TRƯỜNG ĐH HỒNG ĐỨC
KHOA CNTT&TT
BÀI TIỂU LUẬN
HỌC PHẦN KIẾN TRÚC MÁY TÍNH
Đề tài:
“Tìm hiểu và nghiên cứu hệ thống Bus trong máy tính”
SVTH : Bùi Hữu Giáp
Lớp : Đại học tin – K15
MSV : 1261030003
GVHD : Lê Thị Đình
Thanh Hóa, 11/2013
LỜI CẢM ƠN
Trong quá trình học tập tại trường, em đã được học hỏi và tiếp thu nhiều kiến
thức chuyên ngành nhằm nâng cao vốn hiểu biết và là hành trang quí báu giúp chúng
em vững bước vào đời. Em xin gửi lời cảm ơn chân thành đến quý thầy cô đã giảng
dạy chúng em trong suốt thời gian qua, khoa Công Nghệ Thông Tin và truyền thông
cũng như tất cả quý thầy cô trong trường Đại học Hồng Đức. Đặc biệt em xin chân
thành cảm ơn cô Lê Thị Đình - người đã tận tình hướng dẫn em trong suốt thời gian
thực hiện đề tài này.
Tuy nhiên, dù rất cố gắng nhưng do thời gian có hạn nên chắc rằng bài tiểu luận
của em khó tránh khỏi những thiếu sót. Em rất mong nhận được sự thông cảm và đóng
góp ý kiến của quý thầy cô và các bạn đểbài tiểu luận của em được hoàn chỉnh hơn.
Em xin chân thành cảm ơn! Thanh Hóa, 11/2013
Sinh viên thực hiện
Bùi Hữu Giáp
i
2.6.2. Bus không đồng bộ (Asynchronous Bus). 15
2.7. Một số cấu trúc Bus và một số chuẩn Bus mở rộng. 17
2.7.1. Bus PC/XT. 17
2.7.2. Bus ISA (Industry Standard Architecture). 17
2.7.3. Bus EISA (Extended ISA). 18
2.7.4. Bus MCA (Micro Channel Architecture). 18
2.7.5. Bus PCI (Peripheral Component Interconnect). 19
2.7.6. Bus VL (VESA local Bus). 19
2.7.7. Bus nối tiếp đa năng USB (Universal Serial Bus). 19
2.7.8. Bus FireWire. 20
PHẦN III: KẾT LUẬN 22
3.1. Đánh giá 22
3.2. Đề xuất 23
TÀI LIỆU THAM KHẢO 24 ii
CÁC HÌNH VẼ ĐƯỢC SỬ DỤNGHình 1.Cách bố trí chipset điển hình. 6
Hình 2. Back side Bus. 6
Hình 3. Bus hệ thống. 7
Hình 4. Trọng tài Bus tập trung có một mức, mắc nối tiếp. 9
Hình 5.Trọng tài Bus tập trung 1 mức mắc nối tiếp. 9
Hình 6. Trọng tài Bus không tập trung trong MultiBus. 10
Hình 7. Bus PC/XT. 17
Hình 8.Bus ISA. 18
Hình 9. Bus EISA. 18
của máy tính với nhau, giữa các thiết bị ngoại vi với CPU và giữa các thiết bị
ngoại vi với các thành phần bên trong khác của máy tính.
Để mang lại cho các bạn những hiểu biết sâu hơn về hệ thống Bus trong
máy tính, cũng như hiểu được tầm quan trọng của hệ thống Bus đối với chiếc
máy tính mà tôi đã quyết định lựa chọn đề tài “Tìm hiểu và nghiên cứu hệ thống
Bus trong máy vi tính”. Để hiểu và nắm vững hơn về hệ thống Bus trong máy
tính, mời các bạn tìm hiểu phần nội dung đề tài.
