Tiểu luận Cổ phần hóa doanh nghiệp - Pdf 11

Tiểu luận

Cổ phần hóa doanh
nghiệp p.2
Lời mở đầu
Từ sau Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ VI, nền kinh tế nước ta
đang từng bước chuyển sang nền kinh tế thị trường định hướng xã
hội chủ nghĩa có sự điều tiết của Nhà nước.Trong một môi trường
mới,điều kiện cơ chế quản lý thay đổi,khi hiệu quả sản xuất kinh
doanh trở thành yếu tố sống còn của mỗi doanh nghiệp thì các
doanh nghiệp thuộc khu vực kinh tế Nhà nước đã bộc lộ những yếu
kém và lâm vào tình trạng sa sút và khủng hoảng.Kinh nghiệm từ
nhiều nước trên thế giới cho thấy,Cổ phần hóa có vai trò rất quan
trọng trongviệc đổi mới các doanh nghiệp Nhà nước,nhất là những
nền kinh tế đang trong quá trình chuyển đổi như Việt Nam.Cổ phần
hóa có tác động mạnh mẽ và rấthiệu quả đến việc khai thác,sử dụng
và phát huy các nguồn lực về vốn, tài sản và con người để phát triển
sản xuất kinh doanh,thúc đẩy tăng trưởng kinh tế.
Vì vậy Cổ phần hóa là một chủ trương lớn của Đảng và Nhà

Nhà nước
CPH là chủ trương đã được thực tế chứng minh là rất đúng
đắn ,có tác dụng rõ rệt nâng cao hiệu quả DNNN.Chủ trương này đã
được quan tâm hoàn thiện,luật hóa và gần đây tập trung chỉ đạo đạt
kết quả khá hơn.Song việc thực hiện vẫn còn chậm và còn khó
khăn,vướng mắc cả trong quá trình tiến hành lẫn sau CPH.Đây là
vấn đề nhạy cảm,đụng chạm đến lợi ích của nhiều đối tượng,nhất là
những người lãnh đạo và quản lý doanh nghiệp;do đó việc thực hiện
phụ thuộc rất lớn vào ý thức,đồng tình hay không của những người
này.Quy trình CPH có nhiều khâu phức tạp,nhất là xác định giá trị doanh nghiệp,xử lý những vấn đề tồn đọng,cần phải chỉ đạo tính
toán chặt chẽ,nếu không sẽ sơ hở,thất thoát tái sản nhà nước.Để có
thể tìm ra phương thức bổ khuyết cho giải pháp hiện hành,cần phải
nắm vững mục tiêu,yêu cầu và nội dung thực chất của CPH.
Theo Nghị quyết TW 3 (khóa IX) của Đảng và nghị định
187/2004/NĐ-CP ngày 16.11.2004 của Chính phủ về việc chuyển
công ty Nhà nước thành công ty cổ phần,ngoài việc huy động thêm
vốn của xã hội để tăng cường năng lực tài chính,thì mục tiêu của
CPH là nhằm sử dụng có hiệu quả vốn,tài sản của Nhà nước,nâng
cao hiệu quả,sức cạnh tranh của các doanh nghiệp nhà nước và nền
kinh tế nói chung,thông qua việc thay đổi cơ cấu sở hữu,tạo ra động
lực mới và chuyển DNNN sang phương thức quản lý mới năng
động,chặt chẽ hơn.
Nhìn bề ngoài , CPH là quá trình : xác định lại mục
tiêu,phương hướng kinh doanh,nhu cầu vốn điều lệ và chia ra thành
cổ phần,đánh giá lại tài sản của doanh nghiệp,quyết định mức vốn
Nhà nước cần nắm giữ và rao bán rộng rãi phần còn lại.Qua đó làm
thay đổi cơ cấu sở hữu,huy động thêm vốn,xác lập cụ thể những

