BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
VIỆN KHOA HỌC GIÁO DỤC VIỆT NAM
o0o
LÊ THANH TÂM
CƠ SỞ KHOA HỌC VỀ QUẢN LÝ TRƯỜNG ĐẠI HỌC
THUỘC BỘ CÔNG THƯƠNG THEO HƯỚNG
TỰ CHỦ VÀ TRÁCH NHIỆM XÃ HỘI
Chuyên ngành: QUẢN LÝ GIÁO DỤC
Mã số: 62.14.01.14
TÓM TẮT LUẬN ÁN TIẾN SĨ KHOA HỌC GIÁO DỤC Người hướng dẫn khoa học:
1. GS. TS. Nguyễn Thị Mỹ Lộc
2. PGS.TS. Nguyễn Tiến Hùng
Hà Nội - 2014
chủ và TNXH.
4. GIẢ THUYẾT KHOA HỌC
Việc thực hiện tự chủ và TNXH trong quản lý trường ĐH là một yếu tố quan trọng để
cho phép các cơ sở GDĐH đáp ứng tốt nhất nhu cầu mới đang được đặt ra cho mỗi nhà
trường. Tuy nhiên nhận thức về thực hiện quyền tự chủ, TNXH và thực hiện tự chủ, TNXH
của các cơ sở GDĐH còn rất khác nhau ở nước ta; nếu cụ thể hóa được nội dung và mức độ
tự chủ, cũng như nội dung TNXH và các điều kiện cơ bản để thực hiện quyền tự chủ và
TNXH trong quản lý cơ sở GDĐH, thì quá trình thực hiện tự chủ và TNXH ở các trường
ĐH sẽ có căn cứ khoa học và có tính khả thi hơn.
Quản lý trường ĐH thuộc Bộ Công Thương theo hướng tự chủ và TNXH còn hạn chế,
mức độ tự chủ và năng lực thực hiện TNXH còn thấp gây cản trở đáng kể cho phát triển mỗi
trường; nếu đề xuất được các giải pháp quản lý thực hiện tốt hơn quyền tự chủ và TNXH sẽ
giúp các trường nâng được chất lượng và hiệu quả đào tạo, và điều này trực tiếp đáp ứng
yêu cầu cấp thiết của người học, của doanh nghiệp và sự phát triển kinh tế của ngành và
kinh tế - xã hội của cộng đồng mà trường phục vụ.
5. NHIỆM VỤ NGHIÊN CỨU
- Xác lập cơ sở lý luận về quản lý trường ĐH thuộc sự quản lý của Bộ chủ quản và Bộ
Giáo dục & Đào tạo theo hướng thực hiện quyền tự chủ và TNXH.
- Khảo sát, phân tích, đánh giá thực trạng quản lý theo hướng thực hiện quyền tự chủ
và TNXH của một số trường ĐH thuộc Bộ Công Thương – Các trường ĐH được quản lý
theo phương thức song bộ (Bộ chủ quản và Bộ Giáo dục & Đào tạo).
- Đề xuất các giải pháp nhằm thực hiện quản lý trường ĐH thuộc Bộ Công Thương
theo hướng tự chủ và TNXH.
- Tổ chức khảo sát tính cấp thiết và khả thi của các giải pháp được đề xuất; thử nghiệm
giải pháp đề xuất.
6. GIỚI HẠN CỦA ĐỀ TÀI
Do điều kiện có hạn, đề tài tập trung nghiên cứu khảo sát 4 trên tổng số 8 trường ĐH
công lập thuộc Bộ Công Thương: ĐH Công nghiệp Việt Trì, ĐH Công nghiệp Hà Nội, ĐH
Công nghiệp Việt – Hung, ĐH Sao Đỏ, và tiến hành thử nghiệm giải pháp “Đa dạng hóa
nguồn thu trên cơ sở phát huy sự năng động sáng tạo của các đơn vị và cá nhân trong
- Hệ thống hóa được những vấn đề lý luận về quản lý trường ĐH theo hướng tự chủ
và TNXH; trên cơ sở đó đề xuất các nội dung cơ bản của quản lý trường ĐH theo hướng tự
chủ và TNXH.
- Đưa ra được bức tranh thực trạng về quản lý trường ĐH thuộc Bộ Công Thương theo
hướng tự chủ và TNXH.
- Đề xuất được hệ thống các giải pháp quản lý thực hiện tự chủ và TNXH ở các trường
ĐH thuộc Bộ Công Thương.
10. CẤU TRÚC CỦA LUẬN ÁN
Ngoài phần mở đầu, kết luận và khuyến nghị, danh mục tài liệu tham khảo, danh mục các
công trình khoa học nghiên cứu sinh đã công bố liên quan đến Luận án, Luận án gồm ba chương:
Chương 1. Cơ sở lý luận về quản lý trường đại học thuộc Bộ chủ quản theo hướng tự
chủ, TNXH
Chương 2. Cơ sở thực tiễn về quản lý trường đại học thuộc Bộ chủ quản theo hướng tự
chủ và TNXH
Chương 3. Các giải pháp thực hiện quản lý trường ĐH thuộc Bộ Công Thương theo
hướng tự chủ và TNXH
Chương 1. CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ QUẢN LÝ TRƯỜNG ĐẠI HỌC THUỘC BỘ CHỦ
QUẢN THEO HƯỚNG TỰ CHỦ, TRÁCH NHIỆM XÃ HỘI
1.1. TỔNG QUAN LỊCH SỬ NGHIÊN CỨU VẤN ĐỀ
1.1.1. Nghiên cứu ngoài nước
Khái quát về các công trình nghiên cứu về tự chủ và TNXH trên thế giới.
