MỘT SỐ BIỆN PHÁP GIÚP HỌC SINH DÂN TỘC THIỂU SỐ
PHÁT TRIỂN KỸ NĂNG SỬ DỤNG TIẾNG VIỆT TRONG HỌC
TẬP VÀ GIAO TIẾP
Trần Thế Sơn – Phòng GD Tiểu học
A. Đặt vấn đề:
1. Kỹ năng sử dụng ngôn ngữ ở một con người cụ thể phụ thuộc vào
các yếu tổ chủ yếu sau:
Một là vốn từ mà người đó có được:
“Có bột mới gột nên hồ”. Vốn từ được ví như vật liệu trong xây dựng
hay một ngành sản xuất nào đó. Trong giao tiếp và tư duy, vốn từ là vật
liệu. Mác nói: “Ngôn ngữ là vỏ hiện thực của lời nói và tư duy”. Không đủ
vốn từ hay vốn từ không được tích cực hóa thì không thể hiểu được ý của
người khác nói, không thể diễn đạt được điều mình muốn nói cho người
khác hiểu được.
Vốn từ tồn tại bao hàm cả 3 thành tố: vỏ âm thanh, ký tự và ý nghĩa
của nó. Ví dụ: khi diễn đạt một sự vật có ý nghĩa là vật dùng để viết, vỏ
âm thanh của nó là /cái bút/ chứ không phải là /cái bít/. Nếu nói /cái bít/,
viết “cái bít”, người nghe, người đọc không hiểu nó là cái gì!
Muốn có vốn từ phong phú, phải tích cực hóa vốn từ, nghĩa là phải
huy động, sử dụng nó một cách tích cực nhất trong các hoạt động giao
tiếp. Vốn từ được trang bị mà không được huy động thường xuyên thì gọi
là vốn từ tiềm năng. Ví dụ, anh có thể học ngoại ngữ đến trình độ C (có thể
nghe, nói, đọc, viết) khá tốt trong môi trường giao tiếp thông thường
nhưng nếu anh không sử dụng nó thường xuyên thì một thời gian sau, vốn
từ đã được trang bị sẽ mất dần do không được hiện thực hóa trong hoạt
động giao tiếp.
Vốn từ được hình thành ở trẻ em được thông qua 2 môi trường: môi
trường học tập do nhà trường cung cấp và môi trường giao tiếp tự nhiên
qua hoạt động giao tiếp vui chơi giải trí, giao tiếp ở gia đình, cộng đồng.
Trẻ em người dân tộc thiểu số bị hạn chế về môi trường giao tiếp tiếng
Việt vì khi vui chơi theo nhóm và ở gia đình, cộng đồng, vốn từ bằng tiếng
đưa vào dạy học thống nhất trong hệ thống giáo dục quốc dân. Tiếng Việt
trong nhà trường tồn tại với hai tư cách: vừa là một môn học vừa là công
cụ giao tiếp, học tập của học sinh. Do đó, trình độ tiếng Việt (vốn từ, kiến
thức về tiếng Việt và kỹ năng sử dụng vốn từ trong học tập, giao tiếp) có
vai trò và ảnh hưởng rất quan trọng đối với khả năng học tập các môn học
của học sinh. Thực tế cho thấy, học sinh người dân tộc thiểu số càng học
lên lớp trên thì khả năng đạt chuẩn chương trình các môn học càng thấp vì
nhiều nguyên nhân; trong đó, sự thiếu hụt về vốn sống, vốn ngôn ngữ là
nguyên nhân chủ yếu và trực tiếp của tình trạng trên.
Để giải quyết vấn đề chất lượng giáo dục vùng miền núi – dân tộc,
ngoài các yếu tố về cơ sở vật chất, đội ngũ giáo viên, tổ chức dạy học phù
hợp thì ngôn ngữ là rào cản cần khắc phục một cách căn bản ngay từ GD
tiểu học. Trong đó, trọng tâm phải tập trung vào phát triển kỹ năng sử
dụng tiếng Việt như là một công cụ chính thức trong môi trường học tập
và giao tiếp của các em.