hiện trong gần 20 năm qua.Mặc dù có nhiều thăng trầm nhưng đã
đem lại những kết quả đáng ghi nhận.CPH DNNN được xem là một
giải pháp cơ bản và quan trọng nhất để cơ cấu lại DNNN.Thực hiện
1.một số kết quả đạt được chủ trương này,ngay từ tháng 5 năm 1990,Chủ tịch Hội đồng Bộ
trưởng (nay là thủ tướng chính phủ) ra quyết định số 143-HĐBT
cho phép thí điểm chuyển một số DNNN thành công ty cổ phần.Hai
năm sau,ngày 8/6/1992,Chủ tịch Hội đồng Bộ trưởng lại ban hành
chỉ thị số 202/CT về tiếp tục thí điểm chuyển một số DNNN thành
công ty cổ phần.Từ ngày đó đến nay đã 15 năm.Qua 15 năm thực
hiện,đến hết năm 2005,chúng ta đã thành lập được 2987 công ty cổ
phần trên cơ sở CPH DNNN và bộ phận DNNN.Kết quả thực hiện
qua từng năm như sau:
Năm 1990-1992:không có DNNN nào được CPH.
Năm 1993 : 02 đơn vị
Năm 1994 : 01 đơn vị
Năm 1995 : 3 đơn vị
Năm 1996 : 5 đơn vị
Năm 1997 : 7 đơn vị
Năm 1998 : 100 đơn vị
Năm 1999 : 250 đơn vị
Năm 2000 : 212 đơn vị
Năm 2001 : 204 đơn vị
Năm 2002 : 164 đơn vị
Năm 2003 : 532 đơn vị
Năm 2004 : 753 đơn vị
Năm 2005 : 754 đơn vị
Tổng cộng : 2987 đơn vị

các DNNN,như vậy có thêm điều kiện để củng cố các DNNN khác.
Qua CPH,nhiều yếu kém cố hữu đã được giải quyết:nợ xấu,tồn
kho vật tư hàng hóa kém phẩm chất,các trang thiết bị và tài sản cũ
nát…Với các doanh nghiệp đã CPH,bộ máy và phương pháp quản
lý đã thích nghi,năng động và sát với thị trường hơn,phần nào làm
tăng trách nhiệm của người lao động đối với doanh nghiệp,động lực
lao động mới đang dần được tạo ra.Các biện pháp tiến hành cổ phần
hóa ngày càng được hoàn thiện hơn.Cơ chế định giá doanh nghiệp
mới qua các tổ chức tư vấn độc lập(thay vì qua hội đồng định giá
như trước đây) được áp dụng.Nhiều doanh nghiệp đã thực hiện đấu
thầu giá cổ phiếu trên thị trường chứng khoán.
Năm 2005 đã xuất hiện một điểm sáng mới cần được nhấn
mạnh là trong số doanh nghiệp CPH đã có nhiều doanh nghiệp làm
ăn khá,quy mô vốn lớn,hấp dẫn các nhà đầu tư.Có thể kể đến các
công ty như : Công ty khoan và dịch vụ dầu khí,các nhà máy thủy
điện Sông Hinh (Vĩnh Sơn),Thác Bà,Phả Lại.Điện lực Khánh
Hòa,Công ty giấy Tân Mai.Công ty vận tải xăng dầu đường thủy
I,Vinamilk,Công ty Kinh Đô.Giá trị của Vinamilk lên tới 2500 tỷ
đồng,trong đó vốn Nhà nước là 1500 tỷ đồng.Nhà máy thủy điện
Sông Hinh có giá trị 2114 tỷ đồng trong đó vốn Nhà nước là 1253 tỷ
đồng.Một điểm khác biệt nữa ,đó là việc xác định giá trị cổ phần
được thực hiện thông qua đấu giá công khai trên thị trường.Ngay
trong ngày đầu tiên bán đấu giá Vinamilk,bán hết hơn 1,66 triệu cổ phiếu với giá trung bình cao gấp 4,89 lần mệnh giá.Tính minh bạch
và công khai đấu giá cổ phiếu của công ty Sữa Việt Nam đã thu hút
các nhà đầu tư chiến lược,trong đó có các nhà đầu tư nước
ngoài.Trong số 7 nhà đầu tư,tổ chức mua được cổ phần Vinamilk có
5 quỹ đầu tư nước ngoài và 2 nhà đầu tư chiến lược nước

