Bài dự thi tìm hiểu chính sách pháp luật về bình đẳng giới tại Việt Nam (111 trang) - Pdf 24

BÀI DỰ THI TÌM HIỂU CHÍNH SÁCH, PHÁP LUẬT VỀ BÌNH ĐẲNG GIỚI
PHẦN MỞ ĐẦU
KHÁI LƯỢC CHUNG
VỀ VẤN ĐỀ BÌNH ĐẲNG GIỚI Ở VIỆT NAM

1
BÀI DỰ THI TÌM HIỂU CHÍNH SÁCH, PHÁP LUẬT VỀ BÌNH ĐẲNG GIỚI
Bình đẳng giới là việc nam, nữ có vị trí, vai trò ngang nhau, được tạo
điều kiện và cơ hội phát huy năng lực của mình cho sự phát triển của cộng
đồng, của gia đình và thụ hưởng như nhau về thành quả của sự phát triển
đó (Luật Bình đẳng giới - 2006).
Thực trạng bất bình đẳng về Giới, đã có một bước tiến khá dài trên
toàn thế giới kể từ năm 1910, là năm mà “Tuyên ngôn về quyền bình đẳng
của phụ nữ” được công bố tại Hội nghị Copenhagen do Rosa Luxemburg
và Krupskaia Constantinovna chủ trì. Trong Tuyên ngôn đó, lần đầu tiên
vấn đề bình đẳng cho phụ nữ đi làm việc được đặt ra với các nguyên tắc
cơ bản "Làm việc ngày 8 tiếng (để chăm sóc gia đình); giờ làm ngang
nhau thì tiền công phải được trả ngang nhau; Phụ nữ lao động có con nhỏ
phải được dành thời gian cho con bú)".
Từ đó đến nay, hơn 100 năm đã trôi qua. Từ chỗ không thừa nhận
phụ nữ đi làm việc và không thể có cương vị xã hội như nam giới, trong
hơn 100 năm qua, chúng ta có phụ nữ trong danh sách đoạt giải Nobel mà
Marie Curie là người đầu tiên. Chúng ta có phụ nữ là Tổng thống, Phó
2
BÀI DỰ THI TÌM HIỂU CHÍNH SÁCH, PHÁP LUẬT VỀ BÌNH ĐẲNG GIỚI
Tổng thống (Phó chủ tịch Nước), Chủ tịch Quốc Hội và Phó chủ tịch
Quốc hội, Thủ tướng, Bộ trưởng quốc phòng, Bộ trưởng ngoại giao, Bộ
trưởng Thương mại, Bộ trưởng Tài chính (là những Bộ mà hơn hai thập
niên trước chưa từng có phụ nữ đảm trách trong các chính phủ). Chúng ta
có các nữ Hiệu trưởng Đại học ở Việt Nam và một số đại học khác trên
thế giới. Chúng ta có các nữ Tổng biên tập báo và truyền hình. Chúng ta

