Trường THCS Phú Sơn – Nho Quan - NB Phạm Anh Tài Thật
ĐỀ TÀI
MỘT VÀI BIỆN PHÁP GIÚP HỌC SINH TỰ HỌC TỐT MỘT TIẾT NGỮ VĂN
TRONG TRƯƠNG TRÌNH NGỮ VĂN 7
PHẦN I:
LÝ DO CHỌN ĐỀ TÀI VÀ THỰC TRẠNG VẤN ĐỀ
A. LÝ DO CHỌN ĐỀ TÀI:
- Tri thức nhân loại vô cùng phong phú và không ngừng biến đổi theo thời
gian, nhất là trong thời đại ngày nay, thời đại của khoa học công nghệ thông tin.
Khi khoa học đang có những bước tiến nhảy vọt, kinh tế tri thức có vai trò ngày
càng nổi bật trong quá trình phát triển lực lượng sản xuất. Vì vậy không có con
đường nào khác ngoài học tập. Lê Nin từng nói: “Học, học nữa, học mãi” học
không chỉ trên tài liệu mà phải còn học ngay cả trong đời sống hàng ngày. Trong
báo cáo của đại hôi Đảng lần thứ IX trong phần nói về giáo dục đào tạo thì tầm
quan trọng của việc tự học cũng được nêu lên như sau: “Phát huy tư duy khoa
học sáng tạo năng lực tự nghiên cứu của học sinh, sinh viên để nâng cao năng lực
tự học, tự hoàn thiện học vấn tay nghề…” đây là một yêu cầu mà rất nhiều giáo
viên có tâm huyết luôn trăn trở và quan tâm.
- Vậy là thế nào để học sinh có ý thức học tập và học tốt môn Ngữ văn và
đặc biệt ở một số tiết Ngữ văn có hiệu quả? Có thể nói trong những năm gần đây,
đặc biệt là từ khi thay đổi chương trình SGK lớp 6-7-8 và 9, bộ môn Ngữ văn đã
đổi mới nhiều trong các khâu cơ bản của quá trình dạy học. Bộ môn Ngữ văn, từ
xưa đến nay đối với học sinh đây là một môn khó học và có tầm quan trọng so
với các bộ môn khác như: Toán, Lý, Hoá, Anh văn… nhưng ít nhiều trong suy
nghĩ của các em, bộ môn ngữ văn không quan trọng như một số bộ môn tự nhiên.
Trang 1
Trường THCS Phú Sơn – Nho Quan - NB Phạm Anh Tài Thật
Vậy làm thế nào để học sinh hiểu, học môn Ngữ Văn đạt kết quả tốt. Và từ việc
học tốt, các em sẽ thích và say mê văn học nhiều hơn.
- Từ những suy nghĩ, băn khoăn trên, tôi nghĩ làm thế nào đểâ chọn cho
nản, buông xuôi việc học. Thậm chí trốn tiết đi chơi hoặc chơi các trò chơi ảnh
hưởng đến việc học tập.
- Trước tình học tập như trên, thầy cô giáo phải đầu tư suy nghĩ để tìm ra
các biện pháp có hiệu quả trong giáo dục và đào tạo học sinh. Đây cũng là lý do
để tôi viết đề tài này. Qua đề tài này mong rằng với những gì trong thực tế giảng
dạy của mình, làm thế nào góp phần vào việc nâng cao chất lượng giảng dạy của
giáo viên và việc học tập của học sinh đối với bộ môn Ngữ văn nói chung và
Ngữ văn 7 nói riêng.
- Qua nghiên cứu, tôi nghĩ rằng đó cũng là điều kiện để học sinh yêu thích
môn học, biết việc học tập là cần thiết, nhất là đối với những học sinh có học lực
TB đặc biệt là học sinh yếu, kém. Từ đó giúp các em có cơ hội phát huy tính
sáng tạo năng động. chủ động chuẩn bị bài, tham gia tốt vào nội dung bài học,
biết khám phá tìm ra những tri thức mới cho mình.