- Thực tế cho thấy, trên thế giới các trường ĐH được giao quyền tự chủ từ rất sớm
phù hợp với quy luật quản trị ĐH. Nguyên lý về tự chủ của Wilhelm Von Humboldt đã
được hình thành vào những năm 1810 với những nguyên lý tiền đề tự do giảng dạy và tự do
học tập. ĐH cần được tự chủ không có sự can thiệp của nhà nước.
- Hội đồng giáo dục (Education commission, 1964 -1966) đã chỉ ra rằng: vấn đề tự do
học thuật đối với giáo viên là một yêu cầu bức thiết để phát triển môi trường, tôn trọng tri
thức và năng lực.
- Salmi, J. (2009) cho rằng: “Khái niệm, bản chất, nội dung tự chủ được quy định rõ
1.2.2. Trường đại học và quản lý trường đại học
Trường ĐH là một tổ chức giảng dạy và nghiên cứu khoa học bao gồm các khoa, bộ
môn, trung tâm nghiên cứu và có khả năng cấp được bằng cử nhân, thạc sĩ và tiến sĩ. Luật
giáo dục năm 2005 quy định cụ thể đối với trường ĐH.
Phân tích một số khái niệm về hoạt động quản lý và quản lý giáo dục, quản lý nhà
trường dưới nhiều góc độ khác nhau; vai trò của quản lý của các nhà lãnh đạo và quản lý
trường ĐH.
1.2.3. Tự chủ và trách nhiệm xã hội là thuộc tính của trường đại học
Thực tiễn và các nghiên cứu của Ngân hàng thế giới, Ngân hàng Châu Á và Chương
trình phát triển của Liên hợp quốc, đều chứng minh rằng một hệ thống phân cấp QLGD nói
chung hay quản lý trường ĐH nói riêng muốn vận hành tốt và có hiệu quả phải mang các
đặc điểm chính như: Tính đáp ứng, tính chịu trách nhiệm, tính tham dự, tính minh bạch và
tính tự chủ của cấp thực hiện (cấp trường ĐH). Ngoài các đặc điểm chính trên, quản lý
trường ĐH theo hướng thực hiện quyền tự chủ và TNXH cần phải có các đặc điểm sau: Tính
nhất trí cao; Tính công bằng; Tính hiệu quả và hiệu suất; và Tầm nhìn chiến lược.
1.3. TỰ CHỦ VÀ TRÁCH NHIỆM XÃ HỘI CỦA TRƯỜNG ĐẠI HỌC TRONG
PHÂN CẤP QUẢN LÝ
1.3.1. Phân cấp và phân cấp quản lý giáo dục đại học
1.3.1.1. Khái niệm phân cấp quản lý, các hình thức phân cấp quản lý
- Phân tích một số khái niệm về phân cấp quản lý ở các góc độ khác nhau;
- Các hình thức phân cấp quản lý: theo Hanson (1998) chia phân cấp quản lý theo các
hình thức sau: Phi tập trung hóa (Deconcentration); Ủy thác nhiệm vụ (Devolution); Ủy
quyền (Delegation); Tư nhân hóa (Privatization).
1.3.1.2. Phân cấp quản lý giáo dục đại học
Vận dụng các quan niệm chung về phân cấp quản lý, phân cấp quản lý GDĐH bao
hàm sự chuyển giao quyền hạn và trách nhiệm từ chính quyền trung ương cho các các
trường (bao gồm cả trường công và trường tư). Nhà nước chuyển từ ra mệnh lệnh chỉ huy
thông qua giao kế hoạch pháp lệnh, kiểm soát sang nhà nước giám sát và kế hoạch định
hướng. Đây cũng chính là nội dung quan trọng nhất trong phân cấp quản lý GDĐH ở nước
ta về cả lý luận và thực tiễn.
1.3.3. Trách nhiệm xã hội của trường đại học và các nội dung cơ bản
1.3.3.1. Khái niệm trách nhiệm xã hội
Có nhiều cách tiếp cận về khái niệm “TNXH”, nhưng có thể được hiểu chung là: TNXH
là việc nhà trường tự tổ chức đánh giá và giám sát việc thực hiện các quy định của Nhà nước,
của nhà trường, công khai minh bạch và sẵn sàng giải trình các hoạt động quản lý của nhà
trường đối với các bên có liên quan và chịu trách nhiệm về kết quả hoạt động của mình.
1.3.3.2. Bản chất của trách nhiệm xã hội
TNXH là nghĩa vụ báo cáo quản lý về những hoạt động và kết quả thu được, giải thích
kết quả thực hiện và thừa nhận trách nhiệm đối với cả những kết quả không mong muốn của
nhà trường cho các bên liên quan.
1.3.3.3.Nội dung trách nhiệm xã hội của trường đại học
TNXH của trường ĐH được thể hiện trên các phương diện: Trách nhiệm với ai (với người
học, xã hội; với nhà nước và cấp trên; với chính nhà trường), trách nhiệm về cái gì và bằng cách
nào (công khai minh bạch các hoạt động quản lý, chất lượng đào tạo và tài chính).
