BÀI TIỂU LUẬN TÌM HIỂU VỀ:
NHÀ SÀN DÂN TỘC THÁI
Giáo viên hướng dẫn:
Nhóm sinh viên thực hiện :
Lê Thị Thanh An 10k5
Đèo Thuận Thắng 10k5
Khương Hải Hoàn 10k5
Nguyễn Văn Thắng 10k3
Mục lục: Chương 1: Đôi điều về dân tộc Thái.
Chương 2: Kiến trúc độc đáo của nhà sàn dân tộc Thái Sơn La .
Chương 3: Nhà sàn dân tộc Thái thời hiện đại ở Sơn La.
Chương 4: Tín ngưỡng dân gian được thể hiện trong kiến trúc nhà sàn dân tộc Thái.
Chương 5: Giá trị vật chất tinh thần của nhà sàn người Thái.
Chương 6: Bài học.
Các tư liệu sử dụng trong bài viết:
Hình ảnh đi chụp thực địa Tại một số xã của Tỉnh Sơn La : Bản Lưng - huyện Sông Mã , Bản
Bó –thành phố Sơn La…
Phỏng vấn các già làng, trưởng bản, thầy mo, thầy cúng, nghệ nhân văn hoá dân gian,cùng
đồng bào người dân tộc.
Tư liệu từ 1 số bài viết của Trần Vân Hạc: http://vanhac.org/
Tìm kiếm tài liệu qua mạng internet, thư viện tỉnh.
Thông tin từ 1 số địa chỉ Web:
http://www.baoyenbai.com.vn/26/78922/Giu_nhung_gia_tri_van_hoa_truyen_thong_kien_tru
c_nha_san.htm
http://www.baosonla.com.vn/images/12dantoc/dantocthai.asp
http://baodatviet.vn/Home/congdongviet/Dieu-xoe-dan-toc-Thai/20103/85226.datviet
http://vietbao.vn/Kham-pha-Viet-Nam/Xen-ban-Net-van-hoa-truyen-thong-cua-dan-toc-
Thai/40038587/148/
http://vifash.com.vn/p0c80s155n558/trang-phuc-net-dac-trung-trong-van-hoa-thai.htm
Chương 1: Đôi điều về dân tộc Thái.
*Dân tộc Thái có khoảng 60 vạn người bao gồm nhiều ngành, mỗi ngành lại chia làm nhiều
Nhai (Sơn La), Mường Tè (Lai Châu), tới Mường Tấc
(Phủ Yên) và một bộ phận xuống Đà Bắc và Thanh
Hoá.
Nhà sàn dân tộc Thái ở Sơn La. 1
II/ Kinh tế:
Dân tộc Thái có nền kinh tế khá đa dạng, họ biết tận dụng tất cả những tài nguyên sẵn có cũng
như sáng tạo và phát minh ra những công cụ để phục vụ cho công việc của họ. dưới đây là
những hình thaí kinh tế chủ yếu của dân tộc Thái.
1/ Lúa nước:
<= Cọng nước
Khi đến Việt Nam , người Thái đã biết làm ruộng nước, nước là yếu tố quan trọng bậc nhất
trong việc trồng lúa, cần quanh vụ và khi có nước mới bắt đầu cáy cấy được,chính vì thế mà
họ có nhiều kinh nghiệm trong việc đào mương, đắp phai, bắc ống dẫn nước về ruộng cũng
như trong việc sử dụng một cách phổ biến và rất tài tình chiếc cọng nước_một thứ máy móc
giản đơn vào việc dẫn nước vào ruộng.
2/ Nương rẫy
Nương Thái có 2 loại : Nương và rẫy . Như là nương lúa, ngô, sắn, làm hai hoăc ba năm
phải bỏ hóa, thường đi đôi với công cụ là gậy chọc lổ hay là cuốc. Nương bông, chàm đã
được xới, bón kỹ. Loại nương này đã bắt đầu được thâm canh nhưng chưa đến mức độ chuyển
hóa thành ruộng hay thành vườn được.
Nhà sàn dân tộc Thái ở Sơn La. 2
3/ Thái Đỏ
+) Địa bàn cư trú: Chủ yếu ở Mộc Châu (Sơn La), Mai
Châu (Hà Sơn Bình) và các huyện miền núi 2 tỉnh Thanh
Hoá và Nghệ Tĩnh.
