1
TrÇn TrÇn Nh· Uyªn
ĐẶC TRƯNG THI PHÁP
VĂN HỌC DÂN GIAN
VIỆT NAM
T©n D©n, ngµy 30 th¸ng 03 n¨m 2009
2
Văn học Việt Nam thời trung đại phát triển suốt chiều dài mười thế kỷ xã hội phong kiến. Đây là một thời kỳ
văn học có tầm quan trọng đặc biệt góp phần làm nên diện mạo văn chương, tư tưởng, mỹ học của dân tộc.Văn học
3
Giới thiệu chung về văn học trung đại Việt
Nam
3 2. Con người đạo đức 21
THI PHÁP CỦA VĂN HỌC TRUNG ĐẠI
VIỆT NAM
3 3. Con người phi cá nhân: 23
A. Đặc trưng thi pháp 3
4. Con người ý thức:
24
1. Ước lệ trong văn học nói chung 4 ĐẶC TRƯNG CỦA VĂN HỌC TRUNG ĐẠI 26
2. Ước lệ trong văn học trung đại Việt Nam 4
1. Tính song ngữ trong các thể loại văn học
trung đại
26
B. Thiên nhiên trong văn học trung đại 10
2. Văn học trung đại chịu sự chi phối mạnh mẽ
của tư tưởng kinh điển, tôn giáo:
26
1. Không gian nghệ thuật 11
3. Văn học trung đại chịu ảnh hưởng sâu sắc
KẾT LUẬN 30
trung i l thi kỡ vn hc bt u vo th k X v kt thỳc vo na th k XIX.
Vn hc trung i Vit Nam chu chi phi bi t tng phong kin, chu nh hng ca vn hoỏ Trung
Quc.
Gn 10 th k phỏt trin trong lũng xó hi phong kin, s phỏt trin ca vn hc trung i gn lin vi nn
tng m hc phong kin. ú l nhng sỏng tỏc nm trong h thng thm m riờng do quan nim m hc phong kin
quy nh. Vn hc trung i Vit Nam ó em li nhng thnh tu ln cho vn hc trung i nc nh. Mi tỏc
phm giỳp ta hiu ra suy ngh, cm xỳc ca con ngi c th trong mt thi i c th, hiu v sng vi cỏc tỏc phm
ca dõn tc lm ta nm tri c nhng suy ngh v cm xỳc ca vụ s ngi, vụ s hon cnh, vụ s thi i tht a
dng. Vn hc trung i Vit Nam, vỡ th cú nhng c trng ni bt m ngi nghiờn cu cng nh ging dy phi
nm c nhng du hiu c trng v xem ú nh l mt chỡa khúa m cỏnh ca vo tỏc phm m khụng b lc
trong mờ cung ca ngh thut. Bi th, nghiờn cu, ging dy v thng thc vn hc trung i l i tỡm chiu sõu v
b rng ca t tng thm m ang luõn l trong dũng chy vn chng y. cú th khỏm phỏ, phỏt hin mt cỏch
khoa hc, ỳng bn cht tỡnh cm thm m ca b phn vn hc ny, chỳng ta khụng th khụng quan tõm n vn
thi phỏp.
THI PHP CA VN HC TRUNG I VIT NAM
A. c trng thi phỏp:
* Tìm hiểu chung về thi pháp:
- Khái niệm: Thi pháp có hai cách hiểu. Thứ nhất, đó là các nguyên tắc, biện pháp chung để
làm cho một văn bản trở thành một tác phẩm nghệ thuật. Thứ hai, thi pháp là các nguyên tác, biện
pháp nghệ thuật cụ thể để tạo nên giá trị đặc sắc của một tác phẩm, tác giả, trào lu.
Vn hc bao gi cng c l bi vỡ vn hc khụng phi l i sng thc ti. Nú l c l ca i sng thc ti.
c l l mt th quy c ca mt cng ng ngi. Nú l mt tớn hiu riờng ca cng ng y.trong vn
hc ngh thut, nú l c l thm m ca mt cng ng gii vn ngh. VD: Ngụ ng nht dip lc. Thiờn h cng
tri thu (Mt chic lỏ ngụ ng rng. Thiờn h bit mựa thu ó v). Nh vy, hỡnh nh lỏ ngụ ng l c l cho mựa
thu. Nu cõu vn th no cú hỡnh nh ny, mi ngi s mc nhiờn hiu rng cõu vn y ang núi v mựa thu.(Tt
nhiờn núi v mựa thu khụng ch cú hỡnh nh lỏ ngụ ng, m cũn cỏc hỡnh nh khỏc nh: sen tn, cỳc n, lỏ )
Tuy nhiờn, vn hc trung i s dng c l ph bin hn, phc tp va 2nghiem6 ngt hn vn hc dõn gian hay vn
hc hin i. Nú tr thnh mt c trng thi phỏp. (Lý do: xó hi phong kin l xó hi ng cp -> nghi l -> c l)
1. c l trong v n h c n ú i chung:
chng tt phi c l. Tng lp Nho hc xem sỏch xa, li núi cu thỏnh hin, ngi trc l chun mc thỡ vn
chng khụng th khụng t n nhng mu mc v bỳt phỏp, dựng t, xõy dng hỡnh nh, hỡnh tng, s dng in
tớch, in c, Vi cỏc nh vn thi ny vn chng phi Vn d ti o, Thi d ngụn chớ; sỏng tỏc vn hc l
hỡnh thc trc th lp ngụn, nờn vn chng c l mi p, mi sang trng. Trong tỏc phm, nh vn cng s dng
nhiu ngh thut c l chng no thỡ cng uyờn ỏo, cng p; mi thc hin c chc nng giỏo dc o lý ca nú;
mi gúp phn hỡnh thnh mu ngi phong kin lý tng.
b. c l bao gm ba tớnh cht:
- Tớnh uyờn bỏc v cỏch iu húa cao .