1.2. Mục tiêu và nhiệm vụ của đề tài
1.2.1. Mục tiêu đề tài
Đề tài sẽ nghiên cứu các vấn đề liên quan đến hệ thống Bus trong máy tính
- hệ thống phụ chuyển dữ liệu giữa các thành phần bên trong máy tính, hoặc
giữa máy tính với các thiết bị ngoại vi. Đề tài sẽ cung cấp cho các bạn những
kiến thức sâu hơn về hệ thống Bus bao gồm: khái niệm, các thông số của Bus,
cơ chế hoạt động, phân loại….
Tìm hiểu và nghiên cứu hệ thống Bus trong máy tính SVTH: Bùi Hữu Giáp
2
GVHD: Lê Thị Đình1.2.2. Nhiệm vụ đề tài
- Hiểu và nắm vững lịch sử phát triển hệ thống Bus trong máy tính.
- Hiểu và nắm vững chức năng và thông số của Bus.
- Hiểu và nắm vững cơ chế hoạt động của Bus.
- Hiểu và nắm vững cách phân loại Bus.
- Hiểu và nắm vững một số cấu trúc và chuẩn Bus mở rộng.
1.3. Khách thể, đối tượng và phạm vi nghiên cứu
1.3.1. Khách thể nghiên cứu
PHẦN II: NỘI DUNG
2.1. Khái niệm Bus.
Mục đích chính của Bus là lưu thông, vận chuyển tín hiệu, dữ liệu. Trong
máy tính, người ta coi Bus như kênh, tuyến - đường dẫn nội bộ để truyền tín
hiệu giữa bộ Vi xử lý và các bộ phận khác, hoặc thiết bị này và các thiết bị khác
trong hệ thống máy tính.
Nói tóm lại, Bus là tập hợp các đường kết nối để vận chuyển thông tin từ
thành phần này đến thành phần khác trong 1 hệ thống, ở đây hệ thống được nói
đến là hệ thống máy tính.
2.2. Lịch sử phát triển.
1.2.1. Thế hệ đầu tiên.
Trong những máy tính đầu tiên Bus là bó dây gắn vào bộ nhớ máy tính và
thiết bị ngoại vi. Anecdotally gọi là "thân cây số", chúng được đặt tên theo các
Bus cung cấp điện, hoặc các Busbar. Hầu như luôn luôn có một Bus cho bộ nhớ,
và một hoặc nhiều Bus riêng biệt cho thiết bị ngoại vi. Chúng được truy cập
bằng cách hướng dẫn riêng biệt, với định thời và các giao thức hoàn toàn khác
nhau.
Một trong những biến chứng đầu tiên là việc sử dụng các ngắt. Các chương
trình máy tính đầu tiên thực hiện việc nhập/xuất bằng cách chờ đợi trong một
vòng lặp cho đến khi các thiết bị ngoại vi sẵn sàng. Đây là một sự lãng phí thời
gian cho các chương trình có các nhiệm vụ khác để làm. Ngoài ra, nếu chương
trình đã cố gắng thực hiện những nhiệm vụ khác, nó có thể mất quá nhiều thời
gian cho chương trình để kiểm tra một lần nữa, dẫn đến mất dữ liệu. Kỹ sư do
đó bố trí cho các thiết bị ngoại vi làm gián đoạn các CPU. Các ngắt phải được
ưu tiên, bởi vì CPU chỉ có thể thực thi mã cho một thiết bị ngoại vi tại một thời
điểm, và một số thiết bị quan trọng thời gian hơn những thiết bị khác khác.
Hệ thống cao cấp đã giới thiệu ý tưởng của bộ điều khiển kênh, mà chủ yếu
là máy tính nhỏ dành riêng cho bàn giao các đầu vào và đầu ra của một Bus.
IBM đã giới thiệu chúng trên IBM 709 năm 1958, và chúng đã trở thành một
tính hơn là khái niệm Bus nguyên thủy, với một giao thức cao hơn nhu cầu so
với các hệ thống ban đầu, trong khi cũng cho phép nhiều thiết bị sử dụng Bus
cùng một thời điểm.
