LỜI MỞ ĐẦU
Nước ta đang trong giai đoạn phát triển của nền kinh tế thị trường có sự quản lý
của Nhà Nước. Việc tham gia nền kinh tế thị trường đã đem lại nhiều cơ hội cũng như
những thách thức lớn lao cho các thành phần kinh tế, các doanh nghiệp tại Việt Nam.
Vận động theo cơ chế thị trường nghĩa là hoạt động của doanh nghiệp phảo gắn liền
với cơ chế thị trường, tuân thủ theo các quy luật kinh tế trong đó có quy luật cạnh
tranh. Mỗi doanh nghiệp phải thích nghi với thị trường, cạnh tranh gay gắt với nhau để
tồn tại và phát triển. Trong những cuộc cạnh tranh này, doanh nghiệp nào biết thích
nghi với thị trường, tận dụng được mọi cơ hội, phát huy được khả năng của mình sẽ
giành thắng lợi. Ngược lại, những doanh nghiệp yếu thế không thích nghi được sẽ bị
đào thải khỏi thị trường.
Bắt đầu từ ý tưởng này, sau một thời gian tìm hiểu và thực tập tại công ty Cổ
Phần Thiết Bị Thực Phẩm, em quyết định chọn đề tài: “Thực trạng hoạt động đầu tư
và giải pháp nâng cao năng lực cạnh tranh của công ty Cổ Phần Thiết Bị Thực
Phẩm.” cho đề tài chuyên đề tốt nghiệp.
Công ty Cổ Phần Thiết Bị Thực Phẩm là một doanh nghiệp chuyên sản xuất
bình chứa khí gas hóa lỏng, thiết bị phòng cháy chữa cháy, bình chứa bia inox. Qua
gần 15 năm hoạt động và phát triển (từ năm 1995), công ty đã tìm cho mình một vị trí
khá ổn định trên thị trường với các chi nhánh đặt tại cả 3 miền Bắc, Trung, Nam. Tuy
nhiên, hiện nay công ty đang phải đương đầu với sự cạnh tranh mạnh mẽ từ nhiều phía
trên thị trường sản xuất vỏ bình chứa khí gas hóa lỏng. Sự cạnh tranh của các doanh
nghiệp mới thành lập và các đối thủ cũ cùng sản xuất mặt hàng này đã làm cho hoạt
động kinh doanh của công ty gặp nhiều khó khăn và quyết liệt. Để tiếp tục phát triển và
mở rộng thị trường công ty cần phải nghiên cứu tìm ra những biện pháp phù hợp để
nâng cao năng lực cạnh tranh của mình. Có nâng cao khả năng cạnh tranh, công ty mới
có thể chiến thắng được các đối thủ cạnh tranh, đứng vững trên thị trường cạnh tranh
khốc liệt này.
1
Do thời gian nghiên cứu và khả năng có hạn nên chuyên đề của tôi không tránh
khỏi có những sai sót nhất định, rất mong sự góp ý của thầy cô và các bạn để bài viết
của tôi được hoàn thiện hơn.
Tính đến thời điểm cuối năm 2008, ngành nghề sản xuất kinh doanh của công ty
đã mở rộng ra nhiều lĩnh vực. Các sản phẩm chính của công ty gồm có 3 nhóm sản
phẩm chính: bình chứa khí gas hoá lỏng; thiết bị phòng cháy chữa cháy; bình chứa bia
inox. Ngoài ra công ty cũng tham gia với tư cách nhà thầu cung cấp máy móc, thiết bị
cho một số dự án, công trình trong nước. Các hoạt động chính của công ty bao gồm:
Sản xuất các sản phẩm từ gỗ, composit. sản xuất thùng, bể chứa và dụng cụ chứa bằng
kim loại (sản xuất, kinh doanh và tái kiểm định bình, bồn chứa chịu áp lực, chứa các
loại ga hóa lỏng, bình cứu hỏa, bình ôxi dùng cho dân dụng và công nghiệp). Sản xuất
sắt, thép định hình (sản xuất khuôn mẫu kim loại và các chi tiết máy có độ chính xác
cao dùng cho ngành). Chuẩn bị mặt bằng, san lấp mặt bằng. Xây dựng công trình, hạng
mục công trình dân dụng, công nghiệp giao thông, thủy lợi. Lắp đặt trang thiết bị cho
3
các công trình xât dựng. Hoàn thiện các công trình xây dựng. Buôn bán phụ tùng và
các bộ phận phụ trợ của xe có động cơ. Buôn bán sắt, thép, ống thép, thép hình kim
loại màu (kết cấu thép, sắt thép xây dựng, ống kim loại, tôn và thép lá, dây kim loại).
