Câu 1 (4 điểm): Thế nào là tính cảm quang của cây lúa? Phân loại cây
lúa theo tính cảm quang? Liên hệ thực tế?
*Tính cảm quang của cây lúa thể hiện ở loại thực vật chỉ cảm ứng ra hoa
trong điều kiện quang kỳ ngắn.
*Dựa vào mức độ cảm ứng đối với quang kỳ của từng giống lúa, người ta
phân biệt 2 nhóm lúa chính: nhóm cảm quang và nhóm không cảm quang.
1.Nhóm lúa cảm quang
-Nhóm lúa cảm quang là nhóm giống lúa có cảm ứng với quang kỳ, chỉ ra
hoa
trong điều kiện ánh sáng ngày ngắn thích hợp, nên gọi là lúa mùa, tức
lúa chỉ trổ và chín theo mùa.
- Đặc tính cảm quang rất hữu ích trong công tác chọn giống lúa thích nghi
với chế độ nước ở một khu vực sản xuất cụ thể.
-Tuy nhiên, đặc tính quang cảm sẽ gây trở ngại rất lớn cho việc thâm canh
tăng vụ vì các giống lúa này chỉ có thể trồng được 1 vụ/năm mà thôi.
- Tùy mức độ mẫn cảm với quang kỳ nhiều hay ít, mạnh hay yếu người ta
phân biệt: lúa mùa sớm, mùa lỡ hoặc mùa muộn. Phần lớn các giống lúa
cổ truyền của ta đều là giống lúa cảm quang.
+ Nhóm lúa mùa sớm là nhóm giống lúa có cảm quang yếu, trồng trái vụ vẫn trổ được
nhưng thời gian sinh trưởng thay đổi không nhiều.
+ Nhóm lúa mùa lỡ là những giống lúa có phản ứng trung bình đối với quang
kỳ, trổ vào tháng 11 dl và chín vào tháng 12 dl.
+ Nhóm lúa mùa muộn là những giống lúa có phản ứng rất mạnh đối với
quang kỳ. Các giống lúa này chỉ trổ trong khoảng thời gian nhất định trong năm, khi
quang kỳ ngắn nhất vào tháng 12 hoặc có khi đến đầu tháng 1 dl. Thời gian sinh trưởng
của các giống này thay đổi rất lớn tùy theo thời điểm gieo cấy sớm hay muộn.Hầu hết các
giống này phân bố ở các vùng trũng nước ngập sâu và rút muộn
2.Nhóm lúa ko cảm quang
-Hầu như các giống lúa mới lai tạo phục vụ cho việc thâm canh tăng vụ hiện nay đều
không quang cảm. Các giống lúa này lại ngắn ngày (90 – 120 ngày) hoặc trung mùa (120-
150 ngày) có thời gian sinh trưởng hầu như không thay đổi khi trồng trong các thời vụ
-ít rụng hạt
SINH
TRƯỞNG
Tính cảm quang rất thay
đổi
Yếu Rất thay đổi
•
*Xuất xứ:Tên gọi của 3 nhóm thể hiện nguồn gốc xuất phát của các giống
lúa từ 3 vùng địa lí khác nhau:
•
- Nhóm Indica (= “ Hsien” = lúa tiên) bao gồm các giống lúa từ Sri Lanka,
Nam và Trung Trung Quốc, Ấn Độ, Pakistan, Indinesia, Philippines, Đài
Loan và nhiều nước khác ở vùng nhiệt đới. Có nguồn gốc từ India (Ấn
Độ).
•
- Nhóm Javanica: để đặt tên cho giống lúa cổ truyền của Indonesia
• - Nhóm Japonica: ( “Keng” = lúa cánh) bao gồm các giống lúa từ miền
Bắc và Đông Trung Quốc, Nhật Bản và Triều Tiên, nói chung là tập trung
ở các vùng á nhiệt đới và ôn đới. Xuất xứ từ Nhật Bản.
•
*Các giống lúa ở VN thuộc nhóm:Indica vì khí hậu,địa hình
•
•
Câu 5 (4 điểm): Ảnh hưởng của ánh sáng đến sinh trưởng và
phát triển của cây lúa? ứng dụng trong thực tế?
•
- Ánh sáng ảnh hưởng rất lớn đến sinh trưởng, phát triển và phát dục
của cây lúa trên 2 phương diện: cường độ ánh sáng và độ dài chiếu
sáng trong ngày(quangkỳ)
+GĐ lúa chín: nếu ruộng lúa khô nước, nhiệt độ không khí cao, ánh sáng
•
mạnh thì lúa chín nhanh và tập trung hơn; ngược lại thời gian chín sẽ
kéo dài.
•
+Kết quả từ nhiều thí nghiệm cho thấy, thời kỳ cần năng lượng mặt
trời cực trọng nhất đối với lúa là từ lúc phân hóa đòng đến khoảng 10
ngày truớc khi lúa chín,vì sự tích lũy tinh bột trong lá và thân đã bắt đầu
ngay từ khoảng 10 ngày trước khi trổ và được chuyển vị vào hạt rất
mạnh sau khi trổ.