Các Bus như Wishbone (Bus máy tính) được phát triển bởi các phần cứng
mã mở nhằm nỗ lực loại bỏ các hạn chế về mặt pháp lý cũng như các bằng sáng
chế từ việc chế tạo máy tính.
2.3. Chức năng và các thông số của Bus.
Tìm hiểu và nghiên cứu hệ thống Bus trong máy tính SVTH: Bùi Hữu Giáp
5
GVHD: Lê Thị ĐìnhMột trong những hoạt động và chức năng cơ bản của máy tính đó là truyền
số liệu (data transfer). Sự hoạt động của máy tính do bộ vi xử lí điều khiển. Bộ
vi xử lí và các chíp hỗ trợ khác đến lượt mình cũng thường xuyên phải truyền số
liệu giữa các bộ phận trong và ngoài chúng với nhau.
Vì có rất nhiều bộ phận, khối riêng rẽ trong bản thân các chip và đường
truyền số liệu rất đa dạng, nên một cách hợp lí ta không thể thực hiện các đường
nối giữa các phận, khối từng đôi một với nhau mà ta nối chung tất cả các lối vào
ra của các khối riêng rẻ với nhau lên một hệ thống các đường dẫn chung; hệ
thống này được gọi là Bus.
Các bộ phận, khối được nối lên Bus phải thỏa mãn một số yêu cầu là có khả
năng được cắt ra hoặc nối trở lại theo các lệnh điều khiển. Lúc một output được
cắt ra khỏi Bus, nó ở trạng thái trở kháng cao (High impedance – Hi-Z).
Quy tắc nghiêm ngặt của truyền số liệu là trong mỗi thời điểm, có một và
chỉ một output được cấp số liệu trên Bus. Do đó trong mỗi thời điểm, một output
thường phải đồng thời cấp số liệu cho nhiều input, cho nên nó cần phải có khả
xSốbytetrongmộtlầntruyềntải
Chukìdữliệutheoxungnhịp
2.4. Hệ thống Bus trong máy tính.
Trong hệ thống Bus của
máy tính thì CPU là Bus mater
nắm quyền điều hành toàn bộ
hệ thống Bus. Tuy nhiên, không
chỉ CPU nắm quyền điều hành
hệ thống Bus mà có lúc CPU
cũng phải nhường quyền điều
khiển Bus cho các chíp I/0
(Chipset).
Chipset có nhiệm vụ cho
phép hoặc không cho phép thiết
bị hay thành phần nào của hệ
thống sử dụng Bus để trao đổi
dữ liệu. Trong một thời điểm
thì Bus chỉ được sử dụng để truyền dữ liệu duy nhất giữa 2 thành phần do
chipset điều khiển.
2.4.1. Bus trong vi xử lí và Bus bộ vi xử lí (Back Side Bus - BSB).
Trong các bộ vi xử lí có một hệ thống các Bus
dùng để truyền số liệu, lệnh, các tín hiệu điều
khiển,…giữa các khối lệnh bên trong của nó, hệ
thống Bus này được gọi là Bus trong vi xử lí. Các
đường Bus này được điều khiển bởi khối điều khiển
tùy thuộc vào nội dung lệnh được giải mã hoặc theo
các điều khiển ngắt bên ngoài đưa vào vi xử lí.
Hình 1. Cách bố trí chipset điển hình.
Hình 2.Back side Bus.
2.5. Cơ chế hoạt động.
2.5.1. Nghi thức Bus (Bus protocol).
Khi thiết kế các bộ vi xử lý, có thể tuỳ ý lựa chọn loại Bus bên trong vi xử
lý, còn với các Bus liên hệ với bên ngoài cần phải xác định rõ các quy tắc làm
việc cũng như các đặc điểm kỹ thuật về điện và cơ khí để người thiết kế Main
Board có thể ghép nối vi xử lý với các thiết bị khác. nói cách khác, các Bus này
phải tuân theo một chuẩn nhất định. Tập các quy tắc của chuẩn còn được gọi là
nghi thức Bus (Bus protocol).