1.3.4. Mối quan hệ giữa tự chủ và trách nhiệm xã hội của trường đại học
Quan điểm của Phạm Phụ: Quyền tự chủ phải được “đánh đổi” bằng TNXH nhiều
hơn. TNXH của một trường ĐH cần trả lời cho 3 câu hỏi: Với ai? Nội dung gì? và bằng
cách nào?
Quyền tự chủ và TNXH luôn là hai mặt của một vấn đề. Tự chủ không có nghĩa là
không có trách nhiệm, nhà trường phải có trách nhiệm với Nhà nước, pháp luật, bản thân,
giảng viên, sinh viên và với xã hội về mọi hoạt động của nhà trường. Quyền tự chủ cao mà
trách nhiệm không tương xứng sẽ dẫn đến nguy cơ lạm dụng quyền, vi phạm pháp luật.
1.3.5. Nhân tố chính sách, kinh tế - xã hội ảnh hưởng đến quyền tự chủ và trách nhiệm
xã hội của trường đại học
1.3.5.1. Chủ trương, chính sách của Nhà nước
Sự can thiệp của nhà nước vào hoạt động của nhà trường là sự can thiệp gián tiếp: Nhà
nước là người xây dựng định hướng phát triển GDĐH, thông qua xây dựng hệ thống mục
tiêu, bước đi và các giải pháp định hướng cho các trường ĐH; xây dựng hệ thống các văn
bản dưới luật pháp cho các trường biết mình được làm gì và không được làm gì trong lĩnh
vực GDĐH; xây dựng hệ thống chính sách và công cụ thực thi cho các lĩnh vực giao tự chủ;
ngành đào tạo của trường; quy định khung chương trình cho các chương trình đào tạo;
thanh tra, kiểm tra việc thực hiện quy chế đào tạo; phê duyệt chỉ tiêu, ngành nghề tuyển sinh
hàng năm của trường; kiểm định chất lượng giáo dục, kiểm định chương trình đào tạo…
Tóm lại quản lý Nhà nước về đào tạo thuộc Bộ GD&ĐT, các Bộ ngành chủ quản trực tiếp
quản lý về các mặt tổ chức, nhân sự và tài chính.
1.4.2. Quản lý theo hướng tự chủ và trách nhiệm xã hội của trường đại học thuộc Bộ
ngành
Trường đại học thuộc Bộ ngành là một thiết chế đại học có sứ mệnh đào tạo nhân lực
trình độ cao từ trình độ đại học đến sau đại học cho ngành, đồng thời là nơi sản sinh ra tri
thức trong lĩnh vực ngành quản lý, là cơ sở nghiên cứu khoa học về các lĩnh vực thuộc
ngành quản lý.
Quản lý trường đại học thuộc Bộ ngành theo hướng tự chủ và TNXH cần tập trung
quản lý bốn nội dung cơ bản sau đây:
- Năng lực đội ngũ cán bộ quản lý các cấp của nhà trường;
- Thiết lập và vận hành Hội đồng trường;
- Xây dựng và triển khai hệ thống đảm bảo chất lượng bên trong;
- Xây dựng, duy trì và phát triển văn hóa tự chủ và trách nhiệm xã hội của nhà
trường.
1.4.3.Các điều kiện đảm bảo quản lý trường đại học thuộc Bộ ngành theo hướng tự
chủ và trách nhiệm xã hội
Để thực đảm bảo quản lý trường ĐH thuộc Bộ ngành theo hướng tự chủ và TNXH, cần
phải có 2 điều kiện cơ bản sau:
Thứ nhất, về phía Bộ ngành và Bộ GD&ĐT phải xây dựng cho được một số “Chỉ số hoàn
thành nhiệm vụ” của trường đại học, tổ chức kiểm định chất lượng và kiểm toán tài chính độc
lập, đưa ra được những quy định về báo cáo giải trình công khai
Thứ hai, về phía trường đại học: cần phải trang bị đầy đủ nhận thức về ý nghĩa, nội dung, sự
cần thiết của quản lý trường đại học theo hướng tự chủ và TNXH; tạo sự đồng thuận và quyết tâm
cao từ lãnh đạo đến các thành viên trong nhà trường; Xây dưng đội ngũ cán bộ quản lý các cấp
của nhà trường đáp ứng yêu cầu quản lý nhà trường theo cơ chế tự chủ và TNXH; Phải có một
“Hội đồng trường”; Xây dựng và triển khai hệ thống đảm bảo chất lượng bên trong nhà trường
tế; tăng lương, thưởng, phụ cấp và đặc biệt đối với những nhân tài hàng đầu; tăng lương, trợ
cấp cho những khoa đào tạo những ngành có nhu cầu cao của thị trường; linh hoạt trong
việc tài trợ nghiên cứu khoa học bằng cách cung cấp những khoản tài trợ có giá trị nhiều
hơn và cung cấp cơ sở hạ tầng, điều kiện nghiên cứu tốt nhất; tạo chủ động phân cấp cho
khoa, giảng viên giỏi giảm giờ dạy để tập trung vào nghiên cứu khoa học.
2.1.2. Kinh nghiệm của Nhật Bản
Ở Nhật Bản, tập đoàn hóa các trường ĐH tới một số tiêu chí: Tính tự chủ của các
trường ĐH, tiếp cận có chủ đích tới sự quản lý hiệu quả, tăng cường kiểm tra giám sát từ hệ
thống ngoài trường học; hệ thống tuyển dụng nhân sự tự chủ; việc đánh giá các trường ĐH
được thực hiện bởi tổ chức thứ ba (Nhà nước - trường ĐH - cộng đồng). Tập đoàn hóa
không bao hàm các nội dung có liên quan đến việc phát triển các hoạt động giáo dục và
nghiên cứu trong các trường ĐH thành doanh nghiệp.
