TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ HỒ CHÍ MINH
KHOA ĐÀO TẠO SAU ĐẠI HỌC
LỚP: QUẢN TRỊ K22 – NGÀY 2
0O0
TIỂU LUẬN MÔN VĂN HÓA DOANH NGHIỆP
VẤN ĐỀ CÔNG NHẬN HÔN NHÂN ĐỒNG TÍNH
TẠI VIỆT NAM GVHD: TS. Huỳnh Thanh Tú
Nhóm thực hiện: Nhóm 1 - Tiểu nhóm chủ thể
1. Bùi Phương Ánh
2. Trần Thị Diệu
3. Võ Đình Trí Dũng
4. Nguyễn Thị Hồng Điệp
5. Bùi Hoàng Hiệp
Tp. Hồ Chí Minh, tháng 4 năm 2014
MỤC LỤC
1. Giúp cho mọi người hiểu đồng tính là tự nhiên, hôn nhân đồng tính là
xu hướng tự nhiên.
2. Chủ thể người đồng tính tự nói về vai trò, vị trí, trách nhiệm, quyền lợi
của mình trong xã hội.
3. Các nghiên cứu chứng tỏ hôn nhân đồng tính là bình thường, và các
nước trên thế giới đã chấp nhận.
Xu hướng ở Việt Nam, chuyển từ cấm sang không thừa nhận hôn nhân
đồng tính.
4. So sánh việc công nhận và không công nhận hôn nhân đồng tính có
ảnh hưởng như thế nào đến người đồng tính.
5. Người đồng tính có những hành động như thế nào để tăng sự ủng hộ
của xã hội.
6. Cần hiểu được nguyên nhân tại sao hôn nhân đồng tính bị kỳ thị, bị
cấm. Việc này giúp người đồng tính có những hành động phủ hợp để
kêu gọi sự ủng hộ hôn nhân đồng tính. 2
1. Lịch sử
Hôn nhân đồng tính (hôn nhân đồng giới) là hôn nhân giữa hai người có
cùnggiới tính sinh học và/hoặc nhận thực giới tính. Sự hợp pháp hóa hôn nhân
đồng tính hoặc khả năng thực hiện hôn nhân đồng tính được xem là quyền bình
đẳng hôn nhân
Những điều luật đầu tiên trong thời kỳ hiện đại cho phép hôn nhân đồng tính
được thông qua vào thập kỷ đầu tiên của thế kỷ 21. Cho đến ngày 19 tháng 8 năm
2013, 15 nước (Argentina, Bỉ, Brazil, Canada, Đan Mạch,Pháp, Iceland,Hà
Lan, New Zealand, Na Uy, Bồ Đào Nha, Tây Ban Nha, Nam Phi, Thụy
Điển, Uruguay) và nhiều nền luật pháp cấp dưới quốc gia (những khu vực ở
Mexico và Hoa Kỳ) cho phép hai người cùng giới lấy nhau. Một điều luật đã
Hiện nay chưa có cuộc điều tra chính thức về số người đồng tính tại Việt
Nam, các ước tính khác nhau có chênh lệch rất lớn. Theo ước tính của bác
sĩ Trần Bồng Sơn (nhà nghiên cứu về giới tính học nổi tiếng nhất tại Việt Nam),
số đồng tính nam ước tính là khoảng 70.000 người (chiếm 0,09% dân số). Một
nghiên cứu khác do tổ chức phi chính phủ CARE thực hiện ước tính Việt Nam có
khoảng 50-125 ngàn người đồng tính, chiếm khoảng 0,06-0,15% dân số.
Chưa có nhiều nghiên cứu về các khía cạnh khác nhau của đồng tính luyến ái
ở Việt Nam. Đại bộ phận người dân còn kỳ thị cũng như có những suy nghĩ sai
lệch về người đồng tính. Điều này có thể tác động xấu đến không chỉ những
người đồng tính mà còn đến xã hội nói chung. Tuy đồng tính luyến ái bắt đầu
được đề cập trong một số tác phẩm nghệ thuật và một số nhân vật lên tiếng kêu
gọi xã hội có thái độ tích cực đối với người đồng tính cũng như một số hoạt động
dành cho giới này được tổ chức, đồng tính luyến ái ở Việt Nam chưa thực sự
được quan tâm một cách đầy đủ và cần thiết.