Hình 3. Bus hệ thống.
Tìm hiểu và nghiên cứu hệ thống Bus trong máy tính SVTH: Bùi Hữu Giáp
8
GVHD: Lê Thị Đình2.5.2. Bus Driver và Bus Receiver.
Nhiều thiết bị nối ghép và trao đổi thông tin với nhau qua các Bus điều
khiển, Bus địa chỉ và Bus dữ liệu.
Khi một thiết bị muốn trao đổi thông tin với thiết bị khác, đầu tiên nó cần
phải chuyển địa chỉ để phân biệt thiết bị bởi vì mỗi thiết bị bao giờ cũng có một
địa chỉ duy nhất. Đồng thời nó cũng gửi đi một tín hiệu ghi hoặc đọc để xác định
hành động.
Thiết bị chủ (master)là thiết bị khởi đầu và điều khiển việc trao đổi thông
tin còn thiết bị đáp lại gọi là thiết bị tớ (slave), trong hệ thống thường thì CPU
hoặc Chipset là master còn lại là slave.
Các thiết bị master được nối với Bus thông qua một chip được gọi là Bus
driver. Về căn bản, Bus driver đóng vai trò là bộ khuếch đại tín hiệu số, đảm
bảo cho tín hiệu được phát ra từ các thiết bị master đủ mạnh để truyền tới các
Khi thiết bị nằm gần trọng tài nhất nhận được tín hiệu cho phép, nó sẽ kiểm
tra xem có phải chính nó đã phát yêu cầu chiếm Bus không? Nếu đúng thì nó sẽ
chiếm lấy Bus và không truyền tiếp tín hiệu cho phép trên đường dây. Nếu nó
kiểm tra thấy không phải là yêu cầu của mình thì tiếp tục truyền tín hiệu cho
phép tới thiết bị kế tiếp trên đường dây.
Một số loại Bus có nhiều mức độ ưu tiên, với mỗi mức ưu tiên có một
đường dây yêu cầu Bus và một đường dây cho chiếm Bus. Hình 5 là một ví dụ
về Bus có hai mức (các Bus trong thực tế thường có 4, 8 hay 16 mức). Mỗi thiết
bị trong hệ thống máy tính nối với một trong các mức yêu cầu Bus, các thiết bị
thường được sử dụng hơn được gắn với đường dây có mức ưu tiên cao hơn.
Hình 4.Trọng tài Bus tập trung có một mức, mắc nối tiếp.
Hình 5.
Trọng tài Bus tập trung 1 mức mắc nối tiếp.
Tìm hiểu và nghiên cứu hệ thống Bus trong máy tính SVTH: Bùi Hữu Giáp
10
GVHD: Lê Thị ĐìnhNếu có một số thiết bị ở các mức ưu tiên khác nhau cùng yêu cầu, trọng tài
Bus sẽ chỉ phát tín hiệu cho phép đối với yêu cầu có mức ưu tiên cao nhất.
Trong số các thiết bị có cùng mức ưu tiên, thiết bị gần trọng tài Bus hơn sẽ có
quyền ưu tiên cao hơn.
Một số trọng tài Bus có đường dây thứ ba nối tới các thiết bị để các thiết bị
xác nhận việc nhận được tín hiệu cho phép và chiếm dụng Bus, gọi là đường dây
biên nhận acknowledgement (ACK). Ngay sau khi một thiết bị phát tín hiệu tích
cực trên đường dây ACK, trọng Bus có thể đảo tín hiệu trên các đường dây trên
các đường dây yêu cầu Bus và cho phép dùng Bus thành mức không tích cực.
truyền mức tích cực tới tất cả các thiết bị. Khi một đơn vị nào đó muốn chiếm
dụng Bus, đầu tiên nó kiểm tra Bus có rỗi không và kiểm tra đầu vào của đường
trọng tài Bus, nếu thấy có điện áp IN = 5V thì nó có thể xin Bus bằng cách đưa
tín hiệu yêu cầu Bus (Request) và xoá tín hiệu OUT, tức là đặt OUT = 0V. Do
đó các thiết bị ưu tiên thấp hơn sẽ không xin được Bus. Lúc này nó trở thành
Bus master.