đông ngoài doanh nghiệp mua 26%(trong đó có 400.000 cổ phần ưu
đãi cho người trồng mía),người lao động trong doanh nghiệp mua
24% cổ phần.ở công ty cổ phần mía đường La Ngà,Nhà nước giữ
35%,nông dân trồng mía và cổ đông ngoài doanh nghiệp mua 25%
(trong đó có 150.000 cổ phần ưu đãi cho người trồng mía),người lao
động trong doanh nghiệp mua 40%cổ phần.Công ty cổ phần Mía
đường Lam Sơn là một doanh nghiệp hoạt động rất có hiệu quả.Sau
5 năm CPH(từ năm 2000 đến 2005) nộp ngân sách tăng từ 10 tỷ lên
38 tỷ đồng và lợi nhuận đạt tới 77,5 tỷ đồng và cổ tức là 20%/năm.
Thứ tư,là việc chuyển từ CPH theo hướng cơ bản khép kín,nội
bộ sang hình thức đấu giá công khai,bán cổ phần ra bên ngoài để thu
hút nhà đầu tư trong và ngoài nước.Đây được coi là sự chuyển biến
"có chất " nhất thể hiện sự thay đổi căn bản quan điểm và chủ
trương về CPH,góp phần tạo ra sức bật mạnh mẽ để đẩy
nhanh,mạnh tiến trình cải cách hệ thống DNNN một cách công
khai,minh bạch và tạo điều kiện cho các thành phần kinh tế trong và ngoài nước cùng tham gia.Trong đợt đấu giá cổ phiếu đầu tiên của
công ty Sữa Việt nam đã thu hút được các nhà đầu tư chiến lược
nước ngoài và họ đã mua tới 80% tổng số cổ phần bản ra.
Thứ năm, CPH là một xu hướng tất yếu,là giải pháp mang tính
đột phá nhằm chuyển đổi DNNN từ đơn sở hữu sang đa sở hữu.Các
doanh nghiệp quân đội cũng không nằm ngoài xu hướng đó.Khi
triển khai thực hiện CPH các DN đã gặp rất nhiều khó khăn,bởi vì
các doanh nghiệp quân đội vốn chưa thích nghi hoàn toàn với cơ
chế thị trường,bản thân người lao động cũng chưa sẵn sàng cho việc
này,nhưng tính đến thời điểm này,đã có 16 DNQĐ triển khai thực
hiện CPH,trong đó có 9 công ty,xí nghiệp phụ thuộc hoàn thành
xong(đạt 56% kế hoạch).Hình thức phổ biến nhất là giữ nguyên vốn

hành trung ương Đảng khóa IX là phải hoàn thành về cơ bản việc
CPH DNNN vào năm 2005 là chưa đạt.
2.Những vấn đề nảy sinh
Theo báo cáo kết quả khảo sát của dự án hỗ trợ kỹ thuật giám
sát chuyển đổi sở hữu DNNN tại 934 doanh nghiệp đã CPH cho
thấy,thời gian CPH một doanh nghiệp tuy đã giảm từ 512 ngày
(năm 2001) xuống còn 437 ngày (năm 2004) nhưng vẫn còn dài.
Chuyển sang công ty cổ phần doanh nghiệp trở thành đa sở
hữu về vốn.Nhưng thực tế trong số gần 3000 doanh nghiệp đã cổ phần,thì chỉ có 30% Nhà nước không giữ một đồng vốn
nào,29%Nhà nước giữ cổ phần chi phối trên 51%.Nhà nước đang
còn nắm khoảng 46,5% vốn kinh doanh của các doanh nghiệp
này.Như vậy thực chất mới chỉ có khoảng 8% vốn kinh doanh của
các DNNN đã CPH thuộc về các chủ sở hữu khác-không phải Nhà
nước ( phần lớn là những cổ đông vốn là người lao động trong
doanh nghiệp).Con số này là quá ít.Vì nói đến CPH thì chỉ tiêu chủ
yếu nhất là CPH vốn kinh doanh,do vậy có thể nói rằng CPH các
DNNN được thực hiên rất chậm chạp,chưa nhiều.
Qua số liệu trên ta cũng nhận thấy mặc dù đã cổ phần hóa
nhưng Nhà nước vẫn là cổ đông lớn nhất ,đồng thời phần lớn các
công ty cổ phần được thành lập theo cách này đang được Nhà Nước
nắm cổ phần chi phối.Điều đáng nói là tỷ lệ vốn điều lệ mà Nhà
nước còn nắm tại các công ty cổ phần không giảm mà ngày càng
tăng.Nếu thời kì đầu (1992-1998) tỷ lệ cổ phần mà Nhà nước nắm
trong các công ty cổ phần là 28% thì đến thời kì 2001-2004 tỷ lệ
này lên tới 49,8% và hiện nay bình quân là 46,5%.Việc Nhà nước
đang còn nắm quá nhiều vốn cho thấy sự chi phối,gây ảnh hưởng
của Nhà nước vẫn ở mức độ lớn (dưới các hình thức khác nhau,trực