Xuất nhập khẩu các mặt hàng công ty kinh doanh. Vận tải hàng hóa bằng đường bộ.
Dịch vụ khách sạn, nhà khách, nhà nghỉ. Đại lý du lịch (du lịch trong nước). Dịch vụ
hỗ trợ liên quan đến quảng bá và tổ chức tour du lịch. Cho thuê nhà phục vụ mục đích
kinh doanh.
1.2 Sự cần thiết phải đầu tư nâng cao khả năng cạnh tranh của công ty
Qua hơn 10 năm thực hiện công cuộc đổi mới đất nước, chuyển đổi nền kinh tế từ
cơ chế kế hoạch hoá tập trung sang hoạt động theo cơ chế thị trường đã mở ra một thời
kỳ mới đầy những cơ hội và thách thức lớn lao cho các thành phần kinh tế nói chung
và các doanh nghiệp nói riêng. Vận động theo cơ chế thị trường có nghĩa là các doanh
nghiệp phải hoạt động gắn liền với thị trường, tuân thủ các qui luật kinh tế trong đó qui
luật cạnh tranh. Mỗi doanh nghiệp phải biết thích nghi với thị trường, cạnh tranh nhau
để tồn tại và phát triển. Trong cuộc cạnh tranh này, doanh nghiệp nào biết thích nghi
với thị trường, tận dụng mọi cơ hội, phát huy được khả năng sẽ giành thắng lợi, ngược
lại những doanh nghiệp yếu thế không tận dụng cơ hội, không thích nghi với môi
trường sẽ bị đào thải khỏi thị trường. Giành thắng lợi trong cạnh tranh tức là doanh
sự xuất hiện của các doanh nghiệp mới sản xuất mặt hàng này. Khu vực phía Bắc đã và
đang xuất hiện thêm nhiều nhà máy sản xuất vỏ bình gas như Bình An, Vạn Lộc, Hồng
Hà, Tấn Phát. Các doanh nghiệp trẻ mới thành lập này tuy chưa có nhiều uy tín nhưng
có tham vọng chiếm lĩnh thị trường rất lớn với những chiến lược rõ ràng. Những doanh
nghiệp mới thành lập đã và đang nghiên cứu, tham khảo kinh nghiệm của các doanh
nghiệp đi trước, bên cạnh đó đẩy mạnh thu thập thông tin, tìm cách nắm bắt và mở
rộng thị trường. Dựa vào những điều học hỏi được họ liên tục cải tiến mẫu mã, chất
lượng để thu hút khách hàng. Sự tham gia của các doanh nghiệp mới này đang trở
thành mối đe dọa chia sẻ thị phần tiêu thụ đối với công ty.
Ngoài những doanh nghiệp mới hoạt động thì những đối thủ cạnh tranh lâu năm
cũng luôn là mối lo thường trực của công ty. Khác với những doanh nghiệp mới xuất
hiện, những đối thủ cạnh tranh lâu năm này có lợi thế về thương hiệu và uy tín trên thị
trường. Trên thực tế, các đối thủ cạnh tranh này và công ty đã hình thành nên những thị
5
trường tiêu thụ, những khách truyền thống của mình và có những biện pháp nhằm duy
trì mối quan hệ truyền thống đó. Nhưng trong điều kiện cạnh tranh hiện nay, các đối
thủ cạnh tranh đó luôn để ý và chờ đợi thời cơ để chiếm lấy nguồn khách hàng truyền
thống của công ty. Mà các khách hàng truyền thống là nguồn tiêu thụ sản phẩm chính
của công ty, do đó công ty phải luôn đề phòng và cảnh giác với các đối thủ này. Nếu
công ty không đáp ứng kịp thời các yêu cầu của khách hàng thì họ sẵn sàng xen vào và
nhận lấy nguồn cung ứng này. Bên cạnh đó họ cũng không ngừng nâng cao và hoàn
thiện dây chuyền sản xuất của mình để mở rộng và chiếm lĩnh thị trường. Đã và đang
có thêm những đơn vị đầu tư dây chuyền để phục hồi vỏ bình gas như: TQT, công ty
TNHH Đông Nam Á tại Phủ Lý, Nam Hà. Với những tính chất như vậy, sự canh tranh
với các đối thủ này có phần gay gắt hơn so với các đối thủ mới.