- Tớnh sựng c.
- Tớnh phi ngó.
b.1: Tớnh uyờn bỏc v cỏch iu húa cao ụ:
- Khụng phi ngu nhiờn vn hc chớnh thng thi phong kin c mờnh danh l vn chng bỏc
hc (Vn hc dõn gian gi l vn hc bỡnh dõn). Gi nh th, vn chng mang trong mỡnh nú tớnh bỏc hc. Ngi
sỏng tỏc phi bỏc hc v ngi tip nhn cng rt bỏc hc. Bi õy l loi vn chng phũng khỏch, tr d t hu.
5
Văn học chính thống thời phong kiến thờng đợc gọi là văn chơng bác học
(phân biệt với văn chơng bình dân). Gọi là văn chơng bác học vì đội ngũ sáng tác và độc giả của nó
là những trí thức (Hán học) tài hoa, gọi là những bậc tao nhân mặc khách. Các nhà văn trung đại
sáng tác trớc hết là để bày tỏ cái chí của mình, Không Lộ làm Quốc tộ vốn để dành cho vua Lý.
Chính vì vậy, họ thông làu kinh sử, thuộc nhiều điển cố, điển tích, tờng tận những thi liệu, văn liệu
rút ra từ những áng văn bất hủ thời xa. Giống nh các nho sĩ khi đi thi phải thuộc làu tứ th, ngũ kinh.
Thậm chí, họ còn cho rằng: Nếu trong bụng không có vạn quyển sách, trong mắt không có vạn
cảnh núi sông của thiên hạ thì không thể làm thơ hay đợc. Đó chính là tính uyên bác trong văn học.
- Văn chơng bác học còn có khuynh hớng lí tởng hoá để tạo ra một thế giới nghệ thuật
riêng khác với đời sống thực tại. Cái có thật đi vào nghệ thuật đợc cách điệu hoá cao độ.
+ Trong sự cách điệu hoá đó, thiên nhiên chính là chuẩn mực, là khuôn vàng
thớc ngọc để đánh giá vẻ đẹp. Vì vậy, các nhà văn đều lấy thiên nhiên để so sánh với con ngời để
tôn vinh vẻ đẹp. Nhng đến thời hiện đại, quan niệm này bị đảo ngợc, con ngời mới là tiêu chuẩn cho
cái đẹp:
+ Ngời xa coi thờng văn xuôi vì văn xuôi gần với đời sống thực tại, ít đợc cách
của các trang văn thời này luôn được các nhà văn cách điệu hóa cao độ. Hình tượng nghệ thuật càng cách điệu hóa
càng đẹp.
Quan niệm này đã làm nấy sinh thái độ xem thường văn xuôi, trong thơ ca. Trong cái nhìn của các nhà văn
và độc giả văn học thời phong kiến, văn xuôi gần với đời sống thực tại, ít được cách điệu hóa; thơ mới là thứ ngôn
ngữ giàu tính cách điệu. Con người trong văn chương phải đẹp một cách lý tưởng: tóc mây, mày liễu, mặt hoa, tay
tiên, gót sen, vóc hạc, Cử chỉ, đi đứng, ăn nói tựa như đang sống trong thế giới của nghệ thuật sân khấu:
Hài văn lần bước dặm xanh
Một vùng như thể cây quỳnh cành dao
Chàng Vương quen mặt ra chào
Hai Kiều e lệ nép vào dưới hoa
(Nguyễn Du)
Tạo vật thiên nhiên đi vào văn chương cũng phải thật sang quý và đẹp như mai, cúc, tùng, bách,
liễu,
Ngàn mai gió cuốn chim bay mỏi
Dặm liễu sương sa khách bước dồn
(Bà Huyện Thanh Quan)
- Nhìn chung, văn chương thời ấy không chú ý tả thực. Tả thực nếu có, chỉ dùng cho những nhân vật
phản diện phàm tục như Mã giám sinh, Sở Khanh, Tú bà; Bùi Kiệm, Trịnh Hâm:
Thoắt trông nhờn nhợt màu da
Ăn chi cao lớn đẫy đà lám sao ?
(Nguyễn Du)
Con người Bùi Kiệm máu dê
Ngồi thề lê mặt như sề thịt trâu !
(Nguyễn Đình Chiểu)
Thời bấy giờ, người ta quan niệm con người không hòan thiện, hòan mỹ bằng tạo hóa, không tài hoa
bằng hóa công. Vì thế, những gì cần lý tưởng hóa đều phải được so sánh với thiên nhiên, thiên nhiên trở thành chuẩn
mực cho cái đẹp của con người. Con những tiểu nhân chỉ có thể so sánh với xác của chúng,mới tả thực.