2. Hiểu biết về người đồng tính
Các khái niệm
Đồng tính luyến ái, hay đồng tính chỉ việc bị hấp dẫn trên phương diện tình
yêu hay tình dục hoặc việc yêu đương hay quan hệ tình dục giữa những người
4
cùng giới tính với nhau trong hoàn cảnh nào đó hoặc một cách lâu dài. Gay (từ
tiếng Anh) chỉ đồng tính nam, lesbian (đọc ngắn là les) là chỉ đồng tính nữ.
Song tính (Bisexsual) là người có cảm giác hấp dẫn về tình cảm, thể chất với
cả hai giới.
Dị tính là người có cảm giác hấp dẫn về tình cảm, thể chất với người khác
giới.
Chuyển giới (Transgender) là trạng thái khi một người có giới tính sinh học
không trùng với bản dạng giới hay thể hiện giới của họ (ví dụ có cơ thể là nam và
nghĩ mình là nữ, hoặc bề ngoài như nữ). Người chuyển giới liên quan tới việc
người đó nhận dạng hoặc thể hiện mình là nam hay nữ, trong khi người đồng tính
Hành vi dị tính hay hành vi đồng tính đều là những khía cạnh bình thường
của tính dục con người. Cả hai đều được ghi nhận trong các nền văn hóa và giai
đoạn lịch sử khác nhau. Hàng thập kỷ nghiên cứu và thử nghiệm lâm sàng đều đi
đến kết luận rằng đồng tính, dị tính hay song tính đều là điều bình thường, tự
nhiên của con người. Các tổ chức y học, sức khỏe tâm thần đều lần lượt không
còn xem đồng tính là một bệnh hay rối loạn tâm lý nữa.
Một hiểu lầm rất lớn của nhiều người là “tất cả những người đồng tính và
song tính nam đều nhiễm HIV”.Đó chỉ là ngộ nhận hoang đường của nhiều
người. Trong thực tế, nguy cơ nhiễm HIV liên quan đến hành vi của một người,
chứ không liên quan đến xu hướng tính dục của người đó. Mọi hành vi quan hệ
tình dục không an toàn, dù là cùng giới hay khác giới, đều nguy hiểm như nhau.
Điều quan trọng cần nhớ về HIV/AIDS là bạn có thể phòng ngừa bệnh bằng cách
luôn luôn quan hệ tình dục an toàn, cũng như không sử dụng các chất ma túy.
3. Vị trí, vai trò và trách nhiệm của người đồng tính trong xã hội.
Người đồng tính thường bị xã hội cho là kỳ dị, không bình thường và khó
chấp nhận.Quan niệm này càng được thể hiện rõ nét ở những người lớn tuổi, có
suy nghĩ hướng về các giá trị truyền thống và văn hóa dân tộc. Cho tới thời điểm
này, người đồng tính vẫn vấp phải rất nhiều khó khăn khi công khai giới tính thật
của họ vì họ có thể bị khinh rẻ, bị đối xử không bình đẳng, thậm chí bị đánh đập
và giết hại. Tuy nhiên, bên cạnh số đông những người có thành kiến với người
đồng tính thì vẫn có những người có cái nhìn cảm thông hoặc có quan điểm trung
lập về người đồng tính và còn có nhóm người ủng hộ hôn nhân đồng tính. Những
6
nhóm người này, kể cả người đồng tính cho rằng xã hội nên có cái nhìn thay đổi
cho phù hợp với thực tế. Những người đấu tranh vì hôn nhân đồng tính cũng
khẳng định, các cặp đôi đồng tính có một đời sống vô cùng bình thường.“Đời
sống vợ chồng” của họ không gây ảnh hưởng gì đến xã hội. Nếu cấm họ kết hôn
với nhau, nghĩa là đã vô tình làm ảnh hưởng đến quyền lợi của họ. Mỗi một con
người trong bất kỳ xã hội nào đều có quyền con người (Nhân quyền). Các quyền
thể đóng tròn vai như một “người chồng”, “người vợ”, người con. Gia đình được
xem là tế bào của xã hội và nó được xây dựng dựa trên nền tảng tình yêu giữa hai
con người muốn gắn kết cùng nhau. Mà nền tảng của tình yêu là sự tự nguyện,
chân thành và cam kết. Tình yêu có thể đơn giản chỉ là sự cho và nhận yêu
thương, chăm sóc và quan tâm từ hai phía.Những điều này đều có thể có ở hai
