho virus bị
bài trừ khỏi cơ thể, khống chế truyền nhiễm chân khuẩn, thúc đẩy tuần hoàn máu,
gia tăng sự trao đổi chất, nhanh nhiệt giải độc, dứt ngứa, giảm sưng ngừng đau, cân
đối tạng phủ.
Ưu thế Ngâm thuốc Đông Y có thể điều trị được bệnh vảy nến, da hấp thụ các
thành phần của thuốc và cải thiện các tuần hoàn nhỏ của da, từ đó thuốc kích thích
10
Miễn dịch học
vùng da bị tổn thương làm cho quá trình hấp thụ thuốc của gia được nâng cao từ đó
thúc đẩy tuần hoàn máu trong cơ thể người bệnh, gia tăng tốc độ giảm sưng phù và
dứt ngứa.
Ngâm thuốc Đông Y là một trong những phương pháp điều trị tinh túy đồng
thời hiện nay nó cũng là phương pháp điều trị bệnh vảy nến an toàn và có hiệu quả
cao, sau khi điều trị có thể nâng cao hàm lượng Globulin miễn dịch trong huyết
thanh của người bệnh, tăng cường sức sống và tính đàn hồi của da. Người có da
bình thường sau khi ngâm thuốc Đông Y có thể khỏe mạnh và xinh đẹp hơn, người
bị bệnh vảy nến ngâm thuốc Đông Y không chỉ loại bỏ được các vảy nhỏ màu trắng
bạc mà còn làm cho bệnh tình phục hồi nhanh hơn.
Cách giúp giảm bệnh vẩy nến hiệu quả nhất được nhiều bác sĩ khuyên dùng là
ngâm mình (hoặc phần da bị vẩy nến) trong nước ấm từ 10 đến 15 phút, sau đó bôi
thuốc dưỡng ẩm làm mềm da để giúp da mềm và ẩm hơn.
Cụ thể về các bài thuốc nam điều trị bệnh vẩy nến hiệu quả như sau:
Bài 1: Bao gồm những loại thuốc sau: Kinh giới, rau má, bồ công anh, ké đầu
ngựa, cây trinh nữ, bạc sau, xích đồng, thổ phục linh, vỏ gạo, hạ khô thảo, kim
ngân, khổ sâm, xác ve sầu, đơn đỏ mỗi thứ 12g, sắc uống trong 1-2 ngày, mỗi
ngày 2 lần! Đây là một thang thuốc uống trong 1 - 2 ngày, mỗi thứ 10 - 12g. Sau
khi uống thuốc xong thì lấy bã đun them 1 ít nước và tắm, ngâm để cho lớp da chết
bong ra.
Bài 2: Dùng cho bệnh vẩy nến kéo dài: Ké, hà thủ ô, huyền sâm, ngân hoa, hỏa
thời gian bán hủy từ 7 – 12 giờ. Vì vậy, tazarotene có thể là thuốc thay thế an toàn
trong điều trị vẩy nến bằng retinoid hệ thống đối với những phụ nữ ở tuổi sinh đẻ.
Vẩy nến là một bệnh do phản ứng miễn dịch gây viêm. Các thuốc ức chế miễn
dịch hiện nay có hiệu quả trong việc kiểm soát vẩy nến đến một mức độ nhất định
nhưng cũng còn nhiều bất lợi như độc tính cao và dễ tái phát khi ngưng điều trị.
Thế hệ điều trị mới tập trung chủ yếu vào các mục tiêu chuyên biệt trong phản
ứng miễn dịch qua trung gian tế bào. Chúng ta có thể hy vọng trị liệu như thế sẽ
giúp bệnh nhân dung nạp tốt hơn và không còn những tác dụng phụ nghiêm trọng
như độc gan, độc thận và ức chế tủy.
Retinoid (nhóm etretinate – biệt dược Tigason – Soriatan):
Là một dẫn xuất tổng hợp của vitamin A. Có tác dụng trị liệu cao và ít độc tính
hơn vitamin A. Có đặc tính nhiễm sừng (Antikeratisantes) và kháng tân tạo
12
Miễn dịch học
(Antineoplastique). Retinoid có tác dụng: Điều hòa tăng trưởng và biệt hóa tế bào,
tác động trực tiếp lên gen của chất keratine, làm chậm tăng sản biểu bì và bình
thường hóa quá trình biệt hóa tế bào sừng. Điều biến miễn dịch và chống thâm
nhiễm biểu bì trong bệnh vẩy nến, ức chế biểu hiện HLA lớp II (HLADR+).