5.3.1. Xử lí ngắt
Một chức năng quan trọng của Bus là xử lý ngắt. Khi CPU ra lệnh cho một
thiết bị trong máy tính thực hiện việc đọc, ghi hay xử lý tin, nó thường chờ đợi
tín hiệu ngắt do thiết bị I/O phát ra khi hoàn thành công việc được CPU yêu cầu.
Khi nhận được tín hiệu ngắt, CPU đáp ứng ngay, đó có thể là việc nhận dữ liệu
do thiết bị I/O chuyển về, cũng có thể là việc tiếp tục gửi dữ liệu tới thiết bị I/O
hoặc CPU sử dụng Bus cho một thao tác khác Như vậy chính ngắt phát ra tín
hiệu yêu cầu Bus.
Vì có thể có nhiều thiết bị ngoại vi cùng phát tín hiệu ngắt, cho nên cũng
cần có một cơ chế trọng tài giống như đối với các Bus thông thường. Giải pháp
thường dùng là gán các mức độ ưu tiên cho các thiết bị và sử dụng một trọng tài
tập trung để trao quyền ưu tiên cho các thiết bị và sử dụng một trongh tài tập
trung để trao quyền ưu tiên cho các thiết bị quan trọng thường xuyên được sử
dụng.
Tìm hiểu và nghiên cứu hệ thống Bus trong máy tính SVTH: Bùi Hữu Giáp
12
GVHD: Lê Thị Đình2.6. Phân loại Bus.
Người ta thường phân loại Bus theo ba cách:
SVTH: Bùi Hữu Giáp
13
GVHD: Lê Thị Đình- T2 là thời gian cần thiết để bộ nhớ giải mã địa chỉ và đưa dữ liệu lên Bus
dữ liệu.
- T3 tại sườn xung xuống của T3, MPU nhận dữ liệu trên Bus dữ liệu, chứa
vào thanh ghi bên trong MPU và chốt dữ liệu. Sau đó MPU đảo các tín hiệu
và .
Như vậy đã kết thúc một thao tác đọc, tại chu kỳ máy tiếp theo MPU có thể
thực hiện một thao tác khác.
- T
AD
: theo giản đồ thời gian, T
AD
≤110ns, đây là thông số do nhà sản xuất
đảm bảo, MPU sẽ đưa ra tín hiệu địa chỉ không chậm hơn 110ns tính từ thời
điểm giữa sườn lên của T1.
- T
DS
: Giá trị nhỏ nhất là 50ns, thông số này cho phép dữ liệu được đưa ra
ổn định trên Bus dữ liệu ít nhất là 50ns trước thời điểm giữa sườn xuống của T3.
Yêu cầu về thời gian này đảm bảo cho MPU đọc dữ liệu liệu tin cậy.
Khoảng thời gian bắt buộc đối với T
AD
và T
DS
cũng nói lên rằng, trong
trường hợp xấu nhất, bộ nhớ chỉ có 250 + 250+ 125 - 110 - 50 = 465ns tính từ
MH
, T
RH
: Hai đại lượng này cho biết cần có bao nhiêu thời gian để các tín
hiệu và sẽ được đảo sau khi dữ liệu đã được MPU đọc vào.
- T
DH
: Cho biết bộ nhớ cần phải lưu dữ liệu bao lâu trên Bus sau khi tín
hiệu đã đảo.
Block Transfer, truyền tải khối dữ liệu.
Ngoài các chu kỳ đọc/ghi, một số Bus đồng bộ còn hỗ trợ truyền dữ liệu
theo khối. Khi một thao tác đọc/ghi bắt đầu, Bus master báo cho slave biết có
bao nhiêu byte cần truyền đi, sau đó slave sẽ liên tục đưa ra mỗi chu kỳ một
byte, cho đến khi đủ số byte được thông báo. Như vậy, khi đọc dữ liệu theo
khối, n byte dữ liệu cần n+2 chu kỳ, thay cho 3n chu kỳ như trước.