người cùng giới. Chính vì thế một gia đình được xây dựng từ tình yêu của người
đồng giới thì không có gì đáng chê trách hay không thể chấp nhận được. Dù
không được pháp luật thừa nhận, nhiều người đồng tính vẫn sống với nhau và
một số nghiên cứu cho thấy họ cũng có khả năng giữ gìn mối quan hệ lâu dài như
các cặp khác giới.Thực tế cũng cho thấy trong xã hội hiện nay có rất nhiều người
đồng tính làm cha mẹ và nhiều người đồng tính mong muốn được làm cha
mẹ.Trong Điều tra dân số Hoa Kỳ năm 2000, 33% các gia đình đồng giới nữ và
22% các gia đình đồng giới nam nói có ít nhất một con. Ước tính năm 2005 ở Mỹ
có khoảng 270313 trẻ em đang được nuôi bởi những cặp đồng giới. Theo điều tra
dân số Hoa Kỳ vào năm 2010 thì cứ 4 cặp đồng tính lại có một cặp nuôi con, và
80% của số trẻ em này là con ruột. Nhiều nghiên cứu đã chỉ ra rằng không có sự
khác biệt giữa trẻ em do người đồng tính nuôi dạy với nhóm trẻ em do người dị
tính nuôi dạy khi xét về các yếu tố chính là: trí thông minh, tâm lý, sự thích nghi
xã hội và mức độ hòa nhập với bạn bè (theo viện nghiên cứu xã hội, kinh tế và
môi trường). Khi người đồng tính đóng vai trò là một người con trong gia đình
thì cách cư xử và tình cảm của họ dành cho cha mẹ cũng không bị cản trở hay
ảnh hưởng bởi sự đồng tính. Sự hiếu thảo của một người con không thể hiện ở
việc người đó có bản chất giới tính đúng với vẻ bề ngoài của mình mà quan trọng
là cách người đó quan tâm, chăm sóc, lo lắng cho cha mẹ. Nhiều người cho rằng
việc có con đồng tính sẽ khiến cha mẹ đau khổ, buồn phiền, thất vọng và xấu hổ
với những người xung quanh. Tuy nhiên, nếu bạn là một người đồng tính và bạn
sẵn sàng lừa dối bản thân để sống một cuộc sống như cha mẹ mong muốn thì bản
thân bạn chắc chắn sẽ không thể hạnh phúc. Khi đó, liệu cha mẹ bạn có còn vui
8
Hiệp hội Tâm lý Canada (CPA) khẳng định vào năm 2004:
Tài liệu (bao gồm tài liệu về những yếu tố cơ sở của hôn nhân đồng tính) chỉ
ra rằng tình trạng tài chính, tâm lý và thể chất của được cải thiện và con cái của
họ được hưởng lợi ích từ việc được nuôi dạy bởi một cặp được công nhận hợp
pháp. Như CPA đã khẳng định vào năm 2003, sự khó khăn mà người đồng tính
nuôi dạy con và con cái của họ phải đối diện là do kết quả của cách mà xã hội đối
xử với họ hơn là việc họ có thích hợp làm cha mẹ hay không. CPA công nhận và
đánh giá cao rằng nhiều người và tổ chức được cấp quyền đối với quan niệm và
vị trí của họ trong vấn đề này. Tuy nhiên, CPA cũng quan ngại rằng nhiều người
hiểu sai những kết quả của nghiên cứu tâm lý để ủng hộ vị trí của họ khi vị trí
của họ thì chính xác là có được là dựa trên vào những hệ thống niềm tin và giá trị
khác.CPA quả quyết rằng được hưởng lợi khi mối quan hệ của hai người nuôi
dạy chúng được công nhận và ủng hộ bởi những tổ chức xã hội.
Hiệp hội Nhân loại học Hoa Kỳ khẳng định vào năm 2005
Những kết quả trong hơn một thế kỷ của những nghiên cứu nhân loại học về
quan hệ họ hàng và gia đình trong những nềnvăn hóa khác nhau và thời điểm
khac nhau, không đưa ra sự ủng hộ nào cho quan điểm sự văn minh hóa và
những trật tự xã hội vững vàng phụ thuộc vào việc hôn nhân là chỉ dành cho quan
hệ khác giới. Hơn nữa, nghiên cứu nhân loại học ủng hộ kết luận rằng nhiều kiểu
gia đình bao gồm gia đình xây dựng dựa trên quan hệ đồng giới, có thể đóng góp
xây dựng xã hội vững mạnh và nhân bản.