-Văn học chính thống thời phong kiến được gọi là văn chương bác học, phân biệt với văn chương
bình dân của tầng lớp lao động. Văn chương chính thống là văn chương của những người trí thức Nho học, Hán học
7
ca khụng ai cú th vt qua nhng thi thỏnh, thi thn nh Lý Bch, Ph, Bch C D,
- Chớnh vỡ vy, cỏc nh vn i sau thng tp c vay mn vn liu, thi t, hỡnh nh ngh thut
ca cỏc nh th, nh vn i trc m khụng b anh giỏ l o vn. Ngc li, h c ỏnh giỏ l mt cõy bỳt
o c, sang trng; tỏc phm ca h rt giu gớa tr.
- Ngời trung đại quan niệm thời gian là tuần hoàn, đi hết một vòng rồi lại quay trở về
gốc chu nhi phục thuỷ. Vì thế, ngời ta hết sức coi trọng quá khứ, coi trọng sự khởi đầu, coi trọng
ngời già, ngời lớp trớc (cổ nhân, tiền bối, tiên sinh). Xã hội hoàng kim phải là thời Nghiêu Thuấn,
8
chuẩn mực cái đẹp và chân lý cũng nằm ở quá khứ. Vì thế, văn học trung đại đầy rẫy điển cố, điển
tích. Mẫu mực của văn chơng là các tác giả đời trớc nh Lý Bạch, Đỗ Phủ, Bạch C Dị.
Lặp lại hoặc mô phỏng văn chơng của ngời xa chẳng những không bị chê trách là đạo
văn mà còn đợc coi là tài ba, thành công. Còn những sáng tạo mới lạ, độc đáo thờng không đợc
không đợc khuyến khích, thậm chí bị coi là phi chính thống. Vì thế, các tác giả ngày trớc luôn cố
gắng đa đợc các điển tích, điển cố vào sáng tác.
Con ngi trung i cm th thi gian khỏc con ngi hin i: thi gian l xoay trũn, tun hon.
Thi gian khụng mt i m quay tr li gục ngun. Vỡ th ngi ta coi trng quỏ kh, coi trng ngi gi. Do ú,
chun mc ca cỏi p, cỏi lớ tng l quỏ kh. Xó hi hong kim l thi Nghiờu, Thun (D cú Ngu cm n mt
ting. Dõn giu khp ũi phng Nguyn Trói). Anh hựng lớ tng l K Tớn, Do Vu, D Nhng (K Tớn em
mỡnh cht thay, cu thoỏt cho Cao ; Do Vu chỡa lng chu giỏo, che ch cho Chiờu Vng; D Nhng nut than,
bỏo thự cho ch; Hch Tng S). Vn chng ngh lun thng ly tin l lớ l v kinh nghim ca c nhõn.
Vn hc trung i y ry nhng in c, in tớch
b.3: Tớnh phi ngó:
- Thời phong kiến ý thức cá nhân cha phát triển. Con ngời luôn đợc đặt trong quan hệ
ràng buộc với cộng đồng, họ hàng, tầng lớp. Chính vì thế, hôn nhân không phải là chuyện riêng t, tự
nguyện của hai ngời mà là vấn đề môn đăng hộ đối của hai gia đình, dòng họ. Ngời có văn hóa, giáo
dục là ngời biết thu nhỏ, hạ thấp cái tôi cá nhân của mình lại. Vì thế, trong văn học, yếu tố cá nhân
cũng bị giấu đi, khiến văn chơng có tính phi ngã: không có dấu ấn cái tôi cá nhân. Nhà văn hiếm khi
xng tôi, xng ta, không bộc lộ trực tiếp cảm xúc mà dùng lối gián tiếp: tả cảnh ngụ tình. Nói chung,
họ thờng sử dụng các công thức có sẵn để sáng tác chứ không sáng tạo ra cái mới. Tả anh hùng thì
phải râu hùm, hàm én, vai năm tấc rộng, thân mời thớc cao, tả mĩ nhân thì làn thu thuỷ nét xuân sơn,
cho ngi lm th phi din t th gii bng thớnh giỏc cú tinh phi ngó ca cng ng tao nhõn mc khỏch. B cc
th cng nh sn, bt di bt dch. Ngay c tiờu th cng quanh qun: ngụn hũai, thut hoi, ngụn chớ,
Ngi vit vn lm th cú mt kho in c, kho thi liu, vn liu chung. Tt c u l nhng hỡnh
nh, nhng ngụn t c l phi ngó. Núi chuyn tri õm, tri k thỡ mt xanh chng ai vo, núi tỡnh yờu l d thỡ cú
chuyn Thụi Oanh Oanh, Trng Quõn Thy. Núi ngi ph n ti hoa thỡ vớ nh nng Ban, T. Cha m l huyờn
ng, v chng l tao khang. Nh quờ hng thỡ trụng ỏng mõy Tn xa xa Tt c u cú ngun gc trong vn
chng c Trung Hoa m ngi vit vn, lm th cng nh ngi c vn, c th phi thụng tho.