Chỉ định: vẩy nến thông thường diện rộng, vẩy nến khớp, vẩy nến đỏ da toàn
thân, vẩy nến mụn mủ.
Liều dùng: tuần đầu nên dùng 10mg/ ngày, sau đó tăng dần liều dùng 20-25mg/
ngày, khi có viêm môi là có thể đã đạt được liều tối đa. Dùng thuốc 1 vài tháng đến
6-12 tháng hoặc giảm liều dùng, duy trì tránh tái phát.
Tác dụng phụ: Viêm kết mạc, khô mắt, khô da (48-78%). Rụng tóc, ngứa da
mỏng, viêm môi (87-100%). Khô miệng (8-88%), thí nghiệm trên động vật có tính
gây quái thai -> không dùng cho phụ nữ tuổi sinh đẻ (đảm bảo trước khi dùng
thuốc, trong khi dùng thuốc và khi ngừng thuốc 2-3 tháng không có thai.
Mỡ Daivonex:
Là đồng đẳng vitamin D3. Có tác dụng ức chế tăng sinh tế bào sừng
(keratinocytes) và kích thích quá trình biệt hóa tế bào sừng, tác dụng vào lympho T,
Mỡ Corticoid:
Ưu điểm: bệnh đỡ nhanh, tương đối sạch, bệnh nhân ưa thích.
Nhược điểm: bôi diện rộng, dài ngày có thể gặp tác dụng phụ như nổi trứng cá, teo
da, giãn mạch, vết rạn da, ức chế thượng thận, dễ tái phát… và có hiện tượng
“nhờn thuốc” hoặc “bật bóng” về sau bệnh tái phát vượng bệnh nặng hơn. (do dùng
thuốc mạnh lâu ngày)
Dùng thuốc dạng mỡ hoặc kem với hoạt lực yếu (Hydrocortison) đến vừa
(Eumovate), mạnh (Betnovate) và rất mạnh (Dermovate). Hiện nay người ta cho
rằng nên áp dụng bôi mỡ corticoid như sau: Bôi loại mỡ corticoid loại nhẹ và vừa.
Bôi 1 đợt 20-30 ngày, sau đó nghỉ thuốc 1 thời gian sau nếu cần mới dùng tiếp đợt
khác. Bôi xen kẽ, đợt này dùng mỡ corticoid, đợt sau bôi loại khác. Tránh bôi diện
rộng, kéo dài ngày.
Cơ chế của Corticoid: Chống viêm: ức chế huy động bạch cầu đa nhân và các tế
bào đơn nhân, ức chế sản sinh chất trung gian gây viêm như leucotiene; Chống gián
phân: ức chế mạnh sự tổng hợp DNA ở pha G1 và G2 của gián phân; Điều hòa
miễn dịch và co mạch.
14
Miễn dịch học
5.2.2 Điều trị toàn thân:
5.2.2.1 Methotrexat:
Viên nén 2,5 - 5-10 mg, lọ thuốc bột tiêm. Người lớn dùng 12mg/m2 cơ thể
trong 1 tuần lễ. Trẻ em 7 - 12mg/m2 cơ thể trong 1 tuần lễ. Người có bệnh suy tủy,
thận, gan, dạ dày, phụ nữ có thai hay cho con bú không được dùng.
Là thuốc ức chế miễn dịch, là chất đối kháng với folic acid. Có tác dụng: ức chế
tăng sinh tổng hợp axit nucleic, có tác dụng ức chế tăng sinh tế bào thường bì trong
bệnh vẩy nến, chống viêm giảm hóa ứng động của bạch cầu đa nhân, giảm sản xuất
IL-8 trong bệnh vẩy nến.
Là loại thuốc ức chế có tác dụng phụ có thể gây hạ bạch cầu, tiểu cầu, tích luỹ ở
gan gây thoái hoá hoặc xơ gan, yếu tố thuận lợi cho sẩy thai, quái thai, giảm tinh
trùng Với gan, máu nên chủ yếu chỉ dùng chi vẩy nến thể mảng lan tỏa và một vài
thuốc thoa, kết hợp phương pháp quang trị liệu (phototherapy) với việc chiếu tia
cực tím UVB, chiếu tia lazer xung nhuộm màu…
5.2.3.1 Công nghệ quang trị liệu UVB phổ hẹp:
Dùng ánh sáng UVB phổ hẹp là công nghệ quang trị liệu mới và hiệu quả nhất
đang được ứng dụng cho rất nhiều bệnh nhân bị vẩy nến trên khắp thế giới. Hiện
nay, ngày càng nhiều công trình nghiên cứu chứng tỏ công nghệ này còn ứng dụng
rất hiệu quả trong điều trị thêm các bệnh da khác như chàm bội nhiễm, bạch biến,
nấm da…
So với ánh sáng UVB phổ rộng, ánh sáng UVB phổ hẹp hầu như đã loại trừ hết
các tia UV thừa nguy hại cho da, và chỉ phát các tia có bước sóng 311-312 nm. Các
nghiên cứu lâm sàng đã xác định các tia có bước sóng từ 295-313 nm mang lại hiệu
quả cao trong điều trị, nhưng các tia có bước sóng dưới 300 nm lại dễ làm đỏ da,
phỏng da, và có nguy cơ gây ung thư da.