B. Thực trạng kỹ năng sử dụng ngôn ngữ của học sinh dân tộc
thiểu số
ở tiểu học:
Qua khảo sát thực trạng sử dụng ngôn ngữ tiếng Việt của học sinh ở
một số dân tộc mang tính đại diện như nhóm dân tộc Thái, Thanh, Thổ
(nhóm ảnh hướng ngôn ngữ Việt nhiều nhất); nhóm Khơ – mú, Hmông,
Đan lai (nhóm ít ảnh hưởng NN Việt do môi trường sống và giao tiếp hạn
chế), chúng tôi xin khái quát một số đặc điểm về thực trạng sử dụng ngôn
ngữ tiếng Việt của trẻ em dân tộc thiểu số các huyện vùng cao Nghệ An
như sau:
1. Những hạn chế về vốn từ của trẻ em người DTTS khi bắt đầu vào
học tiểu học: Trong những năm gần đây, phần lớn trẻ em DTTS đã học
qua lớp mẫu giáo thực hiện chương trình làm quen tiếng Việt nhưng nhìn
chung, vốn từ và kỹ năng nghe, nói của các em còn hết sức hạn hẹp. Cụ
thể:
chữ mà không thể viết thành bài văn hoàn chỉnh được. Còn khi ra chơi, các
em lại nói với nhau bằng tiếng mẹ đẻ. Về với gia đình và cộng đồng, các
em lại sống trong môi trường thuần tiếng dân tộc, vốn TV tạm thời bị chìm
vào dạng tiềm năng. Nếu học một buổi/ngày, mỗi ngày các em chỉ sử dụng
TV trong khoảng thời gian 3 tiếng trong môi trường học tập. Môi trường
giao tiếp bằng TV bị hạn hẹp chính là nguyên nhân, là rào cản lớn nhất của
sự hình thành kỹ năng sử dụng TV của các em DTTS.
C. Đề xuất một số giải pháp về tổ chức dạy học và giao tiếp nhằm
giúp
học sinh DTTS phát triển kỹ năng sử dụng tiếng Việt:
Trên cơ sở khảo sát, phân tích thực trạng và đề xuất ý tưởng thay đổi
trong quá trình chỉ đạo ở một số huyện vùng cao, từ những ý tưởng ban
đầu, chúng tôi đã thể nghiệm thành công một số giải pháp sau đây:
1. Tạo môi trường giao tiếp thuần tiếng Việt trong các hoạt động vui
chơi, giáo dục ở trường mầm non:
Trường mầm non là nơi lần đầu tiên trẻ em tiếp xúc với môi trường
hoạt động, giao tiếp có định hướng nên việc hình thành các kỹ năng ban
đầu trong sử dụng tiếng Việt có ý nghĩa quan trọng trong việc chuẩn bị
vốn tiếng và kỹ năng giao tiếp bằng tiếng Việt cho trẻ trước khi vào lớp
Một. Khi trẻ đến lớp mầm non, vốn từ tiếng Việt còn ở dạng ze-ro. Cô
giáo tập cho trẻ sử dụng TV trong nghe, nói ban đầu như đứa trẻ mới tập
nói ở độ tuổi 1- 2 tuổi. cần phải tạo ra trong trường lớp mầm non môi
trường giao tiếp thuần tiếng Việt mới giúp trẻ hình thành nhanh kỹ năng sử
dụng tiếng Việt trong nghe, nói.
Trường mầm non có lợi thế để giúp trẻ làm quen với tiếng Việt vì
hoạt động giáo dục chủ yếu ở trường MN là vui chơi theo chủ điểm, chủ
đề; không bị áp lực lớn về bài học như ở trường phổ thông. Tuy nhiên, khó
khăn của GDMN là làm thế nào để xây dựng được môi trường giao tiếp
tiếng việt trong khi trẻ chưa hề có vốn tiếng Việt trước khi ra lớp. Để giúp
GV mầm non khắc phục khó khăn này, chúng tôi đã tiến hành biên soạn tài
đọc, viết theo chương trình chung: có thể nghe – hiểu được; nói được
thành câu ngắn những vấn đề đơn giản; đọc trơn được với tốc độ khoảng
20 đến 25 chữ/phút (chuẩn chương trình là 30 chữ/phút)); viết đúng mẫu
chữ tiếng Việt. Chúng tôi đã tiến hành biên soạn tài liệu và tập huấn cho
GVMN về dạy TV lớp Một theo một hướng tiếp cận riêng phù hợp với đối
tượng: Dạy TV lớp Một hướng vào các hoạt động thực hành kỹ năng và
phát triển vốn từ qua hoạt động giao tiếp cho học sinh DTTS. Tài liệu tập
trung hướng dẫn GV tổ chức dạy phân môn Học vần theo hướng mô hình
hóa các hoạt động: Hoạt động nghe – hiểu; hoạt động đọc – hiểu; hoạt
động nói đúng; viết đúng.