- Tuy nhiờn, núi vn hc trung i cú tớnh phi ngó khụng cú ngha trong tỏc phm vn chng khụng
cú du n bn ngó ca ngi ngh s. Bi lao ng ngh thut l mt hat ng sỏng to; vn hc chõn chớnh khụng
chp nhn cụng thc, phi ngó. Trong vn hc thi trung i ca dõn tc ta, cỏc cõy bỳt ln u khng nh t tng,
cỏ tớnh v ti ngh c ỏo ca h. Tin trỡnh vn hc ó khng nh iu ú. Chỳng ta khụng th ph nhn cỏ tớnh
sỏng to ca Nguyn Du, H Xuõn Hng, Nguyn Cụng Tr, Cao Bỏ Quỏt, Nguyn Khuyn, Trn T Xng, Tn
, Ch cú iu, do tớnh qui phm ngh thut; nờn s khỏc bit trong t tng v phong cỏch ngh thut ca cỏc cõy
bỳt y ch l nhng bin thc khỏc nhau ca s vn dng nhng chun mc chung ca cng ng vn hc by gi m
thụi.
* Nói chung tính uyên bác, tính cách điệu hoá, sùng cổ và phi ngã có mối quan hệ
chặt chẽ với nhau và đều là biểu hiện cho tính ớc lệ của thi pháp văn học trung đại.
B. Thiờn nhiờn trong vn hc trung i:
Th tc cnh cng nh tranh sn thy chim mt v trớ quan trng trong i sng ngh thut phong kin. (Do
thi y con ngi sng gia thiờn nhiờn, trc tip khai thỏc thiờn nhiờn bng hai bn tay mỡnh).
Tuy nhiờn cng bi sng gia thiờn nhiờn nh th nờn con ngi cha tỏch khi thiờn nhiờn nh l khỏch th.
Con ngi cm nhn thiờn nhiờn nh l ch th. Thiờn nhiờn cú hai c tớnh:
10
-Được cảm nhận và thể hiện một cách tinh vi như muốn khám phá cái linh hồn ẩn kín của tạo vật
-Thiên về màu sắc đạm bạc. đường nét thanh tao nhưng thiếu sức sống ngồn ngộn tươi rói của thiên
nhiên thực tại, phồn thực
1. Không gian ngh ệ thu ậ t :
Không gian là nơi con người tồn tại. Trong tác phẩm văn học, không gian nghệ thuật chính là những nơi chốn,
địa điểm được diễn tả trong tác phẩm.
Trong tác phẩm văn học không gian nghệ thuật được chia thành các hình thức sau:
Còn sống mà có khoảng cách về tâm lí thì gần cũng trở nên xa.
2. Thiên nhiên có đ ị a v ị danh d ự trong v ă n ch ươ ng:
11
Vai trò của thiên nhiên trong thơ văn trung đại:
- Trong văn chơng xa, thiên nhiên là yếu tố rất phổ biến và đóng vai trò hết sức quan
trọng trong việc biểu lộ tình cảm, ý chí của con ngời. Ngời xa coi thiên nhiên là một ngời bạn để họ
tâm tình, thổ lộ. Hồ Chí Minh đã từng tổng kết điều đó trong bài Cảm tởng đọc Thiên gia thi:
Cổ thi thiên ái thiên nhiên mĩ
Sơn thuỷ yên hoa tuyết nguyệt phong
Đặc điểm của thiên nhiên trong văn học trung đại
Thiên nhiên cha đợc nhìn nhận nh là một khách thể, một hiện thực khách quan của
cuộc sống có vẻ đẹp, giá trị riêng. Thiên nhiên thờng chỉ là công cụ, là t liệu, là cái cớ để nhà văn
ngụ ý giáo huấn:
Xuân qua trăm hoa rụng
Xuân tới trăm hoa tơi
Trớc mắt việc đi mãi
Trên đầu, già đến rồi
Chớ bảo xuân tàn hoa rụng hết
Đêm qua sân trớc một nhành mai.
(Mãn Giác)
Cành mai nở trớc sân trong đêm cuối xuân vốn là hình ảnh rất đẹp về đờng nét, màu
sắc, đặc biệt là bối cảnh. Nhng có thể đó chỉ là một hình ảnh ớc lệ, một chi tiết h cấu, một bông hoa
nở từ trong tâm hồn thiền s. Vì thế, bông hoa ấy không đợc miêu tả hình xác thực mà chỉ xuất hiện
nh một công cụ chuyển tải ý tởng của nhà thơ: sự sống là bất diệt. Tuổi già, bệnh tật của con ngời
cũng giống nh thời khắc xuân tàn của thiên nhiên không huỷ diệt đợc sự sống.
Câu chuyện về Mạc Đĩnh Chi: khi đi sứ Trung Quốc, ông đợc mời đến dinh thự của tể
tớng dự tiếc. Trong đó có bức tranh thêu hình con chim sẻ đậu trên cành trúc. Mọi ngời đều khen là
kiệt tác. Không ngờ MĐC lao đến xé rách bức tranh. Ai cũng bất bình và lo sợ cơn thịnh nộ của tế t-
ớng. MĐC vẫn ung dung giải thích: cây trúc vốn dĩ biểu tợng cho ngời quân tử, chim sẻ lại là biểu t-
ợng cho kẻ tiểu nhân. Vẽ chim sẽ đậu trên cành trúc khác nào đặt tiểu nhân bên trên quân tử, vì vậy
Thu ăn măng trúc đông ăn giá
Xuân tắm hồ sen hạ tắm ao
(Nguyễn Bỉnh Khiêm)
Điều này khác với văn chương hiện đại. Văn chương hiện đại tôn trọng sự sống riêng của tạo vật
thiên nhiên. Thiên nhiên được miêu tả như là một khách thể.
b. Từ tư tưỏng và quan niệm trên, văn chương trung đại đã miêu tả thiên nhiên theo một bút pháp đặc biệt:
không tả hình xác của tạo vật mà gợi tả linh hồn của thiên nhiên. Thiên nhiên trở thành ý niệm tượng trưng, dấu hiệu
tượng trưng, chứa đựng những cảm giác, cái không thấy của con người. Thiên nhiên là nơi gởi gắm những tư tưởng,
tình cảm hay triết lý của con người.