Công nghệ UVB phổ hẹp cùng với công nghệ Laser xung nhuộm màu Vbeam
phù hợp điều trị bệnh vẩy nến hiện vừa được đưa vào Việt Nam.
UVB có tác dụng ức chế tăng sinh biểu bì, cảm ứng tế bào lympho T ức chế,
giảm số lượng và giảm khả năng trình diện kháng nguyên của tế bào Langerhans,
tác động lên tế bào keratin (điều hòa tiết IL-1, IL-6, PG-E2, TNF-α…).
Ưu điểm: khỏi bệnh kéo dài, tỷ lệ sạch tổn thương cao.
Nhược điểm: tổn thương da do ánh sáng, ánh sáng đa dạng tăng nguy cơ lão
hóa và ung thư da.
5.2.3.2 Công nghệ quang hóa trị liệu:
16
Miễn dịch học
Liệu pháp quang hóa (photochemotherapy): dùng PUVA, phương pháp này do
Parish đề xuất năm 1974, cho đến nay vẫn là một phương pháp hiện đại, điều trị
bệnh vảy nến có hiệu quả nhưng không phải là phương pháp tốt nhất.
PUVA có tác dụng: Hiệu quả chống phân bào; Hiệu quả miễn dịch giảm số
lượng và giảm hoạt hóa tế bào lympho T (TCD3, TCD4, TCD8), ức chế tổng hợp
DNA của lympho, giảm các yếu tố hóa ứng động, giảm sản xuất IL2, ức chế biểu lộ
Alefacept được cơ quan quản lý thực phẩm và thuốc của Mỹ (US FDA) phê
chuẩn để điều trị bệnh vảy nến thể mảng mạn tính từ trung bình đến nặng ở bệnh
nhân trên 18 tuổi, đây là những bệnh nhân được lựa chọn để điều trị toàn thân hoặc
quang trị liệu. Tuy nhiên ở Liên minh Châu âu thì không phê chuẩn giống như vậy.
Alefacept được chỉ định tiêm bắp (IM: Intramuscular) 15 mg cho mỗi tuần, phác
đồ điều trị là 12 tuần. Có thể điều trị lại một đợt 12 tuần, tuy nhiên chỉ được sử
dụng khi kết quả đếm CD4, tế bào T trong giới hạn bình thường và tối thiểu là sau
12 tuần kể từ khi kết thúc đợt điều trị trước đó, vì vậy nó được gọi là thuốc có thời
gian nghỉ hoặc “Holiday”. Có thể xem Alefacept là một trị liệu giảm từng đợt với
khả năng ức chế bệnh vảy nến ngay cả khi đã dừng đợt điều trị.
Efalizumab
Efalizumab là một kháng thể đơn dòng tái tổ hợp giống như IgG1 ở người, nó
liên kết với CD11a, một tiểu thể đơn vị Alpha của kháng nguyên chức năng bạch
cầu (LFA-1: Leukocyte Function Antigen-1) quá trình này xảy ra giống nhau trên
tất cả các bạch cầu. Nhờ liên kết với CD11a nên Efalizumab ngăn cản được sự liên
kết giữa LFA-1 và phân tử kết dính gian bào (ICAM-1: Intercellular Adhesion
Molecule). Nhờ vậy nó ngăn cản được sự tương tác giữa LFA-1 và ICAM-1, hoạt
hoá các tế bào T, hiện tượng xuyên mạch và làm giảm quá trình tái hoạt hóa ở
thượng bì, trung bì.
Efalizumab được US FDA phê chuẩn để điều trị bệnh vảy nến thể mảng mạn
tính từ trung bình đến nặng ở bệnh nhân trên 18 tuổi, đây là những bệnh nhân được
lựa chọn để điều trị toàn thân hoặc quang trị liệu. Tương tự như vậy Efalizumab
cũng được phê chuẩn để điều trị bệnh vảy nến ở Liên minh Châu âu.