+) Nguồn gốc: Nhóm Thái Mộc Châu từ Lào sang từ thế
kỉ thứ XIV, chịu ảnh hưởng về nhân chủng và văn hoá của
cả hai nghành Thái Trắng và Thái Đen. Nhóm Thái Mai
Châu gốc từ miền Bắc Hà (Hoàng Liên Sơn) chuyển về vào
khoảng thế kỉ thứ XIV, từ đó xuống Mường Khòong (Thanh
phương ,người Thái vẫn tìm kiếm được chỗ để tha rông
trâu bò trong những lúc không dùng chúng vào sản
xuất.
Nghề đánh cá khá phát triển: “Pày kin pà, ma kin
lảu” tức đi ăn cá, về uống rượu là câu nói cửa miệng
của đồng bào. Cá là món ăn có trong bữa cơm hằng
ngày, và không thể thiếu được trên mâm lễ và khi nhà
có khách khứa.
5/Dệt vải
Có thể coi phụ nữ Thái là những thợ dệt chăm chỉ,lành nghề ,sản xuất không những đủ chăn
màn ,quần áo cho gia đình mà còn đem trao đổi.Người Thái nổi tiếng với những tấm thổ cẩm
dệt rất tinh vi với những mô típ hoa văn hình thú ,chim ,cây cối .
Nhà sàn dân tộc Thái ở Sơn La. 3
Dệt vải là một nghề thủ công
truyền thống lâu đời của người
Thái. Hình ảnh cô gái Thái bên
khung cửi, nét đẹp quen thuộc vẫn
thường gặp ở mỗi nhà trong làng
bản.Họ dệt ra những tấm vải thổ
cẩm rất tinh xảo và đẹp.
III/ VĂN HÓA
A/ Văn hóa vật thể
1, Trang phục người Thái
TRANG PHỤC NAM
Người Thái phân bố rải rác ở những vùng, miền khác nhau. Ở mỗi vùng, từng nhóm người
Thái lại có những phong cách trang phục khác nhau.Trang phục nam giới gồm áo, quần, thắt
lưng và các loại khăn.
Áo nam giới có hai loại, áo cánh ngắn và áo dài. Áo ngắn
may bằng vải chàm, kiểu xẻ ngực, tay dài hoặc ngắn, cổ tròn.
Khuy áo làm bằng đồng hay tết bằng nút vải, có hai túi phía vạt
Nhà sàn dân tộc Thái ở Sơn La. 5
Y phục phụ nữ Thái– Lai Châu Y phục phụ nữ Thái Trắng – Sơn La
2, Nhà cửa
Điểm khác biệt nhất của nhà cửa người Thái so với người Việt và Hán là họ xây nhà sàn.Nhà
sàn của người Thái sẽ được nói rõ và kĩ ở phần sau.
3, Ẩm thực
Một trong những đặc trưng nổi bật của dân tộc Thái là văn hóa ẩm thực. Món ăn của dân
tộc Thái thể hiện sự kết hợp hài hoà, sự giao lưu, hoà quyện cùng linh khí của núi, của sông,
của rừng.Văn hóa ẩm thực dân tộc Thái có một cội nguồn triết lí riêng để mãi trường tồn với
thời gian. Đối với người Thái, ẩm thực là một nghệ thuật đã trở thành nét văn hóa cổ truyền .
Bình thường, các món ăn của người Thái chia làm 5 phần lớn khác nhau như: căm chẳm
(đồ chấm, đặt đầu tiên); căm nặm (đồ uống, đặt thứ hai); căm cắp (đồ ghém, đặt thứ ba); căm
kin (phần về thức ăn, đặt thứ tư); căm khẩu (phần về cơm, đặt cuối cùng). Trong sự phân loại,
tự nó đã bao quát cả âm dương, ngũ hành một cách tổng thể. Xét riêng từng phần, sự hài hoà
cũng lại là một nét riêng tạo nên một tác phẩm vô cùng quyến rũ.
Xôi nếp đựng trong “ếp khảu”
Hình ảnh người phụ nữ Thái bên bếp lửa
đang dùng “Tàu hày”để đồ xôi.