Xuân đến trăm hoa nở
Xuân đi trăm hoa rụng
Đừng bảo xuân tàn hoa rụng hết
Đêm qua sân trước một nhành mai
(Mãn Giác Thiền sư)
- Thiên nhiên có linh hồn nên cũng sang hèn, quân tử tiểu nhân như con người. Các nhà thơ xưa
không chấp nhận cái thấp hèn, những sự vật tầm thường nên thiên nhiên trong thơ họ luôn là những tạo vật cao sang.
13
Các nhà thơ bầu bạn hay tri âm tri kỷ với thiên tao nhã, sang trọng như: “Sơn thủy yên hoa tuyết nguyệt phong” (Hồ
Chí Minh). Họ tự ví mình như cốt cách phong độ của “Mai, lan, cúc, trúc” hay “Tùng, cúc, trúc, mai”.
Quét trúc bước qua lòng suối
Thưởng mai về đạp bóng trăng
(Nguyễn Trãi)
Hay:
Nghêu ngao vui thú yên hà
Mai là bạn cũ hạc là người thân
(Nguyễn Du)
- Họ đối lập thiên nhiên tao nhã với thiên nhiên phàm tục, tầm thường cũng là để đối lập họ với
những kẻ tiểu nhân, phàm phu đắc thế:
Phượng những tiếc cao diều hãy lượn
(D nguyt hnh chu-Lờ H Trỏc)
- Thiờn nhiờn luụn c tỏi hin bng cm xỳc dt do, tỡnh cm lng sõu ca ngi lm th. Nhng
vn th ó trớch l mt thớ d. c nhng vng th ca Trn Nhõn Tụng, Lờ Quý ụn, Lờ Hu Trỏc, ta nh nghe thy
hi th nhp iu tõm hn ca cỏc thi nhõn y. Th ca cỏc thi nhõn y l tõm hn sỏng lỏng, nhõn cỏch cao c, phong
thỏi t ti ca chớnh h gia chn i bi bm ny.
C. Mt th gii ngh thut phi thi gian:
Con ngi trung i cú hai nhn thc v thi gian:
-Quan sỏt cn cnh cuc sng hng ngy, trong gii hn vi mụ, ngi ta nhn thc v thi gian tuyn
tớnh, mt i khụng tr li (thi gian nh búng cõu qua ca s, bt kh lai) -> thi gian ca cuc i trn th, phm
tc.
-Quan sỏt t th gii v mụ, cm thy v tr vn ng tun hon, thi gian chu kỡ, thi gian xoay trũn,
khụng i mt m tnh, ngng ng. -> thi gian ca cừi tri, tiờn, th gii thanh cao v bt t.
VD: Hong Hc nht kh bt phc phn
Bch võn thiờn ti khụng du du.
- Từ kinh nghiệm quan sát trực cảm thế giới ngời ta có hai nhận thức về thời gian:
+ Thời gian của đời ngời, của cuộc sống hàng ngày là thời gian tuyến tính, một
đi không trở lại.
+ Thời gian của thiên nhiên, đất trời, vũ trụ là thời gian chu kỳ, tuần hoàn, phi
thời gian.
+ Ngời xa thờng đặt hai loại thời gian này trong thế đối sánh để làm nổi bật
những nỗi niềm, triết lí, hoặc bi kịch của đời ngời.
Xuân qua trăm hoa rụng
Xuân tới trăm hoa tơi
Trớc mắt việc đi mãi
Trên đầu, già đến rồi
Chớ bảo xuân tàn hoa rụng hết
Đêm qua sân trớc một nhành mai.
(Mãn Giác)
Thiếu tiểu li gia, lão đại hồi
Hơng âm vô cải mấn mao tồn
Mn hỡnh nh din t thi gian
Sen tn cỳc li n hoa
Su di ngy ngn thu sang ụng.
Hay:
Tri bao th ln ỏc t
y m vụ ch ai m ving thm.
Hoc:
Ngy vui ngn chng ty gang
Trụng ra ỏc ó ngm gng non oi.
Mn õm thanh din t bc chuyn ca thi gian
16
+ Tiếng gà.
+ Tiếng tù và.
+ Tiếng trống thu không.
+ Tiếng chuông.
2. Quan ni ệ m th ờ i gian:
a. Con người thời cổ đại và trung đại chưa xem thời gian và không gian như những phạm trù trừu tượng. Thời
ấy, người ta cảm nhận thời gian bằng sự trực cảm, bằng những tín hiệu không gian, bằng sự vận động của thiên nhiên
và sự sống của con người. Bước đi của thời gian được theo dõi bằng thời tiết bốn mùa, bằng thời vụ nông tang, bằng
sen tàn, cúc nở, bằng oanh vàng liễu biếc hay tiếng Đỗ quyên kêu.