2.1.3. Kinh nghiệm của Mỹ
Xác định rõ vai trò quan trọng của GDĐH, chính phủ đã dành ưu tiên đầu tư cho
GDĐH. Cơ chế quản lý tài chính đa dạng và có sự phân cấp rõ ràng. Các trường ĐH linh
hoạt trong các hoạt động giảng dạy và nghiên cứu do không bị chi phối bởi các thủ tục hành
chính nặng nề. Cơ chế tự chủ của Mỹ đã tạo ra môi trường nuôi dưỡng sự cạnh tranh, khích
lệ tinh thần nghiên cứu khoa học, năng động, sáng tạo và đổi mới.
2.2. KHÁI QUÁT CÁC TRƯỜNG ĐẠI HỌC THUỘC BỘ CÔNG THƯƠNG
2.2.1. Số lượng trường và phương thức quản lý song Bộ
Theo quyết định số 373/QĐ-TTg, ngày 01/03/2013 của Thủ tướng Chính phủ, hiện
nay có 08 trường ĐH công lập trực thuộc Bộ Công Thương, bao gồm: Trường ĐH Công
nghiệp Hà Nội; Trường ĐH Công nghiệp thành phố Hồ Chí Minh; Trường ĐH Kinh tế - Kỹ
thuật Công nghiệp; Trường ĐH Công nghiệp Quảng Ninh; Trường ĐH Công nghiệp Việt –
Hung; Trường ĐH Sao Đỏ; Trường ĐH Công nghiệp thực phẩm thành phố Hồ Chí Minh;
Trường ĐH Công nghiệp Việt Trì; cả 08 trường đều chịu sự quản lý theo phương thức song
Bộ (Bộ Giáo dục & Đào tạo, Bộ Công Thương).
2.2.2. Đội ngũ giảng viên và cán bộ quản lý
Số lượng, chất lượng, cơ cấu đội ngũ cán bộ quản lý và giảng dạy trực tiếp được nâng
trung mọi nguồn lực, đổi mới công tác quản lý, do vậy kết quả đào tạo từng bước được nâng cao.
Tỷ lệ sinh viên tốt nghiệp sau 6 tháng có việc làm phù hợp với chuyên môn đang có xu
hướng giảm từ trên 80% năm 2009, xuống còn trên 50 % năm 2012, do nhiều lý do khác nhau.
2.3. THỰC TRẠNG THỰC HIỆN QUYỀN TỰ CHỦ CỦA TRƯỜNG ĐẠI HỌC THUỘC
BỘ CÔNG THƯƠNG.
2.3.1. Khung pháp lý về quyền tự chủ và trách nhiệm xã hội của các trường đại học
Việt Nam
Trong những năm gần đây cơ chế quản lý đối với giáo dục ĐH luôn được Đảng, Nhà
nước với yêu cầu đổi mới đã cụ thể hóa bằng các Nghị quyết, Nghị định, Thông tư của
chính phủ và các bộ, ngành liên quan, cụ thể như:
Thông báo kết luận số 37-TB/TW, ngày 26/5/2011 của Bộ chính trị về đề án “Đổi mới
cơ chế hoạt động của các đơn vị sự nghiệp công lập, đẩy mạnh xã hội hóa một số loại hình
dịch vụ sự nghiệp công”; Nghị quyết TW8 (khóa XI) khẳng định “Đẩy mạnh phân cấp, nâng
cao trách nhiệm, tạo động lực và tính chủ động, sáng tạo của các cơ sở giáo dục, đào tạo; giao
quyền tự chủ, tự chịu trách nhiệm cho các cơ sở giáo dục, đào tạo; phát huy vai trò của hội
đồng trường. Thực hiện giám sát của các chủ thể trong nhà trường và xã hội; tăng cường công
tác kiểm tra, thanh tra của cơ quan quản lý các cấp; đảm bảo dân chủ, công khai, minh bạch;
chuẩn hóa các điều kiện đảm bảo chất lượng và quản lý quá trình đào tạo; chú trọng quản lý
chất lượng đầu ra. Xây dựng hệ thống kiểm định chất lượng giáo dục đào tạo”.
Nghị định số 43/2006/NĐ-CP quy định về quyền tự chủ, tự chịu trách nhiệm về thực
hiện nhiệm vụ, tổ chức bộ máy, biên chế và tài chính đối với đơn vị sự nghiệp công lập; Nghị
định số 115/2010/NĐ-CP của Chính phủ quy định trách nhiệm quản lý nhà nước về giáo dục;
Điều 32 Luật GDĐH đã quy định “nhà trường được tự chủ về tổ chức, tài chính, nhân sự, tài
sản, đào tạo, hoạt động khoa học công nghệ, đảm bảo chất lượng, hợp tác quốc tế”.