•
*Quang chu kì
•
- Quang kỳ là khoảng thời gian chiếu sáng trong ngày tính từ lúc bình
minh đến lúc hoàng hôn.
•
- Pha dinh dưỡng căn bản): là giai đọan sinh trưởng sớm, khi cây còn
non không bị ảnh hưởng bởi quang kỳ.
•
-Pha cảm ứng:là GĐ ảm ứng với ngày ngắn, ngày dài để ra hoa
•
*ƯD trong thực tế
•
- Ở ĐBSCL, lượng bức xạ hàng năm rất dồi dào, đáp ứng đủ yêu cầu sinh trưởng
và phát triển của cây lúa gần như quanh năm. Số giờ nắng toàn năm trung bình
lên tới 2000 – 2400 giờ. Suốt các tháng mùa khô, số giờ nắng vượt quá 200 giờ
mỗi tháng, nhất là tháng 3, trung bình có 7 – 8 giờ nắng mỗi ngày. Trong những
tháng mùa mưa, lượng bức xạ tương đối thấp (7 – 8 giờ nắng/ngày), nhất là vào
tháng 6 và 9.
•
Nf = Lượng đạm bón
•
-Liên hệ khi bón đạm cho lúa:
•
Câu 7 (4 điểm): Vai trò của lân trong sinh trưởng và phát triển của
cây lúa? Liên hệ khi bón phân lân cho cây lúa?
•
-Tác dụng: Lân là chất sinh năng (tạo năng lượng), là thành phần của
ATP, NADP…. Thúc đẩy việc sử dụng và tổng hợp chất đạm trong cây,
kích thích rễ phát triển, giúp cây lúa mau lại sức sau khi cấy, nở bụi
mạnh, kết nhiều hạt chắc, tăng phẩm chất gạo, giúp lúa chín sớm và tập
trung hơn.
•
- Lân còn là thành phần cấu tạo acid nhân (acid nucleic), thường tập
trung nhiều trong hạt. Cây lúa cần lân nhất là trong giai đoạn đầu, nên
cần bón lót trước khi sạ cấy. Khi lúa trổ, khoảng 37 – 83 % chất lân
được chuyển lên bông.
•
- Thiếu lân, cây lúa cũng lùn hẳn lại, nở bụi kém, lá rất thẳng hẹp và
màu sậm hơn bình thường hoặc ngã sang màu tím bầm, lúa sẽ trổ và
chín muộn, hạt không no đầy và phẩm chất giảm
•
-Liên hệ khi bón phân lân cho lúa:
•
Câu 8 (4 điểm): Vai trò của kali trong sinh trưởng và phát triển của cây
lúa? Liên hệ khi bón phân kali cho cây lúa?
•
-Tác dụng:
•
+ Kali còn gọi là bồ tạt (potassium), kali giúp cho quá trình vận chuyển và
*Phương pháp làm mạ sân:
•
-CB đất: Mạ được gieo trên sân đất hoặc ngay cả trên sân
gạch, rải một lớp đất bột mịn trộn với phân hữu cơ đã hoai
mụt hoặc mụn dừa dầy khoảng 3-5 cm. Kinh nghiệm: Dải 1
chút chấu để khi lấy mạ k bị dính.
•
-Đặc điểm hạt giống: Hạt giống khô or đã wa ngâm ủ. Dải thật đều
trên mặt luống. Đối với phương pháp này cần phải che mát và tưới
ẩm hàng ngày.
•
-Chăm sóc: Khi mạ lên được 7-10 ngày thì tưới phân urê pha loãng
hằng ngày cho mạ mọc tốt. Bằng cách nầy cây mạ có thể sẵn sàng để
cấy sau 15-16 ngày sau khi gieo, rút ngắn thời gian gieo mạ. Khi nhổ
mạ chỉ cần cuộn mạ lại theo từng mảng với ngọn mạ hướng vào
trong, hoặc xé thàng từng miếng 30-50 cm để mang ra ruộng cấy.
•
*Phương pháp làm mạ khay:
•
-CB khay: Khay kích thước 1m * 0,7m. Mỗi khay bón 700g NPK,
lượng phân bón này trộn đều với đất nền, sau đó cho đất vào khay.
•
-Chăm sóc: Dùng ô doa or bình phun thuốc sâu tưới cho đất thật
ẩm,tưới đến khi nc nổi lên mặt là đc, sau đó bắt đầu gieo hạt.
•
+Gieo xong thì phủ 1 lớp đất bột dày 1cm đến miệng khay,phun nc cho
đủ ấm
•
+Che phủ mạ (.) 7 ngày.Sau đó bỏ tấm che và tưới nc.Khay có thể đặt
trong phòng,hành lang,sân,… Có thể chống lên tiết kiệm S.Câu 11 (4
Năng suất lúa được hình thành và chịu ảnh hưởng trực tiếp của 4
yếu tố, gọi là 4 thành phần năng suất lúa.
•
Năng suất lúa = Số bông/đơn vị diện tích x Số hạt/ bông x Tỉ lệ
hạt chắc x Trọng lượng hạt
•
- Các thành phần năng suất có liên quan chặt chẽ với nhau.