Ngay từ ngày đầu mới lập nước Việt Nam Dân chủ Cộng hoà, trong
phần mở đầu bản Tuyên ngôn Độc lập ngày 2 tháng 9 năm 1945, Chủ tịch
Hồ Chí Minh tuyên bố:“Tất cả mọi người đều sinh ra có quyền bình đẳng.
Tạo hóa cho họ những quyền không ai có thể xâm phạm được; trong
những quyền ấy, có quyền được sống, quyền tự do và quyền mưu cầu
hạnh phúc".
Hiến pháp đầu tiên của nhà nước Việt Nam Dân chủ Cộng hoà, Hiếp
pháp 1946, đã ghi nhận “Tất cả quyền binh trong nước là của toàn thể
nhân dân Việt Nam, không phân biệt nòi giống, gái trai, giàu nghèo, giai
cấp, tôn giáo” (Điều 1). “Đàn bà ngang quyền với đàn ông về mọi phương
diện” (Điều 9).
Trong suốt cuộc đời hoạt động cách mạng của mình, Chủ tịch Hồ
Chí Minh luôn dành suối nguồn nghĩa tình sâu nặng, trân quý các thế hệ
phụ nữ Việt Nam. Tại lễ kỷ niệm lần thứ 20 ngày thành lập Hội Liên hiệp
Phụ nữ Việt Nam, Người đã ôn lại truyền thống yêu nước đầy tự hào của
người phụ nữ Việt Nam với hình ảnh Hai Bà Trưng phất cờ khởi nghĩa,
đánh giặc, cứu dân thủa trước “cho đến nay mỗi khi nước nhà gặp nguy
nan thì phụ nữ ta đều hăng hái đứng lên, góp phần xứng đáng của mình
vào sự nghiệp giải phóng dân tộc”. Tại Đại hội liên hoan phụ nữ “Năm
Tốt” vào ngày 30-4-1964, Người đã khẳng định “Ngay từ lúc đầu, Đảng
và Nhà nước ta đã thi hành chính sách đối với phụ nữ cũng được bình
quyền, bình đẳng với đàn ông”.
Trong cuộc Tuyển cử phổ thông đầu phiếu ngày 6-1-1946, Người
5
BÀI DỰ THI TÌM HIỂU CHÍNH SÁCH, PHÁP LUẬT VỀ BÌNH ĐẲNG GIỚI
vui sướng nói "Phụ nữ là tầng lớp đi bỏ phiếu hăng hái nhất". Trong bản
di chúc viết tháng 5 năm 1968, Người đã căn dặn: "Trong sự nghiệp chống
Mỹ, cứu nước, phụ nữ đảm đang ta đã góp phần xứng đáng trong chiến
đấu và trong sản xuất, Ðảng và Chính phủ cần phải có kế hoạch thiết thực
để bồi dưỡng, cất nhắc và giúp đỡ để ngày thêm nhiều phụ nữ phụ trách

Bình đẳng giới trong lĩnh vực chính trị
“Báo cáo phát triển con người năm 2011” cho biết tỷ lệ phụ nữ trong
cơ quan lập pháp của Việt Nam là 25,8%. Theo Tổ chức Liên minh Nghị
viện thế giới (Inter-Parliamentary Union) thì Việt Nam đứng thứ 40 trong
tổng số 188 nước trên thế giới về tỷ lệ phụ nữ trong cơ quan lập pháp (số
liệu tính đến ngày 30/11/2011 trên cơ sở báo cáo của cơ quan lập pháp các
nước). So với các nước trong khu vực Đông Nam Á, Việt Nam xếp thứ 3,
sau Timor Leste và Lào.
Bản đồ thế giới về tỷ lệ phụ nữ trong cơ quan lập pháp, 2011.
Trang tin Nhóm Nữ nghị sỹ Việt Nam (thuộc Uỷ ban Các vấn đề xã
7
BÀI DỰ THI TÌM HIỂU CHÍNH SÁCH, PHÁP LUẬT VỀ BÌNH ĐẲNG GIỚI
hội của Quốc hội) và website Quốc hội cho biết, tỷ lệ nữ đại biểu Quốc
hội ở nước ta liên tục tăng lên trong thời gian qua và duy trì ở mức cao. Tỷ
lệ này đã tăng từ 3% (Quốc hội khoá I từ 1946-1960) đến trên 24% Quốc
hội khoá XIII (2011-2016).
Biểu 2: Tỷ lệ nữ đại biểu Quốc hội từ Khoá I-XIII.
Không chỉ chiếm tỷ lệ cao trong cơ quan lập pháp, phụ nữ Việt Nam
còn tham gia, nắm giữ những vị trí quan trọng và đóng góp tích cực trong
các cơ quan hành pháp, tư pháp, các tổ chức chính trị, tổ chức chính trị xã
hội, tổ chức chính trị xã hội nghề nghiệp… Phụ nữ Việt Nam cũng có một
tổ chức chính trị riêng của mình đó là Hội Liên hiệp Phụ nữ Việt Nam
được ra đời (ngày 20/10/1930) từ trước cách mạng Tháng 8 năm 1945
hoạt động vì sự bình đẳng, phát triển của phụ nữ, chăm lo bảo vệ quyền và
lợi ích hợp pháp của phụ nữ. Tổ chức này với hàng chục triệu hội viên
hoạt động rộng khắp trên cả nước từ trung ương đến địa phương và tận các
thôn, buôn, sóc, bản, làng.
Bình đẳng giới trong các lĩnh vực xã hội
Kế thừa những truyền thống tốt đẹp của dân tộc ta và thực hiện
những lời di huấn của Bác, Đảng và Nhà nước ta luôn chăm lo và thực