Đối với người Thái, trong một mâm cơm, các món ăn bao giờ cũng phải đảm bảo đủ 2 yếu
tố âm, dương. Chúng bổ sung, pha trộn cho nhau làm thực khách mê mải cùng hương rượu,
quấn quít với những hương vị được gia giảm rất kỹ càng. Món cá mang tính âm (hàn) nên khi
ăn, người Thái dùng với một số gia vị mang tính dương như: ớt, sả, gừng, tiêu để cân bằng.
Và những vị cay này cũng lại được điều hoà bằng vị chua của khế, của chanh Mang trong
mình hơi thở của núi rừng rộng thẳm cùng những sản vật được thiên nhiên ưu đãi.
Món Pà pỉnh tộp
Chuẩn bị làm món rêu nướng
4, Phương tiện vận chuyển.
Nhà sàn dân tộc Thái ở Sơn La. 6
Do sinh sống bên cạnh dòng sông, con suối, người Thái nổi tiếng là những người đi thuyền
giỏi. Nhiều người du lịch không hết lời ca ngợi cách lái thuyền của họ vượt qua các thác
2,Tôn giáo tín ngưỡng.
Do sinh sống bằng nông nghiệp trong điều kiện còn phụ thuộc nhiều vào thiên nhiên, khoa
học còn kém phát triển, người Thái tin rằng các lực lượng siêu nhiên quyết định số phận của
họ. Họ tin trên trời có Then Luông là đấng cai quản trời đất,loài người và vạn vật, Then
Luông được các quần thần giúp việc. Còn ở trần gian, bất cứ nơi nào cũng có các ma cai
quản. Muốn lập bản, khai phá ruộng, phát nương, đánh cá, săn thú đều phải xin phép các ma
ruộng, ma nương, ma rừng ma suối… Những vị thần trên trời, các ma dưới trần cùng với ma
nhà, ma họ, những ông bà cụ kị đã mất là những lực lượng phù hộ, bảo vệ con người.
Nhà sàn dân tộc Thái ở Sơn La. 7
Thầy mo đang cúng lễ
Người Thái theo trật tự gia đình phụ quyền, có hình
thức thờ cúng tổ tiên. Người Thái có nơi thờ cúng từng
dòng tộc, từng dòng họ. Chỗ đó có thể là một rừng cấm,
một gốc cây, một hòn đá. Nếu người trong một họ liên
kêt với nhau bằng việc thờ cúng ma dòng họ, thời thành
viên trong gia đình liên kết với nhau bằng việc thờ ma
nhà.
Bố mẹ đã khuất được coi là siêu linh tác động đến toàn
bộ đời sống của con cháu. Chỉ có người chủ nhà mới
được thay mặt gia đình cúng ma nhà, chủ trì lễ xên hươn,
cầu xin tổ tiên nói chung phù hộ cho con cháu.
3, Văn hoá dân gian
Sinh sống hàng ngàn năm trên dải đất Việt Nam thừa hưởng một nền văn minh cổ truyền
lớn lao của cha ông người Thái đã góp phần cống hiến không nhỏ vào kho tàng văn hoá
chung của cả dân tộc Việt Nam . Nhờ có văn tự, cư dân Thái đã lưu lại cho đến nay nhiều
sách, chuyện ghi trên giấy, trên lá cây. Đó là những cuốn sách sử chép tay dày hằng trăm
trang, những bộ luật hay tập quán tương đối hoàn chỉnh, phản ánh tình hình xã hội đương thời
Khí hậu Tây Bắc khắc nghiệt, hàng năm có thể chia làm 3 mùa : hanh, sương, mưa. Mùa
hanh từ tháng 10 đến tháng Giêng, mùa sương từ tháng 2 đến tháng 5, mùa mưa từ tháng 6
đến tháng 9. Từ xa xưa, trong nhận thức của người Thái là phải làm một kiểu nhà an toàn,
chịu đựng được những điều kiện khắc nghiệt của thiên nhiên. Vì thế, những ngôi nhà truyền
thống ra đời gắn với đồng bào hàng ngàn năm, giúp họ tồn tại, phát triển. Để có được ngôi
Nhà sàn dân tộc Thái ở Sơn La. 9
nhà sàn vừa ý, người Thái phải chọn những loại gỗ tốt làm khung nhà, mái lợp gianh,bây giờ
thì đa phần là lợp ngói.