Thuở đăng đồ mai chưa dạn gió
Hỏi ngày về chỉ độ đào bông.
Hay:
Thuở lâm hành oanh chưa bén liễu
Hỏi ngày về ước nẻo quyên ca.
(Chinh phụ ngâm-Đặng Trần Côn)
b. Từ kinh nghiệm trực cảm, người xưa có hai nhận thức về thời gian:
- Quan sát cận cảnh hằng ngày, nhận thức thời gian tuyến tính một đi không trở lại. Thời gian tuyến
tính vận động mau lẹ, đầy hình ảnh, đầy màu sắc cụ thể và giàu chất sống. Thời gian tuyến tính là thời gian của thế
giới phàm tục
Lưng giậu phất phơ màu khói nhạt
Làn ao lóng lánh bóng trăng loe
(Thu ẩm)
D. Quan niệm con người trong văn chương trung đại:
*. Nhân v ậ t .
Con người anh hùng, đại diện cho tư tưởng, đạo đức phong kiến.
Con người anh hùng được miêu tả dựa theo các khuôn mẫu đã có sẵn:
"Râu hùm, hàm én, mày ngài
Vai năm tấc rộng, thân mười thước cao".
Con người anh hùng trong văn học trung đại là con người vô ngã (Không nói đến cá nhân).Vô ngã là một
phạm trù đặc trưng của văn học trung đại. Vì trong xã hội phong kiến, con người chưa tách khỏi môi trường xã hội,
còn gắn chặt với cộng đồng, gắn chặt với đất nước. Cá nhân tồn tại trong đất nước. Cá nhân gắn chặt với gia tộc, với
dòng dõi. Con người trung đại thấy mình gắn chặt với cộng đồng là một điều tự nhiên, là vinh dự, là đạo lí nên cảm
thấy vui sướng, tự hào. Họ chưa khẳng định rõ bản ngã của mình. Điều đó chi phối đến sáng tác, liên quan đến ý
nghĩa hình tượng trung tâm trong các tác phẩn văn học. Bởi vậy, văn chương tập trung diễn tả lí tưởng sống lớn lao.
Lí tưởng sống của người anh hùng, lập danh, lập công, lập đức mang lại lợi ích cho cho đất nước, cho cộng đồng.
Ngoài kiểu con người anh hùng, trong văn học trung đại còn có kiểu con người đời thường. Con người đời
thường biết vui, biết buồn, biết giận, biết hờn. Họ có cuộc sống lam lủ, vất vả. Ví dụ như: Cuộc sống con người được
diễn tả trong ca dao- dân ca:
"Râu tôm nấu với ruột bầu
Chồng chan, vợ húp gật đầu khen ngon".
Hoặc trong "Thượng kinh kí sự" của Lê Hữu Trác.
Tuy nhiên từ thế kỷ XVI trở đi, do nguyên nhân kinh tế, chính trị tác động mạnh vào xã hội, sự tự ý thức về
cá nhân có sự chuyển hóa. Con người có ý thức đòi quyền sống và quyền được thể hiện tài năng của mình. Vì vậy, từ
con người vô ngã đã chuyển sang con người hữu ngã. Điều đó làm cơ sở cho văn chương nghệ thuật phát triển lên
một bước mới. Chính sự phát triển mạnh mẽ của tính hữu ngã đã góp phần làm phong phú thêm các thể loại văn học ở
giai đoạn sau.
1. Con ng ườ i v ũ tr ụ :
18
Con người nhìn thế giới như một thể thống nhất và mỗi con người là một yếu tố trong hệ thống ấy. Cá
Nợ tang bồng vay trả trả vay
Chí làm trai nam bắc đông tây
Cho phỉ sức vẫy vùng trong bốn bể
(Nguyễn Cổng Trứ)
+ Người đẹp là người sánh ngang với sự hòan mỹ của vũ trụ và khiến trời đất cũng ghét ghen:
Làn thu thủy nét xuân sơn
Hoa ghen thua thắm liễu hờn kém xanh
(Kiều- Nguyễn Du)
19
Hoc:
Chỡm ỏy nc cỏ l lng
Lng lng tri nhn ngn ng sa
(Cung úan ngõm-Nguyn Gia Thiu)
b. Con ngi v tr luụn ng x theo quy lut tun hũan ca v tr, õm dng tiờu trng. T tng ú l
thiờn mnh. Thm nhun t tng trờn, nờn ngi quõn t xut x, hnh tng mt cỏch ung dung thanh thn: gp
tai bin khụng lo s su nóo, gp vn may khụng vui mng c chớ. H luụn sng theo khỏi nim Thi, theo qui
lut: b tc thỏi, cựng tc thụng. Trong vn chng xa, ta thng thy hỡnh nh con ngi sng theo o tri, bc i
cựng to húa. H khoan thai, ung dung, hũa mỡnh vo thiờn nhiờn; thm chớ mun nhp hn vo v tr:
Trờn i cú thụng
Muụn dm bic mụng lung
Ta thnh thi nm ng bờn trong
(Nguyn Trói)
c. Ngời xa quan niệm con ngời là một phần của thế giới trong trục thiên - địa - nhân. Vì thế
cá nhân đợc thể hiện trong quan hệ với vũ trụ hơn là trong quan hệ với xã hội.