Bên cạnh những đối thủ cạnh tranh trong nước, công ty còn phải cạnh tranh với cả
công ty sản xuất nước ngoài. Cụ thể ở đây là trên thị trường thiết bị phòng cháy chữa
cháy nói chung và thị trường bình chữa cháy nói riêng đang được thống trị bởi hàng
Trung Quốc. Các mặt hàng phòng cháy chữa cháy của Trung Quốc với ưu thế là giá rẻ
hơn so với hàng trong nước từ lâu đã chiếm lĩnh được một thị trường tiêu thụ lớn.
Thứ tư: duy trì thương hiệu và uy tín của công ty
Công ty cổ phần thiết bị thực phẩm đã có một thời gian hoạt động kể từ lúc thành
lập đến giờ có thể nói cũng là một khoảng thời gian khá dài. Và để tạo được thương
hiệu và uy tín trên thị trường như bây giờ công ty cũng phải trải qua sự nỗ lực và phát
triển không ngừng. Đối với một doanh nghiệp thì để tạo ra uy tín và thương hiệu đối
với khách hàng trong một môi trường cạnh tranh như hiện nay là rất khó khăn và là cả
một quá trình lâu dài. Do đó việc duy trì thương hiệu và uy tín trên thị trường là rất
quan trọng. Ngay từ khi mới thành lập, công ty đã hoạt động theo phương châm “ chất
lượng khởi đầu từ khách hàng và kết thúc vì khách hàng”, cùng với đó là triết lý
hoạt động của công ty “Cổ Phần Thiết Bị Thực Phẩm – Uy Tín - Tin Cậy – Cùng
Phát Triển”. Công ty luôn cam kết: thường xuyên cải tiến, duy trì, áp dụng Hệ thống
quản lý chất lượng theo ISO 9001: 2000 xuyên suốt trong mọi hoạt động sản xuất kinh
doanh của công ty; luôn nâng cao uy tín và thương hiệu, đảm bảo là nhà sản xuất,
thương mại, dịch vụ, cung cấp cho khách hàng những sản phẩm có chất lượng tốt nhất,
ổn định nhất, với khả năng đáp ứng cao nhất ; luôn luôn coi chất lượng hoạt động kinh
doanh có tầm quan trọng bậc nhất, đảm bảo sự thỏa mãn cao nhất cho khách hàng và
sự tồn tại phát triển của công ty. Bên cạnh việc hoàn thiện hợp đồng đúng thời hạn, đủ
7
số lượng và chất lượng để tạo uy tín đối với khách hàng, công ty cũng phải không
ngừng quảng bá hình ảnh và thương hiệu của mình để cạnh tranh với các doanh nghiệp
khác.
Nền kinh tế ngày càng phát triển, mở ra cho doanh nghiệp nhiều cơ hội nhưng
cũng làm tăng thêm nhiều đối thủ cạnh tranh. Trước những cơ hội và thách thức như
vậy mỗi doanh nghiệp phải tìm cách vượt qua nếu không nguy cơ phá sản là rất lớn.
Trong cơ chế thị trường, cạnh tranh là một quy luật tất yếu khách quan. Các doanh
nghiệp tham gia thị trường đều phải chấp nhận cạnh tranh. Cạnh tranh, chấp nhận cạnh
tranh và cạnh tranh bằng tất cả khả năng của mình mới có thể giúp doanh nghiệp tồn
tại và phát triển. Chính vì vậy. tăng khả năng cạnh tranh là một điều tất yếu đối với
công ty trong cơ chế thị trường.