Chùm ảnh đi chụp thực tế 1 ngôi nhà sàn ở bản Lưng-xã Chiềng en-huyện Sông Mã-SơnLa.
Phía trước nhà.
Nhìn chéo từ phía trước nhà.
Phía sau nhà.
Nhà sàn thường cao hơn mặt đất chừng 2 mét,như vậy giúp chống được ẩm thấp,thú dữ
(ngày xưa), phía trên để sinh hoạt, phía dưới có thể dùng để chăn nuôi. Mặt sàn được lát bằng
những cây bương, tre, vầu hoặc gỗ. Điều đặc biệt, trong nếp nhà sàn truyền thống là mặc dù
được cấu trúc từ các loại cây gỗ và cây có dóng, lợp bằng cỏ tranh hay ván thông, nhưng
không hề dùng đến một mẩu sắt nhỏ nào trong thiết kế xây dựng. Tất cả các hệ thống dây
chằng buộc, thắt khá công phu và tinh xảo bằng lạt tre, giàn mây hoặc vỏ những cây chuyên
dùng trong rừng. Tuy đơn sơ, mộc mạc, nhưng nhà sàn rất chắc chắn và bền với mưa rừng,
gió núi và khí hậu ẩm ướt quanh năm. Có những ngôi nhà tồn tại tới hàng trăm năm tuổi.
Ảnh đi chụp thực tế 2 ngôi nhà sàn khác ở xã Chiềng Lề-Sơn La.
Nhà sàn dân tộc Thái ở Sơn La. 10
II. Sơ đồ mặt bằng và phân chia không gian nội thất trong nhà sàn.
Nhà sàn cổ của người Thái bao giờ cũng làm số gian lẻ, hai đầu hồi - "tụp cống" khum
khum như mai rùa, gắn với truyền thuyết về thuở khai thiên lập địa, thần rùa "Pua tấu” dạy
cho người Thái biết cách làm nhà theo hình rùa đứng để tránh được lũ lụt và thú dữ.
Người Thái có câu: "Khửn song phái/ cái song đay" - tức là mở hai cửa/ đi hai thang. Nhà sàn
đặc trưng của người Thái đen luôn cũng có hai cầu thang: "Tang chan" và "Tang quản"."Tang chan" ở
cuối nhà, bên trái dành cho phụ nữ lên xuống, có 9 bậc tượng trưng cho 9 vía của người phụ
nữ. "Chan" là phần sàn nhà được nối dài ra ngoài trời. Đây là nơi các mẹ, các chị, các em thường
với nhà có thêm hành lang bên ngoài). Cạnh đó còn có “hỏng chan” để lương thực, chai, lọ
Chủ yếu là nơi để phụ nữ trang điểm.
Tiếp đến ra phía ngoài cửa là “chan”, phần dưới mái là “chan cuông” nơi dành cho công việc
của nữ giới ( khâu,vá, thêu thùa…) và cũng là nơi để nước sinh hoạt. Phần lộ thiên là “chan
no” để ngồi hóng mát và phơi phóng. Thang phụ đặt ở chan chủ yếu để cho nữ giới qua lại.
Nhà sàn của người Thái cổ có hai bếp lửa - "Chík pháy". Bếp lửa phía "tang quản" dành cho
người già, bếp chính ở phía "tang chan" dành cho nữ giới và những công việc nội trợ. Giữa
núi rừng trùng điệp, bếp lửa hồng trên nhà sàn như trái tim hồng, sưởi ấm và nuôi dưỡng cả
về vật chất và tinh thần cho mỗi con người.
Nhà sàn dân tộc Thái ở Sơn La. 13
Một số cách sắp xếp nội thất trong nhà sàn
III. Kết cấu khung.
Bộ khung nhà Thái có hai kiểu cơ bản là khứ tháng và khay điêng . Vì khay điêng và vì khứ
kháng được mở rộng bằng cách thêm hai cột nữa. Kiểu vì này dần gần lại với kiểu vì nhà
người Tày-Nùng.
Kiểu vì khứ kháng gồm hai cột ( xau) và một
quá giang ( khứ). Đầu cột có đầu tua( luốt) để
lắp vào đầu quá giang. Để tạo thành bộ khung
nhà người ta liên kết các vì lại với nhau nhờ hai
cây đòn tay cái (pe cài) lắp vào đầu các cột và
hai thanh dầm (ping) ở ngang thân cột. Đó mới
chỉ là cái khung hình hộp chữ nhật. Khi cái
khung này hình thành kèo mới được đặt lên đầu
các cột. Kèo thuộc về khung mái nhà, chưa phải
là một bộ phận thuộc về vì cột.