BÀI DỰ THI TÌM HIỂU CHÍNH SÁCH, PHÁP LUẬT VỀ BÌNH ĐẲNG GIỚI
chủ yếu thuộc về khu vực thương mại, dịch vụ, sản xuất, chế biến nông
sản, thủy sản. Nhiều tấm gương phụ nữ trẻ làm kinh tế giỏi không những
chỉ làm giàu cho bản thân mà còn đóng góp được nhiều cho xã hội. Theo
UNDP thì tại Việt Nam nếu nam giới kiếm được 1$ thì nữ giới sẽ kiếm
được 0,69$ (số liệu năm 2007). Điều này khác xa so với nhiều nước trên
thế giới. Khi phụ nữ có việc làm, họ sẽ có thu nhập và mang đến sự tự chủ
về kinh tế, sự chia sẻ các quyết định trong gia đình và các cơ hội bình
đẳng hơn đối với phụ nữ.
Bản đồ thế giới về tỷ lệ thu nhập giữa nam và nữ.
Điều tra Dân số-KHHGĐ 1/4/2011 của TCTK cho thấy tỷ lệ sử
dụng các biện pháp tránh thai của phụ nữ 15-49 tuổi năm 2011 là 78,2%,
trong đó các biện pháp tránh thai hiện đại là 68,6%; tổng tỷ suất sinh là
1,99 con. Tỷ lệ các bà mẹ khám thai từ 3 lần trở lên trong thời kỳ mang
thai là 76%. Nếu theo tiêu chí của UNDP (ít nhất 1 lần khám thai) thì tỷ lệ
này của Việt Nam là 93,8%. Thành công của chương trình DS-KHHGĐ
trong thời gian qua đã mang đến nhiều cơ hội lớn cho phụ nữ trong việc
tiếp cận và thụ hưởng các quyền, dịch vụ về y tế-dân số-KHHGĐ. Cũng
theo TCTK, tỷ suất chết trẻ em dưới 1 tuổi năm 2011 của Việt Nam là
15,%o.
Theo WHO và UNDP thì tỷ suất chết bà mẹ của Việt Nam là 56 (trên
10
BÀI DỰ THI TÌM HIỂU CHÍNH SÁCH, PHÁP LUẬT VỀ BÌNH ĐẲNG GIỚI
100,000 trẻ sinh ra sống). Số trường hợp sinh có sự giúp đỡ của cán bộ y tế
là 88%. Mức chết giảm cùng với việc ứng dụng thành tựu khoa học kỹ
thuật trong lĩnh vực y tế và điều kiện kinh tế xã hội của đất nước tốt hơn đã
làm tuổi thọ của người dân ngày một tăng, trong đó, tuổi thọ của phụ nữ
luôn cao hơn nam giới. Theo 2011 World population data sheet thì tuổi thọ
của phụ nữ Việt Nam hiện nay là 76 và nam giới là 70 tuổi.
Việt Nam có lịch sử về bình đẳng giới một phần là kết quả của truyền