như đã làm trong thời gian qua vì vai trò,tầm quan trọng và phạm vi
kinh doanh,phạm vi ảnh hưởng của các doanh nghiệp này rất lớn và phức tạp hơn nhiều.Rõ ràng để CPH thành công các doanh nghiệp
này cần phải có những giải pháp thích hợp
Những cản trở đối với quá trình CPH các DNNN trong thời
gian qua : Chiến lược,chính sách và cơ chế quản lý chưa phù hợp,rõ
ràng,không có quy định ưu tiên
CPH đối với doanh nghiệp hay bộ phận kinh tế nào.Công tác
chuẩn bị và hỗ trợ các DNNN thực hiện CPH chưa làm tốt nên
nhiều doanh nghiệp khi tiến hành CPH gặp rất nhiều khó khăn , nhất
là vấn đề giải quyết các tồn tại của DNNN trước đây hay giải quyết
vấn đề người lao động dư thừa khi CPH.Hơn nữa nhiều doanh
nghiệp đang gặp khó khăn nếu không có sự trợ giúp thì rất khó
chuyển
thành công ty cổ phần.Một số nội dung,cơ chế chính sách đưa
ra chưa thực sự bám sát đời sống doanh nghiệp.
Tiến hành CPH DNNN là một giải pháp cải cách mang tính
chất triệt để nhất,cương quyết nhất,cho nên rất cần phải có văn bản
pháp luật có tính pháp lý cao làm cơ sở vững chắc cho việc triển
khai thực hiện.Nhưng trên thực tế vẫn còn thiếu một hệ thống các
văn bản pháp quy có tính pháp lý cao như luật,pháp lệnh về CPH.
Đội ngũ cán bộ chỉ đạo đổi mới DNNN chưa đáp ứng được
yêu cầu đặt ra.Số lượng cán bộ kiêm nhiệm còn nhiều nên ít chú
trọng,thiếu chủ động và kiên quyết trong việc tổ chức triền khai và
đẩy nhanh CPH.Công tác giám sát và đôn đốc của ban chỉ đạo TW
đối với công tác CPH ở các cấp cơ sở chưa được tốt.
nền kinh tế nước ta đang trong quá trình chuyển đổi từ cơ chế kế
hoạch hóa tập trung sang kinh tế thị trường.Do đó người lao
động,các nhà đầu tư ít hào hứng mua cổ phần tại các doanh nghiệp
CPH.
Việc lựa chọn các doanh nghiệp CPH ở các bộ ngành,các địa
phưong chưa được nhận thức đúng.Nhiều địa phương,bộ ngành
chọn các doanh nghiệp kinh doanh khó khăn,hiệu quả thấp,thậm chí
không hiệu quả,tình hình tài chính chưa lành mạnh,lao động dôi dư
nhiều,nợ phải trả lớn,nợ phải thu khó đòi lớn hoặc không đủ hồ
sơ,thiếu tài sản vật tư,ứ đọng,kém,mất phẩm chất,lạc hậu về kỹ
thuật để CPH dẫn đến một số doanh nghiệp không hấp dẫn nhà đầu
tư và bị vướng mắc ngay khi triển khai thực hiện CPH.
Vấn đề quyền lợi của các cán bộ quản lý,thu nhập,việc làm của
người lao động,đặc biệt là vị trí của người quản lý trực tiếp tại
DNNN là những vấn đề gay cấn đã làm cho một số cán bộ chủ chốt
chần chừ,ngại CPH,thậm chí không muốn CPH.
Đến ngay khung pháp lý vẫn chưa đầy đủ để tạo lập một môi
trường kinh doanh,cạnh tranh bình đẳng giữa các thành phần kinh tế
dẫn tới nhiều doanh nghiệp còn do dự ,so sánh thiệt hơn khi chuyển
từ DNNN sang hình thức công ty cổ phần.
III.một số giải pháp nâng cao hiệu quả của quá trình CPH
doanh nghiệp nhà nước ở việt nam Mặc dù đã có nhiều đổi mới quan trọng,có nhiều bước tiến
đáng kể trong nhiều lĩnh vực nhưng hiện tại CPH DNNN còn gặp
phải nhiều khó khăn.Thực tiễn đòi hỏi phải đẩy mạnh CPH nhằm
nâng cao hiệu quả kinh tế xã hội.Để hoàn thành chỉ tiêu CPH cho
các năm tiếp theo,tránh vấp phải một số vấn đề không đang có trong
quá trình CPH,để chương trình cải cách DNNN đạt kết quả tốt,em