- Thi đề quen thuộc của thơ trữ tình là con ngời một mình đối diện, đàm tâm với thiên nhiên
vũ trụ:
Tiền bất kiến cổ nhân
Hậu bất kiến lai giả
Niệm thiên đại chi du du
Độc thờng nhiên nhi lệ hạ
D rn vic trc, lnh dố thõn sau
(Nguyn ỡnh Chiu)
Hay:
Thin cn ti lũng ta
Ch tõm kia mi bng ba ch ti
(Nguyn Du)
d. Nhỡn chung, con ngi trung i quan nim th gii cú tớnh cht lng nguyờn. H cho rng, cừi trn gian
ti li v cừi tri cao c thỏnh thin. Hng v cao c, thỏnh thin; nờn vn chng thng thiờn v cỏi p phi vt
cht, phi tớnh dc, phi thõn xỏc. Hỡnh tng vn hc ch yu c xõy dng bng th giỏc, thớnh gớỏc. Hỡnh tng v
giỏc, nht l xỳc gớac b xem l thụ tc, phi m hc.
e. Toàn bộ xã hội trung đại dợc nhìn nhận trong một hệ thống tôn giáo đạo đức. Cho nên con
ngời luôn đợc nhìn nhận ở phơng diện đạo đức luân lý. Vì thế, văn chơng xa chia xa hội thành hai
tuyến: thiện ác, tốt xấu. Mục đích, chức năng nổi bật của văn chơng xa là giáo huấn:
Trai thời trung hiếu làm đầu
Gái thì tiết hạnh làm câu trau mình.
(Lục Vân Tiên).
- Chính vì vậy, con ngời sống theo luân lý đạo đức, theo lí trí thì đợc coi là chân chính;
còn những ngời sống theo xúc cảm, theo những ớc muốn trần thế, nhân bản thì bị coi thờng, chê
trách.
- Vì sống theo quy tắc đạo đức nên con ngời ngày xa sống rất trọng tình nghĩa:
Tình và nghĩa
21
Tớng Tề đa quân tiến đánh nớc Lỗ, trên đờng thấy một phụ nữ cắp hai đứa nhỏ chạy trốn. Bị
lính đuổi, bà bỏ một đứa lại nhng vẫn không thoát đợc. Tớng Tề hỏi đứa bé bị bỏ là con ai. Ngời phụ
nữ trả lời đó là con ruột tôi, còn đứa đợc mang theo là cháu tôi. Con là tình riêng, cháu là nghĩa công
nên tôi phải chọn nh vậy. Tớng Tề nghĩ ngời Lỗ ai cũng coi trọng nghĩa công tình hơn riêng nh vậy
thì sao đánh chiếm nớc họ đợc, bèn rút quân về. Vua Lỗ phong ngời đàn bà nọ là Nghĩa Cô.
Mua đợc nghĩa
Mạnh Thờng Quân thời Chiến Quốc là ngời hết sức giàu có và nghĩa hiệp. Một hôm ông nhờ
một môn khách là Phùng Huyên đi đòi nợ. Phùng Huyên hỏi: Tiền đòi nợ, ông có muốn dùng để
ming cỏc nhõn vt, bt nhõn vt núi h mỡnh. Do vy, nhõn vt thiu cỏ tớnh, tớnh cỏch. Nhõn vt nu cú tớnh cỏch thỡ
tớnh cỏch cng rừ rng, n gin v bt bin.
e. Con ngời thời trung đại không đợc sống theo cái tôi của riêng mình mà bị trói buộc bằng
những qui tắc, lễ giáo của xã hội.
- Thủ pháp thể hiện tâm lý phổ biến là thủ pháp ngoại hiện. Tiểu thuyết nặng về hành đông,
lời nói của nhân vật cùng với sự kiện, cốt truyện hơn là khai thác tâm lý trực tiếp. Không có ngôn
ngữ nhân vật mà chỉ có lời ngời viết truyện đặt vào các vai truyện. Độc thoại nội tâm theo nghĩa
đích thực lại càng không có.
- Chú ý đến con ngời xã hội hơn con ngời tự nhiên, chú ý đạo đức hơn trí tuệ và bản năng.
- Con ngời do Trời sinh và chịu sự chi phối của Trời về tính và mệnh
+ Tính: con ngời sinh ra vốn mang tính thiện, sẵn mầm mống nhân, nghĩa, lễ, trí. Nh-
ng do hoàn cảnh mà nhiều khi bị nhiễm tính ác vì thế cần phải tu thân để hoàn thiện.
+ Mệnh: giàu nghèo, sớng khổ, sống chết là do số Trời. Nhng con ngời phải tự chịu
trách nhiệm về trí và ngu, có đức và vô đức.