Kết cấu bộ khung mái cũng có ba yếu tố: xinh dúa- kheo- hao.
Nhà sàn dân tộc Thái ở Sơn La. 14
Kết cấu ở thân cột để tạo nên giá đỡ mặt sàn cũng có ba bộ phận chủ yếu: ping- khang-
tông. Như vậy là kết cấu một vì nhà người Thái dựa trên một tổ hợp với ba yếu tố chính:
Xau-khứ- pe hay xau- pe- khứ
nên những hoa văn, hoạ tiết trang trí cho "Khau cút có một vẻ đẹp hoàn hảo, chuyên chở
những ý nghĩa nhân sinh cao đẹp.
Trước hết là những hình cút cuốn tròn như búp cây guột- cút lo ngong từng chùm nối tiếp
nhau. Hình búp cây guột được thể hiện thành những hình kỷ hà và hoạ tiết lập lại trên khăn
piêu của chị em người Thái, tạo nên một vẻ duyên dáng và gần gũi. Các bản làng của người
Thái thường quần tụ ven suối, chân đồi, nơi đâu cũng rất nhiều búp cây guột xoáy trôn ốc
đung đưa trong gió, để rồi tự lúc nào cút lo ngong. Từ thực tế cuộc sống bước vào đời sống
nghệ thuật của người Thái một cách sống động. Khau cút cũng được trang trí hình hoa sen.
Người Thái Đen có câu: Khau cút tẻm lai bua/ Xinh dua tẻm lai én/ Nhả ca bén tin con, có
nghĩa là Khau cút vẽ vân sen, đầu kèo vẽ vân én, mái nhà xén bằng dui, như tiêu chí về vẻ đẹp
của một ngôi nhà người Thái. Trên Khau Cút còn có những hình trăng khuyết, từng đôi hướng
vào nhau.
Khau cút trên nóc nhà người Thái Đen.
Nói về sự tích và ý nghĩa của biểu
tượng Khau cút có nhiều ý kiến khác
nhau. Có ý kiến cho rằng đó là cặp
sừng trâu cách điệu, biểu tượng của
một nền văn minh lúa nước. Lại có ý
kiến cho rằng với trang trí hoạ tiết hoa
sen, Khau Cút có ít nhiều liên quan tới
đạo Phật. Ngoài ra còn có ý kiến cho
rằng, với hoạ tiết hình trăng, Khau cút
gắn với cuộc thiên di tìm miền đất hứa
của người Thái ở thế kỷ XI, anh em
luôn nhớ về nhau.
Theo ý kiến của giáo sư Cầm Trọng: "Như vậy ý kiến cho rằng Khau cút có từ ngọn cây
guột mà tiếng Thái gọi là cút lo ngong là có lý hơn cả”. (Người Thái ở Tây Bắc Việt Nam -
Nhà xuất bản Khoa học xã hội, năm 1978, trang 409).
Nhà sàn dân tộc Thái ở Sơn La. 16
Nhà sàn dân tộc Thái ở Sơn La. 17
- "Táy khao" thường có lan can xung quanh hoặc trước nhà rất đẹp. Thiên nhiên được phản
ánh một cách sống động, thể hiện tinh tế quan điểm về vũ trụ, âm dương ngũ hành và ý nghĩa
nhân sinh cao đẹp.
Một số kiểu trang trí lan can của nhà sàn
V. Một số kiểu cầu thang nhà sàn.
Cầu thang có nhiều hình thức khá đang dạng.
Một số kiểu cầu thang của
nhà sàn.
VI. Vật liệu làm nhà sàn.
Vật liệu để làm nhà sàn khá đa dạng ,nhưng thường làm bằng gỗ, mây, tre, nứa lấy trên rừng.
Khung,cột nhà sàn được làm bằng gỗ phách, kháo, lim…tùy vào điều kiện kinh tế của từng
gia đình.