đạo luật về CPH DNNN.
3.Tổ chức thực hiện có hiệu quả chủ trương CPH DNNN
Việc lựa chọn DNNN sang công ty cổ phần phải tính đến khả năng
tham gia của các cá nhân và các tổ chức có vốn.Họ là người đầu tư
tài chính vì mục tiêu lợi nhuận .Vì vậy không ai mua cổ phiếu ở các
doanh nghiệp thua lỗ.Do đó trước mắt phải nhằm CPH các doanh
nghiệp làm ăn có lãi và tương đối có uy tín trong kinh doanh.
3.1.Lựa chọn doanh nghiệp CPH
Việc lựa chọn DNNN để CPH còn liên quan đến điều kiện kinh tế
xã hội hiện nay của đất nước.Việc CPH các doanh nghiệp có quy
mô vừa và nhỏ là phù hợp với điều kiện thực tế hiện nay.Trong thời
gian tới cần tiến hành CPH các doanh nghiệp có quy mô lớn hơn.
3.2.1.Tăng cương công tác chỉ đạo
3.2Tổ chức thực hiện kế hoạch CPH
Thể hiện quyết tâm mạnh mẽ của Nhà Nước với vai trò chủ sở
hữu ,với những biện pháp quyết liệt hơn,khẩn trương hơn,có lộ trình cụ thể.Tiến hành mở nhanh những vùng,lĩnh vực kinh doanh đang
còn độc quyền hay mang tính độc quyền,tạo cơ hội cho các doanh
nghiệp thuộc các thành phần kinh tế khác nhau tham gia .Cùng với
đó tập trung chỉ đạo thực hiện nhanh và kiên quyết việc CPH các
DNNN lớn,chiếm giữ một lượng vốn lớn của Nhà nước,đang nắm
nhiều lợi thế độc quyền nhưng chậm đổi mới.Đối với các doanh
nghiệp này,thực hiện CPH còn phải được xác định là một trong
những nhiệm vụ quan trọng nhất của ban lãnh đạo,quản lý doanh
nghiệp.Họ phải có trách nhiệm thực hiện những chủ trương đổi mới
và cải cách,những chiến lược của chủ đầu tư- của Nhà nước.Chỉ có
thực hiện thành công ở các doanh nghiệp này thì mới hoàn thành sự
nghiệp CPH các DNNN.