chọn, không bị áp chế và kỳ thị, phân biệt đối xử, không bị tuớc đoạt vô lý
quyền cơ bản của con người. Bất bình đẳng giới không chỉ phương hại đến
quyền của những cá nhân đó mà sẽ là gánh nặng kéo lùi sự phát triển của
xã hội.
Trong hiện tại, khoảng cách giữa nam và nữ trên các lĩnh vực kinh tế,
giáo dục, chính trị, xã hội…hầu như được thu hẹp. Theo số liệu thống kê
mới nhất: tỷ lệ nam giới và phụ nữ tham gia hoạt động kinh tế ở mức gần
bằng nhau: nữ 83%, nam 85%. Phụ nữ tham gia ngày càng nhiều vào các
hoạt động kinh tế, tạo việc làm và giữ vai trò chính trong một số ngành. Tỉ
lệ lao động có việc làm được duy trì thường xuyên, chênh lệch giữa nam
và nữ chỉ 1,2% (49,4% nữ; 50,6% nam có việc làm). Tỉ lệ biết chữ của
nam từ 10 tuổi trở lên chỉ cao hơn tỉ lệ biết chữ của nữ 6%. Khoảng cách
nhập học của học sinh nam, nữ trong tất cả các cấp bậc học được thu hẹp.
Hiện tượng bỏ học sớm của trẻ em gái đã được cải thiện. Tính trung bình
trong các năm học, tỉ lệ tốt nghiệp của học sinh nữ cao hơn nam; 100% trẻ
em gái từ 11-14 tuổi tốt nghiệp chương trình tiểu học và được vào lớp 6
trong lĩnh vực y tế và chăm sóc sức khoẻ, cho thấy rất rõ về thành tựu bình
12
BÀI DỰ THI TÌM HIỂU CHÍNH SÁCH, PHÁP LUẬT VỀ BÌNH ĐẲNG GIỚI
đẳng giới. Tuổi thọ bình quân của người Việt nam hiện nay là 72,8 tuổi,
phụ nữ là 75,6 tuổi (tăng 5,5 tuổi so với năm 1999), nam giới là 70,2 tuổi
(tăng 3,7 tuổi so với năm 1999). Tỉ lệ phụ nữ khám thai, được chăm sóc y
tế khi mang thai tăng. Trong lĩnh vực chính trị, số lượng và chất lượng
phụ nữ tham gia quản lý nhà nước, quản lý xã hội và các tổ chức, doanh
nghiệp ngày càng tăng. Trong Quốc hội, tỷ lệ nữ đại biểu nhiệm kỳ 1997-
2002 là 26,2%; nhiệm kỳ 2002-2007 là 27,3%, nhiệm kỳ 2007-2011 là
25,76%, xếp thứ 31 trên thế giới; nhiệm kỳ 2011 – 2016, là 24,40%.
Trong hơn 15 năm qua, Việt Nam luôn có Phó chủ tịch nước là nữ. Trong
gia đình, tiếng nói của phụ nữ khi quyết định các vấn đề lớn, quan niệm về
con trai, con gái đã có nhiều thay đổi tích cực. Mức độ sở hữu và kiểm

Trải qua quá trình phấn đấu không ngừng, hiện nay Bình đẳng giới
của Việt Nam được Liên hợp quốc đánh giá là điểm sáng trong việc thực
hiện các mục tiêu thiên niên kỷ, là một trong những nước có thành tựu về
bình đẳng giới cao. Chỉ số phát triển con người (HDI ) tăng từ 0,649 năm
1995 lên 0,688 năm 2003 và 0,725 năm 2009. Chỉ số phát triển giới (GDI)
năm 2007 là 0,732 so với HDI là 0,733, tương đương 99,9%. Việt Nam là
một trong những nước dẫn đầu thế giới về tỷ lệ phụ nữ tham gia các hoạt
động kinh tế, là quốc gia đạt được sự thay đổi khá lớn về xóa bỏ khoảng
cách giới trong 20 năm qua ở khu vực Đông Á.
Với truyền thống đạo lý dân tộc Việt, với những phẩm chất ưu việt
của phụ nữ Việt Nam, sự quan tâm của Đảng, Nhà nước, cộng đồng và
thiết thân hơn cả là sự vươn lên mạnh mẽ của mỗi cá nhân, phụ nữ Việt
Nam đã, đang và ngày càng khẳng định được vị thế của mình trên mọi mặt
14
BÀI DỰ THI TÌM HIỂU CHÍNH SÁCH, PHÁP LUẬT VỀ BÌNH ĐẲNG GIỚI
của đời sống xã hội, góp phần quan trọng vào việc thực hiện thành công
Chiến lược Quốc gia về bình đẳng giới giai đoạn 2011-2020, đạt được các
mục tiêu thiên niên kỷ về bình đẳng giới và nâng cao vị thế người phụ
nữ./.
15
BÀI DỰ THI TÌM HIỂU CHÍNH SÁCH, PHÁP LUẬT VỀ BÌNH ĐẲNG GIỚI
PHẦN II
TRẢ LỜI CÂU HỎI
Câu 1
Câu hỏi: Luật bình đẳng giới quy định bao nhiêu thuật ngữ
16
BÀI DỰ THI TÌM HIỂU CHÍNH SÁCH, PHÁP LUẬT VỀ BÌNH ĐẲNG GIỚI
liên quan tới bình đẳng giới? Nêu các nội dung cụ thể của từng
thuật ngữ và cho 2 ví dụ minh hoạ cho 2 thuật ngữ bất kỳ?
Trả lời