Mặt sàn được lát bằng những cây bương, tre, vầu hoặc gỗ,vách bao quanh nhà làm bằng tre,
gỗ, mái nhà được lợp bằng cỏ tranh hay ván thông (bây giờ thường được lợp bằng ngói), Mái
nhà có độ dốc tương đối lớn tạo điều kiện cho nước mưa thoát đi nhanh nhất.
Một điểm chú ý trong cách chọn tre dùng làm nhà của người Thái đó là họ chỉ chặt tre vào
mùa cây tre rụng lá,bởi như vậy sẽ chống được mối mọt tốt hơn là tre ở thời điểm khác.
Tuy được dựng từ những vật liệu đơn sơ nhưng nhà sàn của người Thái rất vững chãi nhờ
việc tạo tỷ lệ hợp lý trong kết cấu khung gỗ. Điều đặc biệt, trong nếp nhà sàn truyền thống là
Nhà sàn dân tộc Thái ở Sơn La. 18
mặc dù được cấu trúc từ các loại cây gỗ và cây có dóng, lợp bằng cỏ tranh hay ván thông,
nhưng không hề dùng đến một chiếc đinh trong thiết kế xây dựng. Tất cả các hệ thống dây
chằng buộc, thắt khá công phu và tinh xảo bằng lạt tre, giàn mây hoặc vỏ những cây chuyên
dùng trong rừng.
Chương 3:
Nhà sàn dân tộc thời hiện đại ở Sơn La.
Theo truyền thống, người Thái ở nhà sàn như họ đã xác định trong thành ngữ: “Hươn mi hạn,
quản mi xấu” (nhà có gác, sàn có cột). Nhà sàn của người Thái mang một nét đẹp riêng biệt,
đơn sơ, nhưng cũng không kém phần bề thế, sang trọng…
Thiên – Địa – Nhân trong kiến trúc nhà sàn người Thái:
Các bản mường của người Thái vùng Tây Bắc thường tập trung bên suối, chân đồi, tạo nên
cảnh sơn thủy hữu tình mà mỗi ngôi nhà là một điểm nhấn và là trung tâm của mọi hoạt động.
Cũng như nhiều dân tộc khác, người Thái cổ Tây Bắc quan niệm vũ trụ ba tầng thông tỏ và
giao cảm, mọi hoạt động nếu thuận theo các yếu tố đó sẽ có hiệu quả cao, mà kiến trúc nhà
sàn không nằm ngoài quỹ đạo đó.
Thiên: bao gồm quan niệm về vũ trụ, về các thế lực siêu nhiên chi phối mọi hoạt động của
con người, cùng với điều kiện sống và phong tục tập quán. Nhà sàn của người Thái cổ Tây
Bắc thường có hai đầu hồi khum khum như mai rùa gọi là "Tụp cống", gắn với truyền thuyết
thuở khai thiên lập địa, thần rùa đã dạy cho người Thái biết cách làm nhà. Kết cấu kiểu mái
này còn làm tăng vẻ đẹp và sự bền vững của ngôi nhà trước thời tiết khắc nghiệt của Tây Bắc.
Trên đòn nóc ở hai đầu hồi có trang trí hai thanh gỗ đóng chéo nhau hình chữ X, gọi là "Khau
cút". Tùy theo hoàn cảnh gia đình và địa vị xã hội mà "khau cút" có cách trang trí riêng từ đơn
giản tới phức tạp. Trên "khau cút" trang trí nhiều hoa văn, họa tiết hình trăng khuyết, hoa sen,
búp cây guột và đều có hoa đực và hoa cái tượng trưng cho âm dương và khát vọng sinh sôi
phát triển.
Trong ngôi nhà sàn bao giờ cũng có cột thiêng "sau hẹ". Trên cột thiêng có lồng một giỏ tre
tượng trưng cho bầu trời được gọi là "chóp nguôm", trên đó treo hình thần rùa bằng gỗ, ba
bông lúa, ba bông thì là, gói hạt rau cải và linh vật của nam, nữ đẽo bằng gỗ, cùng thanh
gươm Cột thiêng như cầu nối đất với trời, chuyên chở những ý nghĩa nhân sinh cao đẹp.
Trên đầu kèo và bậu cửa sổ được trang trí nhiều hình kỷ hà, hoa văn họa tiết mô phỏng cỏ,
cây, hoa, lá, chim thú với từng cặp đối xứng theo nguyên lý âm - dương hài hòa. Đặc biệt có
chạm đôi thuồng luồng chầu nhau, đây là linh vật chủ của sông suối và là biểu tượng của sức
mạnh và gia đình hạnh phúc.