triển công ty cổ phần .
ổn định tiền tệ,giảm tốc độ lạm phát là điều kiện quan trọng
nhất.Tiền tệ ổn định là điều kiện quan trọng cho sự ra đời của của
công ty cổ phần,tiền tệ là yếu tố tác động đến nền kinh tế.Trong nền
kinh tế thị trường,tiền tệ là vật ngang giá chung,có vai trò nối liền
tất cả các loại thị trường và nó chỉ phát huy được chức năng khi có
sự ổn định tiền tệ.Sự ổn định tiền tệ sẽ thúc đẩy sự ra đời các doanh
nghiệp mới trong đó có công ty cổ phần.bên cạnh đó,về thực chất
người mua cổ phiếu là đầu tư tài chính với mục đích lợi nhuận cao
hơn và đều có yêu cầu chung là phải an toàn trong khoản đầu tư đó.Nếu lạm phát họ sẽ không sẵn sàng mua cổ phiếu của công ty cổ
phần.Lạm phát cao còn hạn chế khả năng phát hành cổ phiếu,trái
phiếu của doanh nghiệp vì lợi tức cổ phiếu,trái phiếu cao doanh
nghiệp không chịu nổi.Do đó lạm phát thấp sẽ thúc đẩy nhanh sự ra
đời và phát triển của thị trường vốn trong nước.Đồng thời nó tạo
điều kiện thuận lợi cho việc phát hành cổ phiếu,trái phiếu và cả
những người đầu tư lĩnh vực này.
Thứ hai,hình thành thị trường chứng khoán để tác động tích
cực góp vốn đầu tư phát triển công ty cổ phần.Khi chấp nhận nền
kinh tế nhiều thành phần khu vực tư nhân được mở rộng,luật doanh
nghiệp được ban hành .Theo luật này công ty cổ phần được phát
hành trái phiếu và cổ phiếu là những mặt hàng cung cấp cho thị
trường chứng khoán,nên thị trường chứng khoán được tổ chức thì
việc mua bán chứng khoán được dễ dàng sẽ đưa vốn vào sản xuất
tốt hơn.Thị trường chứng khoán và công ty cổ phần có tác dụng hỗ
trợ tích cực cho nhau,thị trường chứng khoán là "chợ trao đổi hàng
hóa cổ phần" cho công ty cổ phần.Công ty cổ phần là tiền đề đáp
ứng hàng hóa cổ phần cho yêu cầu của thị trường chứng khoán.Như

thuộc vốn Nhà nước theo mức quy định của Bộ Tài chính. Thực tế tiến hành CPH DNNN cho thấy ưu tiên trên là hợp lý
và phù hợp với thực tiễn của công tác CPH và được sự đồng tình
của các doanh nghiệp.
3.2.4Các giải pháp khác
3.2.4.1.Nhà nước cần có chính sách giúp đỡ để công nhân viên
chức có khả năng mua cổ phiếu ở các doanh nghiệp tiến hành cổ
phần hóa
Nhà nước cho công nhân viên chức vay tín dụng với lãi suất
thấp,thời hạn dài,tương tự như Nhà nước cho nông dân vay vốn để
sản xuất.Đây là kinh nghiệm tốt mà một số nước đã thực hiện trong
quá trình CPH DNNN.
Đối với người lao động thì 2 vấn đề đáng quan tâm lo ngại khi
CPH là việc làm và thu nhập.Khi DNNN chuyển sang công ty cổ
phần rồi họ có bị thải hồi không?Thu nhập trong công ty cổ phần có
bằng hợc cao hơn trong DNNN không?
Về quyền lợi của người lao động trong doanh nghiệp
CPH,điều 14 NĐ 44/1998/NĐ-CP quyết đinh được hưởng nhiều ưu
đãi:
- Được Nhà nước bán với giá ưu đãi cho người lao động trong
doanh nghiệp tùy theo năm công tác của từng người.Mỗi năm làm
việc cho nhà nước được tối đa mua 10 cổ phần với mức giá giảm
30% so với các đối tượng khác.
- Tổng giá trị ưu đãi cho người lao động không quá 20% giá trị
vốn Nhà nước tại doanh nghiệp. - Người lao động nghèo trong doanh nghiệp được mua cổ phần


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status