PHẦN II
NỘI DUNG NGHIÊN CỨU
- Trong chương trình dạy học hiện nay, đặc biệt là chương trình SGK Ngữ
văn đã có nhiều thay đổi được biên soạn theo hướng tích hợp 3 phân môn Văn-
Trang 3
Trường THCS Phú Sơn – Nho Quan - NB Phạm Anh Tài Thật
Tiếng Việt- Tập làm văn, có nhiều kiến thức mới và hơi khó so với học sinh đặc
biệt là học sinh vùng nông thôn. Vì vậy giáo viên phải biết quan tâm khai thác
những vốn sống phong phú, tư tưởng tích cực của học sinh và người giáo viên
phải giúp các em nhận rõ được những yếu tố quyết định cho sự thành công đó là
tự rèn luyện chính bản thân mình.
- Các em cần thấy được thái độ học tập tích cực, đặt mục tiêu vào vấn đề
học tập, nhận rõ tầm quan trọng của việc tự học, sự kiên nhẫn, tự tin vào sự thành
công. Muốn tự học ở mọi nơi, mọi lúc với mọi người trong mọi lĩnh vực, các em
cần có một thái độ học tập nghiêm túc và đặc biệt phải có sự đam mê. Nhưng tự
học không thể tự phát huy tuỳ tiện và muốn học thế nào cũng được. Nó cần phải
có cách thức, phương pháp tự học sao cho hợp lý, phù hợp với chính bản thân
Ví dụ: Bài 2 “Cuộc chia tay của những con búp bê” SGK Ngữ Văn 7
trang 26-27.
GV gợi ý giúp học sinh nắm được ý.
Câu 1:
+ Về ngôi kể. (ngôi thứ mấy?)
+ Tên của truyện và ý nghĩa của tên truyện? (Búp bê có chia tay không? Vì
sao chúng phải chia tay, búp bê có lỗi gì mà phải chia tay?)
Từ những câu hỏi đơn giản đến những câu hỏi phải có sự tư duy:
Câu 5:
+ Chi tiết nào trong cuộc chia tay của Thuỷ với lớp học làm cho cô giáo
bàng hoàng và chi tiết nào khiến cho em cảm động nhất? vì sao?
Trang 5
Trường THCS Phú Sơn – Nho Quan - NB Phạm Anh Tài Thật
Hoặc Câu 6:
+ Em hãy giải thích vì sao khi dắt Thuỷ ra khỏi trường, tâm trạng của
Thành lại “kinh ngạc thấy mọi người vẫn đi lại bình thường và nắng vẫn vàng
ươm trùm lên cảnh vật”.
Câu hỏi này buộc học sinh phải suy luận thì mới thấy được nghệ thuật
miêu tả tâm lí nhân vật của tác giả và sẽ trả lời câu hỏi.
+ Hai anh em Thành và thuỷ chịu đựng sự mất mát lớn như thế mà
cảnh vật vẫn diễn ra bình thường?
+ Tại sao Thành lại ngạc nhiên? Nói lên điều gì?
Nếu không có sự chuẩn bị tốt ở nhà học sinh sẽ khó trả lời, dẫn đến mất
thời gian, buổi học trùng xuống. Học sinh sẽ cảm thấy tiết học nặng nề.
1.2 Phần Tiếng việt
Ơû phần này chủ yếu là cho bài tập học sinh về nhà tự làm theo sự hướng
dẫn của giáo viên.
Khi dạy đến tiết 69 (Tiếng Việt) Ôn tập Tiếng Việt. Nội dung của bài học
rất dài, nếu học sinh không chuẩn bị ở nhà thì các câu hỏi không có thể giải
quyết hết trên lớp. Do đó giáo viên cần hướng dẫn học sinh tự tìm hiểu và chuẩn
cảm thấy hứng thú với môn học hơn.
- Ngược lại giáo viên cuối tiết chỉ căn dặn( các em về nhà soạn bài……,
SGK trang…….,) hoặc (các em về nhà làm bài tập…., SGK trang….,) thì học
sinh về nhà cũng làm, nhưng có một số em sẽ không biết làm, không biết soạn
thế nào cho đạt yêu cầu. Từ đó dẫn đến chán nản và học cho có lệ, đối phó.