Trên nhà sàn người Thái cổ Tây Bắc còn có hai bếp lửa, một bếp dành riêng cho nam giới,
một bếp dành cho nữ giới. Bếp lửa như trái tim hồng của ngôi nhà, ấm cúng giữa điệp trùng
non ngàn Tây Bắc.
Địa: bao gồm vật liệu và thế đất. Nhà sàn của người Thái cổ Tây Bắc được làm bằng gỗ tốt,
tre, hóp, lợp gianh tạo nên một vẻ thân thiện, hòa đồng với thiên nhiên. Nhà thường dựa lưng
vào đồi núi, quay mặt ra sông suối hoặc cánh đồng. Khi dựng nhà, yếu tố phong thủy rất được
san he".
Các bản Thái thường quần tụ ven suối chân đồi theo tiêu chí: “sơn chầu thủy tụ”. Những
ngôi nhà sàn bình dị ấm cúng, khói lam thơm thoảng gió đồng, lách cách tiếng thoi đưa, đâu
đây da diết một điệu khèn câu khắp, lốc cốc tiếng mõ trâu đàn về bản. Tất cả làm nên một vẻ
đẹp trong sáng đậm tình như một bức tranh sơn thuỷ, dân dã nguyên sơ của một nền văn hoá.
CHƯƠNG VI : BÀI HỌC .
Nhà sàn được làm bằng các vật liệu tự nhiên,ban ngày sử dụng ánh sáng và gió tự nhiên là
chủ yếu.vì vậy sống và sinh hoạt trong không gian của nhà sàn,con người luôn cảm thấy thoải
mái,thông thoáng,mát mẻ,lại thêm cảnh quan rừng núi cây cối xung quang cảnh tạo cho con
người có cảm giác gần gũi với thiên nhiên hơn,mà yếu tố thiên nhiên rất cần thiết trong thiết
kế nhà ở hiện nay.
Mọi không gian trong nhà sàn được sử dụng tối đa để phục vụ cuộc sống sinh hoạt,và được
phân chia chức năng 1 cách rõ ràng. Chủ nhân ngôi nhà rất tài tình trong việc bố trí, sắp xếp,
Nhà sàn dân tộc Thái ở Sơn La. 22
cất trữ lương thực, nông cụ, bếp lửa, chăn nuôi… cũng như khéo léo bố trí vị trí ngủ, nghỉ một
cách phù hợp cho từng thành viên trong gia đình. Không gian nhà sàn còn chứa đựng những
thiết chế mang yếu tố tâm linh như: đặt ban thờ gia tiên, đặt ban thờ ma nhà, ma rừng, đặt bồ
vía - nơi trú ngụ hồn vía của mọi người trong nhà. Thậm chí, nhà sàn của một số tộc người có
đặt các vật thể tô tem giáo hay biểu tượng chứa đựng khát vọng của con người… Là người
học nghề kiến trúc ta học được rất nhiều điều về cách tổ chức không gian của đồng bào dân
tộc Thái.
Trong xã hội đang phát triển như hiện nay,những ngôi nhà mang dáng vẻ hiện đại vẫn đang
được thiết kế và xây dựng ở các vùng quê nói chung và ở vùng Sơn La nói riêng ,bên cạnh
những ngôi nhà đẹp,hiện đại mà vẫn giữ được trong mình nét truyền thống của nhà sàn ,thì
vẫn có những ngôi nhà sàn xây dựng sử dụng vật liệu mới một cách tùy tiện,mang tính tự
phát, chưa phù hợp, đang đánh mất dần đi hình ảnh,bản sắc,truyền thống vùng miền của mình.
Vẻ đẹp là rất tốt,rất cần thiết cho mọi dân tộc, nhưng truyền thống lại là một vẻ đẹp vô giá mà
không gì có thể so sánh được của mỗi dân tộc. Là một người học nghề và ra trường sẽ làm
nghề kiến trúc,chúng ta cần phải tiếp thu, gìn giữ và phát triển những nét đặc trưng và đặc sắc
trong kiến trúc đó ,mỗi chúng ta cần tìm hiểu hơn nữa về truyền thống văn hóa ,bản sắc dân