Viện Nhi khoa Hoa Kỳ kết luận vào năm 2006, trong một bản phân tích
công bố trên tạp chí Nhi khoa:
Có dư dả bằng chứng cho thấy trẻ em của những cặp đồng tính cũng được
nuôi dạy tốt như những cặp dị tính. Hơn 25 năm nghiên cứu cho thấy không có
mối quan hệ giữa thiên hướng tình dục của cha/mẹ với bất kỳ yếu tố tình cảm,
tâm lý và cách cư xử của một đứa trẻ.Những số liệu này chứng tỏ không có rủi ro
đối với trẻ em khi lớn lên trong một gia đình với cha/mẹ là đồng tính.Những
người lớn tận tâm và biết cách nuôi dạy, cho dù họ là nam hay nữ, đồng tính hay
Năm 2009, hai nhà kinh tế học ở Đại học Emory chỉ ra rằng việc thông qua
luật tiểu bang cấm hôn nhân đồng tính ở Hoa Kỳ đi đôi với việc tăng tỉ lệ
11
nhiễmHIV. nghiên cứu cho thấy sự liên kết giữa luật cấm hôn nhân đồng tính ở
một bang và việc tăng tỉ lệ nhiễm HIV hằng năm ở bang đó thêm 4 ca trong
100.000 dân.
Trong một nghiên cứu, giáo sư Susan Golombok, đưa ra những kết quả có sự
tương đồng lớn với những nghiên cứu trước đó về gia đình của cặp đồng tính nữ.
Những nghiên cứu thấy rằng mối quan hệ giữa mẹ và con là tích cực và con cái
được điều chỉnh tốt. Không có sự khác nhau đáng kể giữa người mẹ đồng tính và
người mẹ dị tính trong hầu hết các khía cạnh nuôi dạy mặc dù [người ta] báo cáo
rằng người mẹ đồng tính đánh con ít hơn và tham gia nhiều hơn vào những hoạt
động vui chơi mang mang tính tưởng tượng và trong gia đình với con cái nhiều
hơn người mẹ dị tính.
Hầu hết các quốc gia hoặc tiểu bang cho phép hôn nhân đồng tính thì cũng
cho phép cặp đôi đồng giới nhận con nuôi (ngoại trừ ngoại lệ đã có từ lâu là Bồ
Đào Nha). Hơn nữa, nhiều quốc gia hoặc tiểu bang không cho phép hôn nhân
đồng tính nhưng lại cho phép cặp đôi đồng giới (không kết hôn) nhân con nuôi
như: Vương quốc Anh, tiểu bang Tây Úc, New South Wales và Tasmania ở Úc,
tiểu bang Coahuilla và Chihuahua ở Mexico, một số tiểu bang của Hoa Kỳ
(Colorado, Indiana, Nevada, Oregon) và ít nhất trong một vài trường hợp ở
Israel. Nhiều quốc gia hoặc tiểu bang khác cho phép second-parent: người cặp
đôi (không kết hôn) với người đồng tính nhận con của người đồng tính mà mình
cặp đôi làm con nuôi (xem như cha mẹ kế).
Nghiên cứu về tính bền vững của hôn nhân đồng tính
Ở Bỉ, năm 2009, có 158 nam và 213 nữ đăng ký ly dị trong khi 1133 nam và
999 nữ đăng ký kết hôn.
Ở Đan Mạch, năm 1997, tỉ lệ ly dị ở người đăng ký cặp đôi đồng giới (17%)
thấp hơn đáng kể so với tỉ lệ ly dị ở cặp đôi khác giới (43%). Phần đông hôn
2004
Quebec (19 Tháng 3), Massachusetts (17 Tháng 5), Yukon (14 Tháng
7), Manitoba (16 Tháng 9), Nova Scotia (24 Tháng 9), Saskatchewan (5
Tháng 11), Newfoundland (21 Tháng 12)
2005
New Brunswick (23 Tháng 6), Tây Ban Nha (3 Tháng
7), Canada [national] (20 Tháng 7)
2006
Nam Phi (30 Tháng 11)
2007
(không có)
13
2008
California (16 Tháng 6, gián đoạn, 5 Tháng 11; reinstated 28 Tháng 6
2013), Connecticut (12 Tháng 11)
2009
Na Uy (1 Tháng 1), Iowa (27 Tháng 4), Sweden (1 Tháng 5), Coquille
Indian Tribe (Oregon) (Tháng 5), Vermont (1 Tháng 9)
2010
New Hampshire (1 Tháng 1), District of Columbia (3 Tháng 3), Mexican
Federal District (4 Tháng 3), Bồ Đào Nha (5 Tháng 6), Iceland (27
Tháng 6), Argentina (22 Tháng 7)
2011
New York (24 Tháng 7), Suquamish tribe (Washington) (1 Tháng 8)
2012
Alagoas (6 Tháng 1), Quintana Roo (Tháng 5), Đan Mạch (15 Tháng
6), Sergipe (15 Tháng 7), Espírito Santo (15 Tháng 8), Caribbean
Netherlands (10 Tháng 10), Bahia (26 Tháng 11),Brazilian Federal
District (1 Tháng 12), Washington (6 Tháng 12), Piauí (15 Tháng
đình năm 2000 cấm kết hôn giữa hai người cùng giới tính.