vậy giới có thể thay đổi được. Ví dụ: nữ thường để tóc dài, nam thường để
tóc ngắn.
Khái niệm giới đề cập đến những khác biệt về mặt xã hội do các
nhóm xã hội con người tạo ra. Những quan niệm về giới luôn nảy sinh từ
tính chất của các quan hệ xã hội và của những hình thái tổ chức xã hội
khác nhau. Bản chất xã hội của giới được thể hiện rõ trong sự khác nhau
giữa các đặc tính và các hoạt động được coi là của nam giới và nữ giới khi
thực hiện so sánh trong các nền văn hoá, giữa các tầng lớp xã hội và các
nhóm dân tộc trong cùng một nền văn hoá, hoặc thay đổi theo thời gian.
Như vậy, giới là một khái niệm bao hàm một nội dung khá đa dạng
thể hiện sự khác biệt về mặt xã hội giữa nam giới và phụ nữ như vai trò,
thái độ, quan niệm, sự phân công lao động, sức khỏe. Vai trò của cả nam
và nữ là khác nhau nên cả hai có những vị trí xã hội không giống nhau.
Tuy nhiên, không thể dựa vào những khác biệt này để tạo sự phân biệt đối
xử không bình đẵng về giới mà những khác biệt giữa phụ nữ và nam giới
phải được công nhận và đánh giá một cách bình đẳng. Vai trò, vị thế và
quyền lợi pháp lý của phụ nữ phải được tôn trọng và bảo đảm.
2. “Giới tính” chỉ các đặc điểm sinh học của nam, nữ.
19
BÀI DỰ THI TÌM HIỂU CHÍNH SÁCH, PHÁP LUẬT VỀ BÌNH ĐẲNG GIỚI
Giới tính là sự khác biệt về mặt sinh học giữa nam giới và phụ nữ
không thể thay đổi được. Chỉ có một số khác biệt nhỏ về vai trò của nam
và nữ về mặt sinh học và sinh lý trên cơ sở giới tính. Ví dụ như việc mang
thai, sinh nở và sự khác biệt về sinh lý có thể là do các đặc điểm giới tính.
Tuyên truyền đến tận vùng sâu vùng xa
Khi sinh ra, con người không mang những đặc tính giới. Những đặc
tính giới chỉ được hình thành trong quá trình hoạt động ở gia đình và
ngoài xã hội. Bắt đầu từ khi sinh ra đứa trẻ đã được đối xử tùy theo trai
hay gái. Mọi người vẫn quen rằng, với trẻ gái thì cho chơi búp bê, dụng cụ
nấu ăn. Cũng bởi con người thường có suy nghĩ mang tính áp đặt về