Có bốn điểm khác nhau về yêu cầu và tổ chức dạy học giữa tài liệu
hướng dẫn cho GV miền núi và tài liệu dùng chung của Bộ:
Một là ở phần âm, vần và tiếng mới, tài liệu dùng chung cho HS cả
nước yêu cầu trọng tâm là học sinh nhận diện được chữ ghi âm vần và
tiếng chứa âm vần để đọc. Đối với HS DTTS, ngoài các yêu cầu trên,
chúng tôi hướng dẫn GV dành thời gian luyện phát âm đúng các âm vần,
tiếng mới nếu HS lớp mình phát âm sai. Ví dụ khi học vần /ơn/, học sinh
vùng Tương Dương thường phát âm sai thành /ưn/, GV phải dành thời gian
nhiều hơn để học sinh phát âm đúng vần /ơn/ và tiếng mới chứa vần /ơn/.
Vấn đề này học sinh miền xuôi không cần quan tâm vì phần lớn các em
phát âm chuẩn các âm, vần tiếng Việt nhưng với học sinh DTTS thì hết
sức quan trọng vì các em phát âm sai dẫn đến viết sai chính tả khi học lên
lớp trên.
Hai là luyện đọc mở rộng các tiếng chứa vần đang học: Trong tài liệu
dùng chung, mỗi âm, vần mới chỉ có một tiếng mới (gọi là tiếng khóa) và
một từ mới (gọi là từ khóa); phần luyện đọc từ ứng dụng có thêm 2 từ mới.
Nếu đọc thành thục các tiếng, từ mới, học sinh dân tộc khó có thể đọc
được các tiếng, từ khác chứa âm vần đang học. Vì vậy, khi thiết kế hoạt
động dạy học, chúng tôi đề nghị GV dừng lại sau phần từ mới cho học sinh
đọc thêm các tiếng, từ bất kỳ được GV chuẩn bị trước vào bảng nhóm
Giải quyết tốt bốn yêu cầu trọng tâm trên trong mỗi bài học vần sẽ
giúp học sinh DTTS học tốt hơn phần Học vần lớp Một, chìa khóa cho sự
thành công của môn TV nói riêng và phát triển kỹ năng sử dụng tiếng Việt
nói chung ở các lớp trên.
Tài liệu hướng dẫn dạy Học vần lớp Một cho học sinh miền nui –
dân tộc của chúng tôi được GV miền núi hưởng ứng và áp dụng thành
công trong dạy học môn TV lớp Một; khắc phục căn bản những hạn chế
trong tài liệu hướng dẫn giảng dạy của Bộ khi áp dụng cho vùng MN- DT.
Học sinh học một âm, vần, tiếng có thể đọc trơn được các tiếng khác chứa
âm, vần tương tự; học sinh được thực hành nghe – nói, đọc – viết nhiều
hơn nên vốn từ được tích cực hóa và kỹ năng sử dụng TV được hình thành
và phát triển vững chắc hơn.
Để giúp GV có điều kiện dạy tăng cường vốn tiếng Việt ở lớp Một
theo hướng trên, chúng tôi đã đề xuất Bộ GD&ĐT cho phép chỉ đạo tăng
thời lượng dạy học phân môn Học vần từ 2 tiêt/bài lên 2,5 đến 3 tiết/bài
tùy độ khó của từng âm vần. Thời lượng tăng thêm được huy động từ thời
gian dạy học 2 buổi/ngày; mỗi tuần từ 4 đến 5 tiết. Có thể áp dụng tăng
thêm thời lượng bằng 2 cách: tăng thêm ở các bài học khó hoặc dành 1 – 2
tiết luyện tập tổng hợp cuối tuần học. Với thời lượng tăng thêm như trên,
GV có thể linh hoạt tổ chức các hoạt động thực hành giúp học sinh củng
cố, mở rộng vốn TV và kỹ năng còn yếu phù hợp với đối tượng dạy học.
Với thời gian luyện tập tổng hợp, GV tổ chức dạy học theo nhóm trình độ
TV để giúp HS đạt chuẩn KT – KN còn yếu (dạy học phân hóa theo nhóm
trình độ TV). Với cách làm này, HS có cơ hội để đạt chuẩn và phát triển
kỹ năng sử dụng TV ngay từ lớp Một.