Efalizumab được xem như là một trị liệu ức chế, nó được sử dụng tiêm dưới da
(SC: Subcutaneous) hàng tuần. Liều lượng phù hợp với cân nặng của bệnh nhân,
liều đề nghị cho lần đầu là 0,7 mg/kg cân nặng tiên dưới da, liều duy trì là 1,0
mg/kg cân nặng tiêm dưới da mỗi tuần.
18
Miễn dịch học
Miễn dịch học
Infliximab được phê chuẩn để điều trị bệnh Crohn, viêm cột sống dính khớp, viêm
khớp vảy nến và viêm khớp dạng thấp ở Liên minh Châu âu.
Infliximab được pha chế để tiêm tĩnh mạch (IV: Intravenous), kết quả đạt được
trong 2-4 giờ, liều lượng của Infliximab phù hợp với cân nặng của bệnh nhân hoặc
3 mg/kg hoặc 5 mg/kg cân nặng. Tuy vậy liều đơn của Infliximab là dưới 20 mg/kg
đã được chỉ định mà không có tác dụng độc nào. Trong các thử nghiệm lâm sàng
thì Infliximab đã được chỉ định tiêm tĩnh mạch trong 3 liều: Tại thời điểm bắt đầu
điều trị, 2 tuần và 6 tuần. Sau giai đoạn đầu tiên này Infliximab được chỉ định gián
đoạn khoảng mỗi 2 tháng, mặc dù liều này tuỳ thuộc vào từng bệnh nhân
Adalimumab
Adalimumab là một kháng thể đơn đòng IgG1 tái tổ hợp đặc biệt của TNF- , nó
kết hợp với cả 2 Receptor hòa tan và liên kết màng của TNF- , nó liên kết với TNF-
bằng hỗn hợp liên kết 3 phân tử của Adalimumab và 3 phân tử của TNF
Hiện nay Adalimumab được US FDA phê chuẩn để điều trị bệnh nhân viêm
khớp dạng thấp không đáp ứng với các thuốc điều trị viêm khớp dạng thấp đã dùng.
Nó không được US FDA phê chuẩn để điều trị bệnh vảy nến hoặc viêm khớp vảy
nến. Ở Liên minh Châu âu Adalimumab được phê chuẩn để điều trị cả 2 bệnh viêm
khớp vảy nến và viêm khớp dạng thấp, mặc dù nó không được phê chuẩn để điều
trị bệnh vảy nến.
Adalimumab là một trị liệu ức chế và được chỉ định tiêm dưới da. Hiện nay có 2
liều của Adalimumab đang được nghiên cứu để sử dụng cho bệnh nhân vảy nến là:
40 mg tiêm dưới da một lần một tuần hoặc 40 mg tiêm dưới da cho mỗi tuần.
Một số thuốc mới và các chất sinh học đang được áp dụng điều trị bệnh vảy nến,
tuy nhiên vì giá thành cao đi kèm với nhiều tác dụng phụ nên mới được áp dụng ít
ở Việt Nam.
4. PHÒNG BỆNH:
Bệnh vảy nến là bệnh da mạn tính và hiện vẫn chưa có phương pháp nào chữa
khỏi hoàn toàn bệnh này. Người bệnh chỉ có thể chung sống hòa bình với nó bằng
cách phòng ngừa phát bệnh, tái phát hoặc hạn chế sự tiến triển của bệnh với các
người có cơ địa vảy nến.
21
Miễn dịch học
7. TÀI LIỆU THAM KHẢO:
1. />%C3%ACh+ph%C3%A1t+tri%E1%BB%83n+c%E1%BB%A7a+t
%E1%BA%BF+b%C3%A0o+T+g%C3%A2y+ho%E1%BA%A1t+h
%C3%B3a+cho+da+%E1%BB%9F+b%E1%BB%87nh+v%E1%BA
%A9y+n%E1%BA
%BFn#tbm=isch&q=+mechanism+of+proriasis&facrc=_&imgdii=_&imgrc
=7Gz60FUR3iichM%253A%3B14-OppCEhWBNzM%3Bhttp%253A
%252F%252Fwww.jaad.org%252Fcms%252Fattachment
%252F2005359461%252F2023114066%252Fgr4.jpg%3Bhttp%253A
%252F%252Fwww.jaad.org%252Farticle%252FS0190-9622(05)03228-
7%252Ffulltext%3B562%3B363
2. />nen.html
3. />tri-c109.html
4. />dich-vay-nen
5. />t1f2w43c849pc702ht5.html#gsc.tab=0&gsc.q=Benh-vay-nen&gsc.page=1
22