• Do đó, muốn đạt năng suất cao cần nắm vững các yếu tố ảnh
hưởng đến từng thành phần trong từng thời kỳ và điều kiện nhất định,
để có thể tác động các biện pháp tích cực nhằm phát huy đầy đủ và tốt
nhất các thành phần năng suất
•
* Các biện pháp kĩ thuật để nâng cao năng suất lúa thông qua việc
tác động vào các yếu tố cấu thành năng suất:
•
1. Số bông trên đơn vị diện tích
•
-Số bông trên đơn vị diện tích được quyết định vào giai đọan sinh
trưởng ban đầu của cây lúa (giai đoạn tăng trưởng), nhưng chủ yếu là
giai đoạn từ khi cấy đến khoảng 10 ngày trước khi có chồi tối đa.
•
- Số bông trên đơn vị diện tích tùy thuộc vào mật độ sạ cấy và
khả năng nở bụi của lúa
•
-Số bông trên đơn vị diện tích có ảnh hưởng thuận với năng
suất.
•
- Nói chung, đối với giống lúa ngắn ngày, thấp cây, nở bụi ít,
đất xấu, nhiều nắng nên cấy dầy để tăng số bông trên đơn vị
diện tích. Ngược lại, trên đất giàu hữu cơ, thời tiết tốt, lượng
ngày trước khi trổ, nhưng quan trọng nhất là thời kỳ phân hóa
hoa và giảm nhiễm tích cực. Ở giai đoạn này, số hạt trên bông
có ảnh hưởng thuận đối với năng suất.
•
-Như vậy, số hạt trên bông tùy thuộc vào số hoa được phân
hóa và số hoa bị thoái hóa. Hai yếu tố này bị ảnh hưởng bởi
giống lúa, kỹ thuật canh tác và điều kiện thời tiết.
•
-Nói chung, đối với những giống lúa bông to, kỹ thuật canh tác tốt, bón
phân đầy đủ, chăm sóc đúng mức, thời tiết thuận lợi thì số hoa phân hóa
càng nhiều, số hoa thoái hóa càng ít, nên số hạt cuối cùng trên bông cao. Ở
các giống lúa cải thiện, số hạt trên bông từ 80 - 100 hạt đối với lúa sạ hoặc
100 - 120 hạt đối với lúa cấy là tốt trong điều kiện đồng bằng sông Cửu
Long.
•
Các biện pháp kỹ thuật cần lưu ý để tăng số hạt trên bông:
•
- Chọn giống tốt, loại hình bông to, nhiều hạt, nở bụi sớm (chồi ra càng
sớm càng có khả năng cho bông to).
•
- Ức chế sự gia tăng của số chồi vô hiệu vào thời kỳ bắt đầu phân hóa
đòng để tập trung dinh dưỡng nuôi chồi hữu hiệu.
•
- Bón phân đón đòng (khi bắt đầu phân hóa đòng) để tăng số hoa
phân hóa và bón phân nuôi đòng (18-20 ngày trước khi trổ) để
giảm số hoa bị thoái hóa.
•
- Bảo vệ lúa khỏi bị sâu bệnh tấn công .
•
- Chọn thời vụ thích hợp để cây lúa phân hóa đòng lúc thời tiết
trong thời gian này.
4. Trọng lượng hạt
-Trọng lượng hạt được quyết định ngay từ thời kỳ phân hoá hoa
đến khi lúa chín, nhưng quan trọng nhất là các thời kỳ giảm
nhiễm tích cực và vào chắc rộ.
-Trọng lượng hạt tùy thuộc cỡ hạt và độ mẩy của hạt lúa. Đối với
lúa, người ta thường biểu thị trọng lượng hạt bằng trọng lượng
của 1000 hạt với đơn vị là gram. Ở phần lớn các giống lúa, trọng
lượng 1000 hạt thường biến thiên tập trung trong khoảng 20 – 30
g
. Trong lượng hạt chủ yếu do đặc tính di truyền của giống quyết
định, điều kiện môi trường có ảnh hưởng một phần vào thời kỳ
giảm nhiễm (18 ngày trước khi trổ) trên cỡ hạt; cho đến khi vào
chắc rộ (15 – 25 ngày sau khi trổ) trên độ mẩy của hạt.
Các biện pháp kỹ thuật cần lưu ý để tăng trọng lượng hạt:
- Chọn giống có cỡ hạt lớn, trổ tập trung.
- Bón phân nuôi đòng để tăng cỡ hạt đến đúng kích thước di
truyền của giống và
bón phân nuôi hạt, giữ nước đầy đủ, bảo vệ nước không bị ngã đổ
hoặc sâu bệnh phá hoại, bố trí thời vụ cho lúa ngậm sữa, vào chắc
trong điều kiện thuận lợi để tăng sự tích lũy vào hạt làm hạt chắc
và no đầy.
•
Câu 13(4 điểm): Trình bày các yếu tố chính làm giảm
năng suất thực tế trên đồng ruộng so với tiềm năng năng
suất của giống?
•
-Trong thực tế, khi môi trường canh tác càng ít được kiểm soát
như mong muốn