BÀI DỰ THI TÌM HIỂU CHÍNH SÁCH, PHÁP LUẬT VỀ BÌNH ĐẲNG GIỚI
năng và thực hiện các mong muốn của mình; có cơ hội bình đẳng để tham
gia, đóng góp và thụ hưởng từ các nguồn lực của xã hội và quá trình phát
triển; được hưởng tự do và chất lượng cuộc sống bình đẳng; được hưởng
thành quả bình đẳng trong mọi lĩnh vực của xã hội.
Bình đẳng giới không phải là sự hoán đổi vai trò của nam, nữ từ thái
cực này sang thái cực khác và cũng không phải là sự tuyệt đối hóa bằng
con số hoặc tỉ lệ 50/50 mà là sự khác biệt về giới tính trong các vai trò
sản xuất, tái sản xuất, vai trò chính trị và cộng đồng, đặc biệt là sự chia sẻ
công việc gia đình, chăm sóc các thành viên gia đình để tạo cơ hội và điều
kiện cho nam, nữ phát triển tòan diện về mọi mặt. Đồng thời tạo điều kiện
và cơ hội cho phụ nữ bù đắp những khoảng trống do việc mang thai, sinh
con và gánh vác phần lớn lao động gia đình đem lại.
Mục tiêu bình đẳng giới:
Mục tiêu bình đẳng giới là xóa bỏ phân biệt đối xử về giới, tạo cơ
hội như nhau cho nam và nữ trong phát triển kinh tế - xã hội và phát triển
nguồn nhân lực, tiến tới bình đẳng giới thực chất giữa nam, nữ và thiết
lập, củng cố quan hệ hợp tác, hỗ trợ giữa nam, nữ trong mọi lĩnh vực của
đời sống xã hội và gia đình.
4. “Định kiến giới” là nhận thức, thái độ và đánh giá thiên lệch, tiêu
cực về đặc điểm, vị trí, vai trò và năng lực của nam hoặc nữ.
Các nghiên cứu đã chỉ ra rằng, giữa phụ nữ và nam giới không có sự
khác biệt về mặt xã hội, mà chỉ có sự khác biệt về mặt sinh học. Tuy
nhiên, trong thực tế, cho đến bây giờ các định kiến giới vẫn còn tồn tại và
có thể gặp ở nhiều nhóm xã hội: cả phụ nữ và nam giới, cả trong cán bộ
lãnh đạo - những người có vai trò quyết định đối với việc hoạch định và
thực hiện chính sách đối với phụ nữ và người dân.
22
BÀI DỰ THI TÌM HIỂU CHÍNH SÁCH, PHÁP LUẬT VỀ BÌNH ĐẲNG GIỚI
Phụ nữ nghèo dân tộc còn chịu nhiều bất bình đẳng

5. “Phân biệt đối xử về giới” là việc hạn chế, loại trừ, không công
nhận hoặc không coi trọng vai trò, vị trí của nam và nữ, gây bất bình đẳng
giữa nam và nữ trong các lĩnh vực của đời sống xã hội và gia đình.
Từ định kiến giới dẫn đến phân biệt đối xử về giới. Trong tình hình
hiện nay, do yêu cầu công việc, nhiều phụ nữ phải đầu tư nhiều thời gian
mới nâng cao được chuyên môn, nghiệp vụ. Nếu chỉ cần có thêm một ít
thời gian trong ngày công việc của họ sẽ tốt hơn, có thể đem lại rất nhiều
lợi ích cho nhiều người. Nếu vừa làm tốt bổn phận trong gia đình vừa làm
tốt công việc xã hội thì như vậy, nhiều phụ nữ phải gánh vác gấp đôi trách
nhiệm, bởi họ không những làm việc để kiếm thu nhập, mà còn là người
chủ yếu đảm đương các vai trò làm mẹ, làm vợ trong gia đình. Nếu xét
tương quan thời gian lao động trong một ngày giữa phụ nữ và nam giới
cho thấy, thời gian lao động của phụ nữ nhiều hơn, bởi họ phải làm các
công việc gia đình nhiều hơn (thời gian làm việc trung bình của phụ nữ là
13 giờ/ngày trong khi của nam giới chỉ khoảng 9 giờ). Do vậy, phụ nữ ít
có thời gian để học tập, nghỉ ngơi, giải trí và tham gia hoạt động xã hội so
với nam giới.
Vì những lý do gia đình mà nhiều phụ nữ chấp nhận tụt hậu, hoặc
phấn đấu có chừng mực, chỉ ở mức độ hoàn thành công việc. Đó cũng là
lý do cùng được đào tạo như nhau mà nam giới phát triển tốt hơn, có vị trí
24
BÀI DỰ THI TÌM HIỂU CHÍNH SÁCH, PHÁP LUẬT VỀ BÌNH ĐẲNG GIỚI
cao hơn, được học hành đào tạo chuyên môn cao hơn. Đó cũng là nguyên
nhân tụt hậu của giới nữ trong giáo dục, đào tạo, trong khoa học, công
nghệ và cả trong lãnh đạo và quản lý.
Phụ nữ nông thôn gánh vác nhiều công việc nặng nhọc, độc hại
Tại không ít tổ chức, cơ quan, một số phụ nữ không được đề bạt làm
lãnh đạo (ngay cả khi người phụ nữ này có trình độ và kinh nghiệm phù
hợp) bởi mọi người vẫn cho rằng, chỉ có nam giới mới nên làm việc “đại
sự”, phụ nữ thì chỉ nên làm việc công việc nhẹ nhàng để có thời gian dành


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status