4. Con ng i ý th c:
a. Nhng vn quan nim v con ngi trỡnh by trờn l xột v i th, xột trong mt giai an vn hc t
th k X-u th k XVIII. Trong thc tin i sng vn hc, tỏc gi ny, tỏc phm kia khụng phi l khụng cú con
ngi cỏ nhõn ý thc v cỏi tụi ca mỡnh. Nht l giai an cui th k XVIII.
b. Xó hi phong kin Vit Nam cui th k XVIII ri vo tỡnh trng khng hang sõu sc. Mi chõn giỏ tr
ca xó hi b o ln hay bng hoi. õy cng l thi i khi ngha ca nụng dõn. Chớnh t iu kin xó hi y, ý
thc cỏ nhõn bt u tri dy. Con ngi cỏ th cm thy b trúi buc nng n phi lý ca o lý, ca l giỏo phong
kin, ca h thng c l thm m phong kin.
c. Trong i sng vn hc, nhiu tỏc phm cú tớnh cht phn phong xut hin nh Cung úan ngõm khỳc,
Truyn Kiu; nhiu tỏc gi dừng dc khng nh cỏi tụi ca mỡnh nh H Xuõn Hng, Phm Thỏi, Cao Bỏ Quỏt,
Nguyn Cụng Tr,
c1 - Cú th n c th H Xuõn Hong minh chng cho iu ó núi trờn. H Xuõn Hng l n s ó
a cỏi tụi ca mỡnh vo th, ó trng ra cỏ tớnh ni lan trờn nhng trang vit ca mỡnh. H Xuõn Hng ó lm v
tung h thng c l nghiờm ngt ca vn hc trung i.
Trong th H Xuõn Hng, nhng gỡ gi l hin nhõn quõn t u b phm tc húa, i thng húa.
H cng chng sang quý gỡ m cng mi gi chn chõn, ó mi gi chn chõn nhng vn c trốo ốo Ba di, cng
nhàn hưởng lạc và cái ta hơn người, cái riêng tư tự hào, tự cho là đủ. Tất cả tạo nên một con ngươi cá nhân trong thơ
hài hòa, tự tin, phong lưu, tự do, đứng trên mọi sự tính tóan được mất khen chê. Đấy là bước phát triển cao nhấy của ý
thức cá nhân mang nội dung phong phú, hài hòa trong văn học Việt Nam thời trung đại.
Phải chăng con người ý thức cá nhân cá thể của văn học giai đọan này sẽ là tiền đề cho sự tiếp nối và
phát triển con người cá nhân trong văn chương giai đọan sau này, khi có sự hội nhập với nền văn hóa phương Tây
hiện đại ?
ĐẶC TRƯNG CỦA VĂN HỌC TRUNG ĐẠI
1. Tính song ng ữ trong các th ể lo ạ i văn h ọ c trung đ ạ i :
Thời trung đại do bị bắt buộc, tiếng Việt chịu ảnh hưởng sâu rộng của tiếng Hán, chữ Hán, văn hóa Hán.
Tiếng Hán “trở thành một thứ tiếng nằm trong quỹ đạo của quy luật âm và ngữ âm lịch sử tiếng Việt và văn học chữ
Hán của các nhà văn Việt Nam là một bộ phận của văn học Việt Nam. Hai thứ tiếng, hai bộ phận văn học đáp ứng nhu
cầu của đời sống xã hội. tình hình đó tạo nên hiện tượng song ngữ trong văn học. tính song ngữ tạo thành đặc điểm
văn học của nhiều thành phần và không chỉ thể hiện trong dòng văn học chữ Hán và Nôm tách biệt, mà còn thể hiện ở
sự xâm nhập, pha trộn của văn học Hán và Nôm.
24
Đồng thời do ý thức hệ trong việc sử dụng ngôn ngữ nên ngôn ngữ được chia thành hai loại: ngôn ngữ tao nhã và
ngôn ngữ tầm thường.
2. Văn h ọ c trung đ ạ i ch ị u s ự chi ph ố i m ạ nh m ẽ c ủ a t ư t ưở ng kinh đi ể n, tôn giáo:
Tư tưởng kinh điển và tôn giáo đã cung cấp cảm hứng, đề tài, chủ đề và gợi ý các thể loại văn học trung đại.
các tôn giáo và học thuyết phật, Nho, Đạo đã ảnh hưởng và tạo nên những nét đặc thù trong quan niệm của người
trung đại về bản chất vũ trụ, không gian và thời gian, thiên nhiên, con người. Tư tưởng tôn giáo và kinh điển còn đem
lại hệ quả quan trọng như: phân biệt văn học linh thiêng và phàm tục; hạn chế sự biểu hiện cá nhân và ý thức cá nhân;
mặt khác đem đến việc đề cao nội dung đạo đức và tính chất giáo huấn, văn học có mối quan hệ trực tiếp với tư tưởng.
những quan điểm này có quan hệ đến việc hình thành những đặc trưng về nội dung và hình thức nghệ thuật của văn
chương trung đại. Vì vậy muốn lí giải những vấn đề thuộc về bản chất của văn chương, cái hay cái đẹp của tác phẩm
văn chương thời trung đại tất yếu phải dựa trên những quan niệm nghệ thuật đặc thù về thế giới con người thời trung
đại. chẳng hạn, khi tìm hiểu các truyện trong “ Truyền kỳ mạn lục” của Nguyễn Dữ, chúng ta phải thấy được các
truyện được viết chịu ảnh hưởng của quan điểm Nho giáo và Phật giáo, Thuyết “nhân quả” của đạo Phật ảnh hưởng
khá rõ trong các kết thúc câu chuyện.
3. Văn h ọ c trung đ ạ i ch ị u ả nh h ưở ng sâu s ắ c c ủ a văn h ọ c dân gian :