Tuy nhiên, cuối năm 2013 dự thảo Luật sửa đổi đã bãi bỏ quy định cấm kết
hôn giữa những người đồng tính của Luật năm 2000 và thay bằng quy định mới.
Theo đó, “Nhà nước không thừa nhận quan hệ hôn nhân giữa những người cùng
giới tính”. Ngoài ra, Dự thảo còn bổ sung thêm các quy định nhằm giải quyết các
vấn đề phát sinh từ quan hệ chung sống giữa họ với nhau. Việc cho phép sống
chung có đăng ký sẽ tạo điều kiện thuận lợi cho Nhà nước xem xét, đánh giá
quan hệ đồng giới một cách chính xác, có cơ sở hơn so với việc chỉ đưa ra quy
định giải quyết hậu quả do việc sống chung không có đăng ký.
Viện Nghiên cứu Xã hội, Kinh tế và Môi trường (iSEE) đã công bố kết quả
nghiên cứu “Trải nghiệm thực tế và mưu cầu hạnh phúc lứa đôi” do nhóm tác giả
Nguyễn Thị Thu Nam, Vũ Thành Long, Phạm Thanh Trà thực hiện năm 2013.
Cũng theo kết quả nghiên cứu, có khoảng 800 người đồng tính nam và 461 người
đồng tính nữ hiện đang có mối quan hệ tình cảm đồng giới. Với những người đã
bộc lộ hoặc úp mở về mối quan hệ cùng giới của mình với gia đình, có đến
50,2% thừa nhận mối quan hệ đó bị cha mẹ phản đối; 31,2% cho biết cha mẹ
không ý kiến hoặc làm ngơ về điều này. Chỉ có 18,6% được cha mẹ ủng hộ hoặc
phần nào ủng hộ mà thôi. Ngoài ra, 46,3% cho hay tình cảm đó không được sự
chấp nhận của họ hàng. Thậm chí, có đến 16,8% từng bị gia đình và họ hàng đe
dọa nhằm chấm dứt mối quan hệ đó.
Nhóm nghiên cứu ghi nhận, có rất nhiều khó khăn nảy sinh từ cuộc sống
chung của những cặp đồng tính.
Phân tích số liệu định lượng cho thấy phần lớn những cặp đôi cùng giới nhìn
nhận đa phần các khó khăn của họ đến từ việc không được pháp luật công nhận
và bảo hộ (72%), không được sự công nhận của xã hội và cộng đồng (68,7%),
15
hoặc gia đình không chấp nhận (66,2%). Song song đó, 51,2% cặp cho rằng việc
không có sự ràng buộc về mặt pháp luật cũng khiến mối quan hệ của họ khó bền
vững. Nhiều cặp phản ánh họ không có sự tư vấn, khuyên bảo hay hỗ trợ từ gia
hạnh phúc, là chính bản thân mình thì còn quý giá hơn những cặp vợ chồng
sống không hòa hợp, sinh con không biết nuôi dạy, trở thành gánh nặng xã
hội.
- Thực chất đồng tính không phải là nhóm người nhỏ, mà do là giai đoạn cách
đây lâu phương tiện truyền thông còn kém nên mọi người chưa hiểu đưoc
nhiều vấn đề xã hội, hơn thế nữa do xã hội kỳ thị nên họ không công khai,
sống với bản chất của mình, mà ngày ngày đau khổ và gượng ép. Người
đồng tính cũng là một con người, sinh ra, lớn lên, có nhu cầu hạnh phúc và
đóng góp cho xã hội.