1.3 Phần Tập làm Văn
- Khi học các bài (Luyện nói) giáo viên phải hướng dẫn học sinh chuẩn bị
bài sẵn có ở nhà một cách đầy đủ các nội dung:
Ví dụ:
Tuần 10 bài 10 tiết 40
Luyện nói: về văn biểu cảm về sự vật, con người.
Trang 7
Trường THCS Phú Sơn – Nho Quan - NB Phạm Anh Tài Thật
- Giáo viên yêu cầu học sinh chuẩn bị bài ở nhà: Lập dàn ý cho những đề
văn để tiết sau chuẩn bị phát biểu miệng.
- Giáo viên chú ý học sinh về nhà cần đọc kỹ yêu cầu SGK trang 130 và
có thể gợi ý cho học sinh chuẩn bị tốt những yêu cầu của bài học, vì thời gian ở
nhà học sinh có thể nghiên cứu nhiều hơn không căng thẳng hoặc chi phối như ở
trường.
- Giáo viên cho học sinh chọn đề 1 SGK trang 129 “ Cảm nghĩ về thầy cô
giáo, những “người lái đò” đưa thế hệ trẻ “cập bến” tương lai”.
Gợi ý:
Ý 1:
Ngạn ngữ phương Tây có nói:
- Mọi thiên tài đều bắt đầu bằng chữ a.
- Trong ngày đầu tiên ấy được thầy, cô tận tình dạy dỗ.
- Em không bao giờ quên lời nhắc nhở của người cô(thầy).
Ý 2:
- Em được học rất nhiều thầy cô giáo.
- Nhưng tất cả đều giống nhau ở phẩm chất tận tuỵ với công việc dạy
có thể hướng dẫn học sinh tự học nhóm theo cách trao đổi, thảo luận bài tập
trung… từ đó giúp học sinh có ý thức tự học, giúp đỡ lẫn nhau cùng tiến bộ.
(Tuy nhiên biện pháp này vẫn còn một số hạn chế nhất định như: học sinh tập
trung lại nói chuyện, chơi…).
2. Đọc – Rèn luyện cách đọc
Trang 9
Trường THCS Phú Sơn – Nho Quan - NB Phạm Anh Tài Thật
2.1. Đọc
- Đối với môn Ngữ văn. Đọc cũng là hình thức tự học, một tiết học trên lớp
không đủ thời lượng cho học sinh rèn luyện cách đọc thế nào cho đúng. Các em
thường hay mắc lối chính tả, đọc sai do đặc thù tiếng địa phương, học sinh người
dân tộc. Như vậy đọc không đúng sẽ ảnh hưởng rất lớn đến tiết học và tiếp thu
bài của học sinh, vì vậy rèn luyện cách đọc cho học sinh là một vấn đề cần phải
quan tâm.
- Đọc bao gồm nhiều cách đọc khác nhau: đọc đúng, đọc thầm, đọc thành
tiếng đặc biệt là đọc diễn cảm. Đọc là khâu quan trọng để hiểu văn bản, nó là
một trong 4 kỹ năng mà học sinh phải tương đối thành thạo. Hoạt động đọc
không chỉ
là đọc mẫu mà nó còn bao gồm sự tổ chức, hướng dẫn học sinh vận động tư duy,
tình cảm, giọng đọc, thậm chí cả điệu bộ nhằm giúp học sinh có thể nhập vai, tái
tạo lại hình tượng nghệ thuật, hiểu được giá trị nội dung chủ đề tư tưởng một
cách chân thực.
2.2. Rèn luyện cách đọc:
Với học sinh THCS yêu cầu đọc đúng vẫn được đặt ra song song với các
yêu cầu đọc khác như đọc hiểu nhanh, đọc thầm liên tưởng, đọc tái hiện, đọc
diễn cảm…
- Đọc thầm là khâu học sinh tự động làm việc độc lập có sự tham gia của
liên tưởng, tưởng tượng giúp học sinh nắm vững những thông tin của văn bản.
- Đọc thành tiếng với yêu cầu đọc đúng(đúng chính tả, đúng ngữ âm, đúng
giọng điệu).