Cách khác làm cho Bus truyền dữ liệu nhanh hơn là làm cho các chu kỳ
ngắn lại. Trong ví dụ trên, mỗi byte được truyền đi trong 750ns, vậy Bus có dải
thông là 1.33MBs. Nếu xung đồng hồ là 8MHz, thời gian một chu kỳ chỉ còn
một nửa, giải thông sẽ là 2.67MBs.
Tuy vậy việc giảm chu kỳ Bus dẫn đến các khó khăn về mặt kỹ thuật, các
bit tín hiệu truyền trên các đường dây khác nhau trong Bus không phải luôn có
cùng vận tốc, dẫn đến một hiệu ứng, gọi là Bus skew.
Khi nghiên cứu về Bus cần phải quan tâm đến vấn đề tín hiệu tích cực nên
là mức thấp hay mức cao. Điều này tuỳ thuộc vào người thiết kế Bus xác định
mức nào là thuận lợi hơn.
Ký
hiệu
Tham số Min
Max
SVTH: Bùi Hữu Giáp
15
GVHD: Lê Thị Đìnhđồng hồ T1
T
DS
Thời gian thiết lập dữ liệu trước sườn xuống của tín
hiệu đồng hồ T3
50
T
MH
Thời gian trễ
của so với sườn xuống của tín
hiệu đồng hồ T3
85
T
RH
Thời gian trễ của
so với sườn xuống của tín hiệu
đồng hồ T3
85
T
DH
bộ. Minh hoạ sự hoạt động của Bus không đồng bộ, trong đó master yêu cầu đọc
bộ nhớ.
Trước hết master cần phát ra địa chỉ nhớ mà nó muốn truy cập, sau đó phát
tín hiệu tích cực để báo rằng nó muốn truy cập bộ nhớ chứ không phải
cổng I/O. Tín hiệu này là cần thiết vì bộ nhớ và các cổng I/O đều có thể dùng
chung một miền địa chỉ. Tiếp theo master phải phát tín hiệu tích cực để bên
slave biết rằng master sẽ thực hiện thao tác đọc chứ không phải là thao tác ghi.
Các tín hiệu và được đưa ra sau tín hiệu định địa chỉ bao lâu tuỳ
thuộc vào tốc độ của master. Sau khi hai tín hiệu này đã ổn định, master sẽ phát
tín hiệu đặc biệt, là (Master SYNchronization) ở mức tích cực để báo cho
slave biết rằng các tín hiệu cần thiết đã sẵn sàng trên Bus, slave có thể nhận lấy.
Khi slave nhận các tín hiệu này, nó sẽ thực hiện công việc với tốc độ nhanh nhất
có thể được (nhanh chóng đưa dữ liệu của ô nhớ yêu cầu lên Bus dữ liệu). Khi
hoàn thành, slave sẽ phát tín hiệu (Slave SYNchronization) tích cực.
Khi master nhận được tín hiệu tích cực, nó biết rằng dữ liệu của
slave đã sẵn sàng và thực hiện việc chốt dữ liệu, sau đó đảo các đường địa chỉ
cũng như các tín hiệu và và .
Khi slave nhận được sự đảo tín hiệu thành không tích cực, nó biết
rằng một chu kỳ đã kết thúc và đảo tín hiệu . Bây giờ Bus lại trở lại trạng
thái ban đầu, mọi tín hiệu đều là không tích cực, tất cả sẵn sàng chờ Bus master
mới.
Việc đưa lên mức tích cực dẫn đến việc truyền dữ liệu ra Bus dữ
liệu và đồng thời cũng dẫn đến việc slave phát ra tín hiệu tích cực. Đến
lượt mình, tín hiệu lại gây ra sự đảo mức của các đường địa chỉ,
và và . Cuối cùng sự đảo mức của lại gây ra sự đảo mức tín
hiệu và kết thúc một chu kỳ đọc.