6. Công nhận và không công nhận hôn nhân đồng tính
6.1 Những ảnh hưởng của việc không công nhận hôn nhân đồng tínhtới
người đồng tính
Việc không công nhận hôn nhân đồng tính sẽ khiến người đồng tính bị kỳ thị,
phân biệt đối xử, không được xã hội công nhận là bình thường.
Thái độ chống lại, khinh bỉ, sợ hãi người đồng tính thậm chí đã phát triển
thành một căn bệnh có tên gọi Homophobia (chứng sợ người đồng tính). Và dù
Việt Nam không hẳn là một quốc gia quá gay gắt với những vấn đề trên và cũng
chưa có một con số khảo sát đáng tin cậy nào cho thấy sự chống đối người đồng
tính sẽ dẫn đến những hành động gì, nhưng bạn sẽ không khó gặp được những
người cho rằng đồng tính là một biểu hiện bệnh hoạn, suy đồi đạo đức và có thái
độ tẩy chay ra mặt. Và điều này dẫn đến một vấn đề nghiêm trọng hơn. Khi đồng
tính được xem là một biểu hiện của đạo đức suy đồi, nhiều người (đặc biệt là đàn
ông) phải giấu giếm nhu cầu sinh lý bình thường của mình. Nhiều người đã tìm
cách giải quyết nhu cầu tình dục của mình bằng con đường mại dâm thiếu
antoàn. Đây là một trong những lý do khiến số lượng người mắc HIV tại Việt
Nam tăng cao.
Một khảo sát của Viện nghiên cứu xã hội, kinh tế và môi trường vào năm
2009 với sự tham gia của hơn 3.000 người đồng tính nam cho thấy có tới 64,25%
17
18
Việc so sánh giữa ảnh hưởng của việc không công nhận hôn nhân đồng tính
và việc công nhận hôn nhân đồng tính cho thấy những tác động đến xã hội, đặc
biệt là cộng đồng người đồng tính.Và việc công nhận hôn nhân đồng tính mang
lại nhiều ảnh hưởng tích cực tới xã hội và đặc biệt là người đồng tính.
7. Người đồng tính làm gì để tăng sự ủng hộ hôn nhân đồng tính
Người đồng tính phải tự bảo vệ mình, đấu tranh để giành được sự chấp nhận
về mặt pháp luật cho hôn nhân đồng tính:
- Giúp mọi người trong gia đình, người thân, bạn bè, xã hội hiểu rõ đồng tính
là điều tự nhiên của con người, không ai có thể quyết định hay can thiệp
- Người đồng tính đảm bảo trách nhiệm, nghĩa vụ đối với gia đình, xã hội
- Tăng cường sự đấu tranh để tiến tới việc chấp nhận hôn nhân đồng tính, đây
là quá trình lâu dài và đòi hỏi cần được sự thay đổi nhận thức của xã hội và
sự thích ứng dần của xã hội
- Do việc thừa nhận hôn nhân đồng tính ở thời điểm này là chưa phù hợp do
tập quán, văn hóa gia đình Việt Nam chưa kịp thích ứng mà nên có những
bước đi thận trọng. Điển hình như Hà Lan, dù là quốc gia đầu tiên trên thế
giới cho phép kết hôn đồng tính song nhìn lại cho thấy Hà Lan phải mất tới
hơn 20 năm cho quá trình suốt từ năm 1979 đến năm 2001 để “ra” được kết
quả cuối cùng đó mà nói như GS Waaldijk là “tránh kinh thiên động địa”.
- Phát triển các phong trào để xã hội hiểu rõ hơn về hôn nhân đồng tính.
Ngay từ năm đầu tiên 2010, YxineFF - liên hoan phim ngắn trực tuyến đầu
tiên tại Việt Nam - đã trình chiếu các phim có liên quan đến LGBT. Đặc biệt
vào năm 2012, trong chương trình lựa chọn chính thức (Official Selection)
của YxineFF có tới 6 bộ phim chất lượng cao về đề tài này. Để góp phần cổ
vũ bình đẳng quyền lợi cho người đồng tính, song giới và chuyển giới, cũng
như phù hợp với tình hình phát triển của xã hội, tôi đã vận động để đưa vào
danh mục giải thưởng chính thức của YxineFF một giải mới mang tên Trái
tim cầu vồng (Rainbow Heart Award). Sự ra đời của giải thưởng này được
6. Thông tin từ trang web www.ics.org.vn và các trang web khác.