Trang 11
Trường THCS Phú Sơn – Nho Quan - NB Phạm Anh Tài Thật
Để làm được câu này bắt buộc học sinh phải tìm hiểu – tham khảo các loại
sách để tìm ra câu trả lời chính xác. Giáo viên có thể hướng dẫn học sinh tìm ở
một số loại sách: Tuyển tập thơ văn Hồ Chí minh, Nhật kí trong tù….
Giáo viên có thể gợi ý 1-2 bài:
Vọng Nguyệt
Ngục trung vô tửu diệc vô hoa
Đối thử lương tiêu nại nhược hà?ø
Nhân hướng song tiền khán minh nguyệt
Nguyết tòng song khích kháng thi gia.
(Hồ Chí Minh – Nhật ký
trong tù)
- Trong Bài 4, tuần 4, tiết 13 “Những câu hát than thân” ở phần dặn dò
cuối bài, giáo viên yêu cầu học sinh về nhà tìm, sưu tầm những câu ca dao, dân
ca có từ than thân và nói lên ý nghĩa của những câu đó(ít nhất 05 câu trở lên).
Giáo viên có thể gợi ý:
Thân em như dải lụa đào
Phất phơ giữa chợ biết vào tay ai
Nói lên số phận của người phụ nữ trong xã hội cũ, cuộc sống của họ luôn
bấp bênh, long đong lận đận.
Trong Bài 5 ; tiết 20; tuần 5.
Tìm hiểu chung về văn biểu cảm
Phần Luyện tập:
Câu hỏi 3.
Kể tên một số bài văn biểu cảm (trữ tình) hay mà em biết. Câu này giáo
viên có thể dành cho học sinh khá, giỏi về nhà thực hiện.
Trang 12
Trường THCS Phú Sơn – Nho Quan - NB Phạm Anh Tài Thật
Câu hỏi 4.
Qua áp dụng một số kinh nghiệm trong việc dạy học học sinh học trong
chương trình ngữ văn 7 mà tôi rút ra được trong thời gian vừa qua. Tôi cảm thấy
đã đạt được một số kết quả khả quan (tuy nhiên vẫn còn số ít hạn chế) tỉ lệ học
sinh nắm được bài, chuẩn bị bài ở nhà khá tốt, vận dụng vào bài học khá linh
hoạt lớp học linh hoạt. Nhiều em đã hình thành sự yêu thích đối với môn học,
phát huy được tính sáng tạo, hứng thú trong học tập.
Cụ thể kết quả của bộ môn Ngữ văn 7 năm học 2008-2009 (Học kỳ 1) so
với kết quả của năm trước năm học 2006-2007 mà tôi giảng dạy các lớp
7A1,2,3,4 như sau:
Khi chưa áp dụng:
TSHS Giỏi Khá Trung bình Yếu
SL % SL % SL % SL %
Khi áp dụng các biện pháp này:
TSHS Giỏi Khá Trung bình Yếu
SL % SL % SL % SL %
Trang 14
Trường THCS Phú Sơn – Nho Quan - NB Phạm Anh Tài Thật
PHẦNIII
KẾT LUẬN VÀ MỘT SỐ BÀI HỌC KINH NGHIỆM.
I. KẾT LUẬN:
Muốn nâng cao chất lượng và hiệu quả thiết thực trong giảng dạy Ngữ văn,
người giáo viên bộ môn phải đổi mới về nhận thức và từ đó đổi mới về phương
pháp.
Ngoài ra tôi nghĩ, để học sinh học tốt môn Ngữ văn, ngoài quá trình tự học
của học sinh trên lớp, ở nhà như tìm tòi tham khảo tài liệu để giải quyết vấn đề
do đó giáo viên đặt ra. Học sinh cần phải có ý thức tự nâng cao kiến thức bài học
của mình.
Quá trình tự học này cần được sự hỗ trợ khuyến khích của BGH nhà
trường, các giáo viên bộ môn và đặc biệt là từ phía gia đình (PHHS). Tạo điều
kiện cho các em tham khảo tài liệu sách báo, tìm hiểu về kiến thức văn học….