Bộ Giáo dục và Đào tạo, Bộ Nội vụ, thông tư liên tịch số 07/2009/TTLT-BGĐT-BNV,
hướng dẫn thực hiện quyền tự chủ, tự chịu trách nhiệm, tổ chức bộ máy, biên chế đối với
đơn vị sự nghiệp công lập.
lập, sử dụng các nguồn thu theo đúng quy định của pháp luật; phát huy tiềm năng sẵn có
như cơ sở vật chất, đội ngũ giảng viên giàu kinh nghiệm và có uy tín để mở rộng quy mô,
loại hình đào tạo, liên kết đào tạo, đào tạo theo địa chỉ cho các tổ chức, doanh nghiệp trong
và ngoài nước, góp phần làm tăng nguồn thu đáng kể cho trường góp phần quan trọng thúc
đẩy tăng cường đầu tư cơ sở vật chất, trang thiết bị và tăng thu nhập cho cán bộ, giảng viên,
đời sống vật chất và tinh thần dần được cải thiện.
So với khung phân tích tự chủ ĐH thì mức độ tự chủ tài chính ở các trường là rất thấp,
mới chủ yếu là tự chủ về chi nhưng cơ bản chưa được tự chủ về thu. Đặc biệt là mức thu
học phí vẫn theo mức trần theo quy định của Nhà nước.
a) Nguồn thu của 4 trường đại học được nghiên cứu
Nguồn thu của nhà trường bao gồm, nguồn kinh phí Nhà nước cấp và nguồn thu sự
nghiệp (nguồn thu ngoài ngân sách), cụ thể như sau:
Nguồn ngân sách Nhà nước cấp: nguồn kinh phí Nhà nước cấp cho sự nghiệp đào tạo
của nhà trường còn rất thấp so với nhu cầu thực tế, nhưng nó giữ vai trò rất quan trọng đối
với hoạt động đào tạo của các trường có nguồn thu sự nghiệp thấp.
Nguồn thu sự nghiệp: nguồn thu sự nghiệp các trường đều tăng dần từ khi thực hiện
cơ chế tự chủ. Tuy nhiên tổng thu còn tương đối thấp.
Kết quả khảo sát qua 4 năm (2009-2012), cho thấy: ĐH Công nghiệp Việt trì: Tỷ trọng
nguồn thu sự nghiệp chiếm từ 32,28% đến 55,60% trong tổng nguồn thu của trường; ĐH
Công nghiệp Hà Nôi: Tỷ trọng nguồn thu sự nghiệp chiếm từ 86,3% đến 93,8% trong tổng
nguồn thu của trường; ĐH Công nghiệp Việt - Hung: Tỷ trọng nguồn thu sự nghiệp chiếm
từ 33% đến 62% trong tổng nguồn thu của trường; ĐH Sao Đỏ: Tỷ trọng nguồn thu sự
nghiệp chiếm từ 62,45% đến 78,33 trong tổng nguồn thu của trường. Qua kết quả khảo sát
của 4 trường trong 4 năm cho thấy trường ĐH Công nghiệp Hà Nội có tỷ trọng thu sự
nghiệp chiếm tỷ trọng lớn trong tổng thu. Điều này chứng tỏ quy mô đào tạo, các hoạt động
liên kết đào tạo, hoạt động sản xuất, chuyển giao công nghệ và các khoản thu khác khá tốt,
phát huy tốt cơ chế tự chủ hiện nay.
b) Các khoản chi thường xuyên cho đào tạo của 4 trường
Thực tế, mức chi cho sự nghiệp đào tạo của 4 trường ĐH ở các nhóm, mục chi đều có
sự thay đổi đáng kể qua các năm. Trong đó, nhóm mục chi thanh toán cá nhân và nhóm mục
* Tiến hành đánh giá
Kết quả đánh giá cho thấy, hai trường ĐH Công nghiệp Việt Trì và Công nghiệp Hà
Nội đạt mức khá nhiều hơn; trường ĐH Công nghiệp Việt Hung và ĐH Sao Đỏ có kết quả
đánh giá ở mức trung bình nhiều hơn.
Việc tiếp cận quản lý theo hướng tự chủ và TNXH chủ yếu nằm ở đối tượng là cán bộ
quản lý nhiều hơn, còn viên chức, giảng viên chưa quan tâm nhiều đến vấn đề này.
2.3.3.2. Đánh giá mức độ thực hiện trách nhiệm xã hội trong quản lý của nhà trường
* Xác định chỉ tiêu, mức độ đánh giá
Để xác định được mức độ thực hiện TNXH trong quản lý nhà trường theo 3 nội dung
mà Luận án đã xác định theo các chuyên gia trong lĩnh vực quản lý trường ĐH cho rằng,
mức độ thực hiện TNXH cao trong quản lý nhà trường càng thể hiện sự thành công trong
thực hiện cơ chế tự chủ của mỗi nhà trường. Luận án xây dựng 4 mức độ đánh giá trong đó:
Mức 1 (<1,75 điểm) = yếu; Mức 2 (từ 1,75 - 2,49 điểm) = trung bình; Mức 3 (từ 2,25 -3,24)
= khá; Mức 4 (từ 3,25 - 4,0) = tốt.
* Tiến hành đánh giá
Việc đánh giá mức độ thực hiện TNXH trong quản lý nhà trường của cả 4 trường đạt
mức khá. Tuy nhiên, khi đánh giá riêng thì mỗi trường có kết quả, mức độ thực hiện TNXH
rất khác nhau: Trường ĐH Công nghiệp Hà Nội 2,69 điểm; trường ĐH Công nghiệp Việt Trì
2,67 điểm; Trường ĐH Công nghiệp Việt - Hung 2,63 điểm; trường ĐH Sao Đỏ 2,54 điểm.