Như vậy, theo sự hướng dẫn của chúng tôi, học sinh DTTS sử dụng
Sách giáo khoa chung cho cả nước không cần có SGK riêng vẫn có thể đạt
được chuẩn KT – KN ở lớp Một nếu có cách tiếp cận về tổ chức dạy học
phù hợp.
3. Dạy học các môn học theo hướng tích hợp dạy kỹ năng sử dụng
nhất để phát triển kỹ năng sử dụng TV cho HS DTTS là môi trường giao
tiếp bằng TV của các em quá hạn hẹp. Để giảm thiểu khó khăn này, nhà
trường và cộng đồng phải cùng vào cuộc. Các biện pháp sau đây đã được
vận dụng khá thành công ở các trường tiểu học vùng 100% học sinh là
người DTTS:
4.1. Tăng cường các hoạt động tập thể ngoài các giờ học trên lớp
nhằm tạo môi trường giao tiếp tự nhiên cho HS:
Khác với HS bình thường, HS DTTS thường không sử dụng tiếng
Việt trong các hoạt động ngoài giờ lên lớp. Giờ ra chơi, nếu chơi tự do, các
em sẽ chơi thành từng nhóm dân tộc và giao tiếp bằng tiếng mẹ đẻ. Chúng
tôi nêu ý tưởng mới là trong các hoạt động tập thể, giờ ra chơi, GV tham
gia cùng học sinh, tổ chức, hướng dẫn các em chơi các trò chơi sân trường
và yêu cầu các em nói với nhau bằng tiếng Việt. Trong môi trường giao
tiếp tự nhiên, không bị cưỡng bức bởi nội dung bài học, các em sử dụng
TV sẽ dễ dàng hơn. Tuy nhiên, thay đổi được thói quen hành vi này
thường gặp khó khăn ở thời gian đầu. Nêu nhà trường đưa ra được các sinh
hoạt văn hóa tích cực ở địa phương vào trong các hoạt động tập thể sẽ lôi
cuốn hứng thú tham gia của học sinh, từ đó sẽ giúp các em tự tin hơn
trong giao tiếp.
Ngoài ra, các trường tiểu học vùng DTTS cần tổ chức các sân chơi
sử dụng tiếng Việt trong giao tiếp như Câu lạc bộ “Tiếng Việt của chúng
em”, “Thế giới quanh em” nhằm giúp học sinh tự tin hơn trong giao tiếp.
Nếu tổ chức được thường xuyên các hoạt động tập thể theo lớp, khối,
trường, và tổ chức các sân chơi bổ ích, kỹ năng sử dụng TV của HS DTTS
sẽ phát triển nhanh và bền vững hơn, sẽ giúp cho các em có công cụ học
tập tốt hơn.
4.2. Mở rộng môi trường giao tiếp ở gia đình và cộng đồng: Đây là
vấn đề khó thực hiện thành công bởi môi trường giao tiếp của người dân
tộc thiểu số thường thể hiện nét đặc trưng riêng với những phong tục tập
quán riêng. Trong đó, ngôn ngữ là một yêu tố bản sắc phi vật thể. Tuy
học sinh đạt chuẩn khá vững chắc về kỹ năng đọc, viết. Số còn lại nếu
được tổ chức bồi dưỡng thêm trong hè, các em sẽ đạt chuẩn tối thiểu để
theo học lớp 4. Đây là kết quả đáng khích lệ trong quá trình tìm tòi hướng
tiếp cận giáo dục vùng cao ở Nghệ An trong những năm vừa qua.
E. Kết luận:
Học sinh dân tộc thiểu số ở vùng đặc biệt khó khăn trong những
năm qua được Đảng và Nhà nước quan tâm đặc biệt. Thông tư
39/2011/TT- BGD&ĐT của Bộ Giáo dục và Đào tạo về giáo dục cho trẻ
em có hoàn cảnh khó khăn đã đưa ra các chính sách cụ thể nhằm tạo điều
kiện để các em học sinh dân tộc thiểu số hoàn thành được phổ cập giáo
dục và phát triển hòa nhập vào môi trường giáo dục chung của cả nước.
Tuy nhiên, các giải pháp về tổ chức dạy học để khắc phục rào cản về ngôn
ngữ, giúp các em phát triển kỹ năng sử dụng tiếng Việt trong giao tiếp và
học tập nhằm nâng cao chất lượng giáo dục là vấn đề đang bị bỏ ngõ.