Full handshake.
Tìm hiểu và nghiên cứu hệ thống Bus trong máy tính
Đầu tiên, ISA bus 8bit (còn gọi là PC bus) được thiết kế cho mainboard của
máy tính XT/8088, với đặc tính sau:
- Độ rộng bus dữ liệu 8 bit.
- Làm việc với tần số 4.77MHz (bằng tần số xung clock của bộ vi xử
lý).
Hình 7.Bus PC/XT.
Tìm hiểu và nghiên cứu hệ thống Bus trong máy tính SVTH: Bùi Hữu Giáp
18
GVHD: Lê Thị Đình- Tốc độ truyền dữ liệu giữa CPU và các
thiết bị ngoại vi là lMBps.
- Khe mở rộng ISA gồm 62 chân (31
chân trên mỗi cạnh) gồm 3 đưòng dây
đất, 5 đường dây nguồn, hai mươi
đường dây địa chỉ, 8 đường dây dữ liệu
(8bit), 10 đưòng dây tín hiệu ngắt và 16
đường dây tín hiệu điều khiển. Card mở
rộng cũng được thiết kế tương thích
gồm 62 chân.
Sau đó bus ISA được cải tiến để phù hợp với yêu cầu của máy tính
AT/80286:
- Độ rộng bus dữ liệu 16 bit.
- Tần số làm việc: 8MHz.
- Tốc độ truyền dừ liệu: 5MBps
- Khe cắm gồm hai đoạn tách rời nhau: một đoạn 62 chân như bus XT
Là loại Bus có tốc độ tương đối cao và phổ
biến thay thế cho ISA và EISA. Và là Bus cục bộ:
- Hoạt động ở tần số 33 MHz, sau đó được
nâng cấp lên 66 MHz (phiên bản PCI 2.1).
- Độ rộng bit dữ liệu là 32 và 64bit.
- Băng thông tối đa là khoảng 66 MBps.
- Bus này kết nối với Bus vi xử lí thông qua 1
chip cầu nối đặc biệt là cầu PCI.
- Cho phép thiết kế tối đa 5 cổng mở rộng. Thông thường có 3 đến 4 khe
cắm trên bản mạch chính là: card màn hình, điều khiển ổ đĩa, cầu chuyển sang
ISA và các mạch khác.
2.7.6. Bus VL (VESA local Bus).
Bus VL cũng giống như PCI nhưng Bus VL
hoạt động ở tần số 50MHz cho nên băng thông cực
đại có thể lên tới 107Mbps.
Về cơ bản băng thông của Bus VL và PCI cao
lý do là phụ thuộc xung nhịp của vi xử lí nên tránh
được hiện tượng thắt cổ chai”.
2.7.7. Bus nối tiếp đa năng USB (Universal Serial Bus).
Là công nghệ mới nhưng được phát triển
nhanh chóng và đã trở thành chuẩn giao tiếp ngoại
vi thông dụng nhất hiện nay. Là một giao diện
mạnh, đơn giản và đễ sử dụng, có thể kết nối được
127 thiết bị theo kiểu nối tiếp.
Ở chuẩn USB 2.0:
- Băng thông tối đa đạt 480Mbps, vẫn là
chuẩn USB thông dụng nhất hiện nay.
Hình 11.Bus PCI.
Hình 12. Bus VL.
Hình 13.Bus nối tiếp đa năng USB.
với các chuẩn USB 1.1, USB 2.0, USB 3.0 trước đó.
2.7.8. Bus FireWire.
Firewire hay còn gọi là IEE-1394 là Bus cho phép thiết bị ngoại vi trao đổi
dữ liệu với máy tính theo kiểu nối tiếp.
Băng thông tối đa đạt 400Mbps, Bus nối tiếp nhanh sau USB 2.0.