2.4. THỰC TRẠNG QUẢN LÝ CỦA TRƯỜNG ĐẠI HỌC THUỘC BỘ CÔNG
THƯƠNG THỰC HIỆN TỰ CHỦ VÀ TRÁCH NHIỆM XÃ HỘI
2.4.1. Về năng lực đội ngũ cán bộ quản lý các cấp của các trường
Thực hiện cơ chế tự chủ và TNXH các trường đã có nhiều cố gắng, tập trung mọi
nguồn lực cho công tác đào tạo bồi dưỡng cán bộ, giảng viên trong đó có đội ngũ cán bộ
lãnh đạo, cán bộ quản lý, song vẫn còn một số hạn chế nhất định, do hầu hết mới được thành
lập trên cơ sở nâng cấp từ trường cao đẳng; còn một số cán bộ lãnh đạo, cán bộ quản lý cấp
khoa, bộ môn chưa đạt trình độ tiến sĩ; các kỹ năng (quản lý sự thay đổi, thuyết trình, tổ
chức, đàm phán, ), kiến thức về quản lý còn thiếu hụt do phần lớn cán bộ quản lý được
chuyển từ giảng viên đang trực tiếp làm chuyên môn thuần túy.
2.4.2. Về việc thành lập Hội đồng trường và cơ cấu tổ chức, các quy trình quản lý
tính đặc trưng riêng cho mỗi nhà trường. Hiện nay mỗi nhà trường đã và đang thực hiện văn
hóa tự chủ và TNXH ở mức độ khác nhau, chưa có các tiêu chí cụ thể, nội dung chưa đầy đủ
và đúng với bản chất của văn hóa tự chủ và TNXH.
2.5. ĐÁNH GIÁ CHUNG QUẢN LÝ CỦA CÁC TRƯỜNG ĐẠI HỌC THUỘC BỘ
CÔNG THƯƠNG THEO HƯỚNG TỰ CHỦ VÀ TRÁCH NHIỆM XÃ HỘI
Điểm mạnh
Đẩy mạnh công tác tuyên truyền đã từng bước làm thay đổi nhận thức - tạo sự linh
hoạt, chủ động, sáng tạo trong thực hiện nhiệm vụ của cán bộ, viên chức, tích cực tham gia
vào các hoạt động của nhà trường.
Tăng cường phân cấp quản lý cho chính các đơn vị trong nhà trường, trong đó phân
cấp cho các khoa nhiều hơn để tạo điều kiện cho các đơn vị chủ động, linh hoạt trong việc
xây dựng kế hoạch và tổ chức thực hiện.
Các nhà trường đã chủ động đổi mới công tác quản lý, điều chỉnh, sửa đổi bổ sung các
văn bản quy định nội bộ, nhằm đáp ứng yêu cầu quản lý theo hướng tự chủ và TNXH.
Các trường đã áp dụng các biện pháp quản lý theo cơ chế công khai, minh bạch. Điều
hành quản lý thông qua các văn bản, quy định nội bộ, phát huy dân chủ, đạt hiệu quả ngày
càng cao.
Chủ động cao trong các hoạt động đào tạo, tuyển sinh, nghiên cứu khoa học, công
nghệ, tài chính, quan hệ quốc tế, tổ chức bộ máy.
Điểm yếu
Luận án đã tổng hợp những điểm yếu cơ bản:" Về tư tưởng, nhận thức của cán bộ,
giảng viên về thực hiện quản lý nhà trường theo hướng tự chủ và TNXH; Về năng lực đội
ngũ cán bộ quản lý các cấp của nhà trường; Về Hội đồng trường, bộ máy quản lý, quy trình
quản lý; Về hệ thống đảm bảo chất lượng bên trong nhà trường; Về cơ chế phối hợp, chia sẻ
thông tin; trách nhiệm giữa các trường với nhau; trách nhiệm của các cơ quan, doanh nghiệp
sử dụng nhân lực sau đào tạo với chính các nhà trường" xác định nguyên nhân chính dẫn
đến điểm yếu. Đồng thời đã xác định những thời cơ và thách thức cơ bản trong công tác
quản lý theo hướng tự chủ và TNXH của các trường ĐH thuộc Bộ Công Thương. Đây là cơ
sở để Luận án xây dựng những giải pháp quản lý nhà trường theo hướng tự chủ và TNXH,
tận dụng được thời, vượt qua thách thức xây dựng mỗi nhà trường phát triển bền vững đáp
- Luận án đã sử dụng kỹ thuật phân tích SWOT để đánh giá những điểm mạnh, điểm
yếu, cơ hội và thách thức công tác quản lý của các trường đại học thuộc Bộ Công Thương
theo hướng tự chủ và TNXH. Đặc biệt đã làm rõ những điểm yếu tập trung vào bốn nội
dung quản lý: Năng lực đội ngũ cán bộ quản lý các cấp của Nhà trường; Hội đồng trường,
bộ máy quản lý, quy trình quản lý; hệ thống đảm bảo chất lượng bên trong; văn hóa tự chủ
và TNXH trong nhà trường đồng thời cũng đã xác định rõ những nguyên nhân cơ bản dẫn
đến điểm yếu.
Kết quả đánh giá là cơ sở để luận án xác định hướng và đề xuất các giải pháp cụ thể để
khắc phục điểm yếu trên, đồng thời cũng là cơ sở thực tiễn để các trường đại học thuộc Bộ
Công Thương vận dụng thực hiện tốt hơn hoạt động quản lý nhà trường theo hướng tự chủ
và TNXH trong những năm tới.
Chương 3. CÁC GIẢI PHÁP THỰC HIỆN QUẢN LÝ TRƯỜNG ĐẠI HỌC THUỘC
BỘ CÔNG THƯƠNG THEO HƯỚNG TỰ CHỦ VÀ TRÁCH NHIỆM XÃ HỘI
3.1. CÁC NGUYÊN TẮC LỰA CHỌN GIẢI PHÁP
3.1.1. Nguyên tắc kế thừa
Nguyên tắc kế thừa được xem là nguyên tắc đầu tiên và cũng là nguyên tắc quan trọng
khi lựa chọn các giải pháp quản lý nhà trường theo hướng tự chủ và trách nhiệm xã hội.
Nguyên tắc kế thừa được thể hiện trên nhiều khía cạnh: Kế thừa cơ sở vật chất, đội ngũ
cán bộ quản lý, giảng viên, bộ máy quản lý và kinh nghiệm quản lý của các nhà quản lý đi
trước; kế thừa uy tín, truyền thống đào tạo của nhà trường.
3.1.2. Nguyên tắc thực tiễn
Việc lựa chọn các giải pháp quản lý cần phải bao trùm toàn diện trên hai mặt, đó là
huy động và sử dụng có hiệu quả các nguồn lực. Mỗi quyết định trong công tác quản lý
được triển khai, trước hết cần phải căn cứ trên nguyên tắc phù hợp với điều kiện hoạt động
thực tiễn, đặt trong điều kiện cạnh tranh của nền kinh tế thị trường, hội nhập quốc tế và phải
tính đến ảnh hưởng của các nhân tố khách quan, mỗi nhà trường cần nắm bắt và tận dụng
được cơ hội thuận lợi, vượt qua thách thức để phát triển nhà trường.
3.1.3. Nguyên tắc đảm bảo tính khả thi
hợp làm việc giữa các đơn vị và cá nhân nhịp nhàng, hiệu quả; tăng cường đảm bảo tính
công khai, minh bạch trong hoạt động quản lý, giúp cho mỗi thành viên trong nhà trường,
xác định rõ nhiệm vụ, quyền hạn, chủ động, tích cực hơn trong công việc, nâng cao tinh
thần trách nhiệm trong thực thi nhiệm vụ, thành lập hội đồng trường
3.2.4. Phát triển hệ thống đảm bảo chất lượng bên trong nhà trường
Mục đích của giải pháp là nhằm hoàn thiện bộ máy tổ chức; đảm bảo các nguồn lực và
các nguồn thông tin nhằm thiết lập, duy trì và phát triển chất lượng các hoạt động dạy - học,
nghiên cứu khoa học, làm căn cứ xác định chất lượng giáo dục ĐH, vị thế và uy tín của mỗi
nhà trường.
3.2.5. Tăng cường ứng dụng công nghệ thông tin trong quản lý và thực hiện công khai
Mục đích của giải pháp là tăng cường ứng dụng CNTT vào tất cả các khâu trong hoạt động
quản lý nhà trường nhằm đáp ứng yêu cầu đổi mới công tác quản lý theo hướng tự chủ và TNXH.
Nó là công cụ hữu hiệu giúp nhà trường công khai, minh bạch, giải trình mọi hoạt động theo đúng
tinh thần mà giá trị mang lại của cơ chế quản lý theo hướng tự chủ và TNXH.
3.2.6. Thực hiện việc công khai minh bạch các hoạt động quản lý, chất lượng đào tạo,
tài chính tới khách hàng và các bên liên đới
Mục đích của giải pháp là xây dựng và công khai minh bạch các hoạt động quản lý của
nhà trường là một trong những giá trị cốt lõi của trường ĐH hoạt động theo hướng tự chủ và
TNXH và các giá trị khác như: Dân chủ, ủy quyền và chấp nhận ủy quyền; cam kết; chia sẻ;
tính trách nhiệm cao.
3.2.7. Đa dạng hóa nguồn thu trên cơ sở phát huy sự năng động sáng tạo của các đơn
vị và cá nhân trong trường
Mục đích của giải pháp là nhằm khai thác tốt mọi nguồn thu hợp pháp trên cơ sở đa
dạng hóa các hoạt động sự nghiệp của nhà trường; mở rộng quy mô đào tạo, đa dạng hóa các
loại hình đào tạo. Xây dựng cơ chế, chính sách khen thưởng cho đơn vị, cá nhân tìm kiếm
nguồn lực tài chính hợp pháp cho nhà trường; các hoạt động nghiên cứu khoa học và chuyển
giao công nghệ trong và ngoài trường; tăng cường đào tạo theo địa chỉ và nhu cầu của doanh
nghiệp. Tổ chức tốt các hoạt động dịch vụ phục vụ cán bộ, giảng viên, sinh viên.
3.2.8. Xây dựng văn hóa tự chủ và trách nhiệm xã hội trong mỗi trường
Mục đích của giải pháp nhằm giúp mỗi nhà trường phải xây dựng và duy trì một nếp
có ý nghĩa.
KẾT LUẬN CHƯƠNG 3
Căn cứ, định hướng của Đảng, chính sách của Nhà nước và yêu cầu thực tiễn về đổi
mới quản lý đối với GDĐH theo hướng tự chủ và TNXH. Từ những vấn đề thực tiễn về
quản lý trường ĐH thuộc Bộ chủ quản theo hướng tự chủ và TNXH với đặc thù riêng, trong
bối cảnh hội nhập quốc tế và toàn cầu hóa sâu rộng.
Với những kết quả nghiên cứu, để quản lý trường ĐH thuộc Bộ Công Thương theo
hướng tự chủ và TNXH đạt hiệu quả, Luận án đề xuất 9 giải pháp, gồm: (1) Nâng cao nhận
thức về thực hiện tự chủ và TNXH trong quản lý của nhà trường; (2) Nâng cao năng lực
quản lý của lãnh đạo nhà trường, cán bộ quản lý các khoa, phòng, trung tâm; (3) Thanhf lập
Hội đồng trường; củng cố và hoàn thiện bộ máy quản lý, quy trình quản lý của nhà trường;
(4) Phát triển hệ thống đảm bảo chất lượng bên trong; (5) Tăng cường ứng dụng công nghệ
thông tin trong quản lý và thực hiện công khai; (6) Thực hiện công khai minh bạch hoạt
động quản lý, chất lượng đào tạo, tài chính tới khách hàng và các bên liên đới; (7) Đa dạng
hóa nguồn thu trên cơ sở phát huy sự năng động sáng tạo của các đơn vị và cá nhân trong
trường; (8) Xây dựng văn hóa tự chủ và TNXH trong mỗi nhà trường; (9) Tạo lập mạng lưới
liên kết giữa các trường ĐH thuộc Bộ Công Thương. Trong mỗi giải pháp, Luận án đã xác
định cụ thể mục đích, ý nghĩa; nội dung; cách thực hiện; điều kiện thực hiện giải pháp để
đảm bảo khi áp dụng các giải pháp có tính khả thi cao.
Đồng thời với công việc thăm dò, xin ý kiến; người nghiên cứu xác định một nội dung
được cho là quan trọng “Đa dạng hóa nguồn thu trên cơ sở phát huy sự năng động, sáng tạo
của các đơn vị và cá nhân trong trường” để tiến hành thử nghiệm tại trường ĐH Công
nghiệp Việt Trì; căn cứ từ kết quả khảo sát, xin ý kiến các nhà khoa học cùng với kết quả
thu được từ thử nghiệm, cho thấy các giả thuyết khoa học được chứng minh là theo mong
đợi, đã có sự thay đổi theo chiều hướng tích cực, đúng qua thử nghiệm; các giải pháp đã đưa
ra là cần thiết và có tính khả thi.
KẾT LUẬN VÀ KHUYẾN NGHỊ
KẾT LUẬN
Luận án đã luận giải các vấn đề sau:
nội dung đã đề xuất với địa điểm, quy mô lớn hơn để có kết quả thu được là đáng tin cậy, có
ý nghĩa.
Khuyến nghị đối với Nhà nước:
- Thứ nhất, Nhà nước cần tiếp tục đổi mới cơ chế quản lý, mặc dù giao tự chủ cho nhà
trường những vẫn phải có đầu tư kinh phí thỏa đáng, hướng dẫn các trường đẩy mạnh tự
chủ, tạo điều kiện cho các trường tạo lập nguồn tài chính qua cơ chế tự chủ, nâng cao chất
lượng và hiệu quả đào tạo.
- Thứ hai, cần có chính sách ưu đãi, quan tâm đến các trường ĐH mới thành lập, đặc
biệt là trường ở đại bàn vùng núi về hỗ trợ nguồn tài chính, các hoạt động khoa học và công
nghệ; đào tạo bồi dưỡng giảng viên.
- Thứ ba, Nhà nước cần nghiên cứu, xây dựng các văn bản quy định tiêu chí đánh giá
mức độ hoàn thành và chất lượng hoạt động quản lý của đơn vị được giao quyền tự chủ.
Cần phải giao cho nhà trường được quyền chi trả tiền lương theo kết quả hoàn thành công
việc, vì chi trả tiền lương hiện nay thực hiện theo thang bậc theo quy định của Nhà nước,
nên không khuyến khích được tính tích cực, chủ động, sáng tạo của cán bộ viên chức.
- Thứ tư, Nhà nước cần phải chỉ đạo các cơ quan chức năng tích cực cải cách thủ tục
hành chính, xóa bỏ những thủ tục hành chính rườm rà, chồng chéo, tháo gỡ những khó khăn
vể chính sách tài chính. Có chính sách khuyến khích các trường khai thác các nguồn thu từ
các hoạt động nghiên cứu khoa học, chuyển giao công nghệ, liên kết đào tạo để tăng tính tự
chủ nâng cao chất lượng và hiệu quả đào tạo.
Khuyến nghị đối với Bộ Giáo dục và Đào tạo:
- Thứ nhất, cần phải có tổng kết, đánh giá rút ra bài học kinh nghiệm đối với
công tác quản lý nhà trường từ khi thực hiện cơ chế tự chủ và TNXH. Giao quyền tự
chủ nhiều hơn cho các trường để tăng tính linh hoạt, chủ động như: Tuyển sinh, cấp
văn bằng cho người học…
- Thứ hai, cần có văn bản chỉ đạo, hướng dẫn các trường ĐH cần phải khẩn trương
thành lập Hội đồng trường theo đúng quy định của Luật giáo dục ĐH, chỉ có như vậy mới
thúc đẩy quyền tự chủ và trách nhiệm xã hội thực thi có hiệu quả trong nhà trường, phát huy
dân chủ và tăng cường giám sát hoạt động của Ban giám hiệu.
Khuyến nghị đối với Bộ Công Thương (Bộ chủ quản):