1.3. Những nhân tố ảnh hưởng đến khả năng cạnh tranh của công ty.
Đứng trước tình hình đó, công ty đã phải đưa ra những chiến lược tình thế. Về thị
trường: công ty duy trì sản lượng sản xuất bình gas mới ở mức hợp lí, sàng lọc đối
tượng khách hàng, chỉ duy trì quan hệ với những khách hàng lớn, có uy tín hoặc chỉ
bán hàng khi khả năng thanh toán được đảm bảo. Tăng cường sản lượng bình gas phục
hồi nhằm giảm áp lực về nguồn vốn. Tập trung phát triển thị trường bình chữa cháy,
các thiết bị phòng cháy chữa cháy… Về tài chính: công ty mở rộng và hợp tác theo
chiều sâu với các tổ chức tín dụng, tài chính, phát hành cổ phiếu trên kênh thị trường
chứng khoán để khai thác, đa dạng nguồn vốn phục vụ sản xuất kinh doanh và phát
triển đầu tư. Thắt chặt công tác tài chính, quản lý chặt chẽ các khoản phải thu, đảm bảo
không có các khoản phải thu khó đòi, giảm thiểu lượng hàng tồn kho; giảm thiểu
nguồn vốn sản xuất kinh doanh, giảm chi phí tài chính…Nhờ những chiến lược được
ra kịp thời mà công ty đã vượt qua được tình hình khó khăn, tuy không đạt được các
chỉ tiêu kết quả như kế hoạch đề ra đầu năm 2008 nhưng vẫn đảm bảo có doanh thu
vượt qua năm trước. Cụ thể: tổng doanh thu năm 2008 đạt 235.732 triệu đồng, tăng
19.667 triệu đồng, tương đương 9% so với năm trước (năm 2007 đạt 216.065 triệu
đồng) nhưng chỉ bằng 74% so với kế hoạch năm 2008 (317 tỉ đồng).
Khi tình hình kinh tế trở nên khó khăn thì những chiến lược đưa ra lúc đó là kịp
thời và phù hợp, nhưng khi nền kinh tế đã khởi sắc và đang trên đã phát triển thì những
giải pháp tình thế đó đã không còn phù hợp, công ty lại cần có những chiến lược mới
để tận dụng được xu thế phát triển chung của nền kinh tế. Điển hình là năm 2009, nền
kinh tế đã có dấu hiệu phục hồi và vượt qua khủng hoảng, giá nguyên vật liệu đầu vào
9
đã giảm đáng kể so với năm 2008 và dần đi vào ổn định. Khi đó, nhu cầu tiêu dùng, sử
dụng vỏ bình gas đột ngột tăng mạnh. Nắm bắt thời cơ này, công ty đã có những thay
đổi hợp lý về các nguồn lực trong công ty để tranh thủ cơ hội thị trường. Công ty đã
chủ động giảm sản lượng phục hồi bình gas, giảm sản lượng thiết bị phòng cháy chữa
cháy và dừng hẳn việc sản xuất bình chứa bia để chuyển hướng, tập trung cao độ máy
móc thiết bị, nhân lực và nguồn lực tài chính cho sản xuất bình gas. Có thời điểm công
ty phải bố trí sản xuất 3 ca/ngày, liên tục trong 7 ngày/tuần mới đáp ứng nhu cầu của
khách hàng. Nhờ tận dụng được thời cơ này mà trong năm 2009 công ty đã đạt được
Nhưng sang năm 2009, khi nền kinh tế dần trở nên sáng sủa hơn, có một số thay
đổi về pháp luật và chính sách của Nhà Nước đã giúp công ty đạt được những thành
tích tăng vọt. Năm 2009, Nhà Nước đưa ra chính sách hỗ trợ lãi suất để giúp các doanh
nghiệp dễ dàng hơn trong việc tiếp cận nguồn vốn, vực dậy sản xuất sau khủng hoảng.
Cùng với đó, năm 2009 hiệp hội gas được thành lập và có những tác động làm cho thị
trường kinh doanh LPG dần trở nên lành mạnh. Chính Phủ cũng công bố nghị định số
107/2009/NĐ-CP về việc kinh doanh khí dầu mỏ hóa lỏng đi vào hiệu lực làm tăng nhu
cầu vỏ bình gas trên thị trường. Nhận định được những thuận lợi về môi trường pháp
luật cùng với những chính sách ưu đãi của Nhà Nước, công ty đã tranh thủ thời cơ khi
cầu về mặt hàng vỏ bình gas lên cao để tạo ra mức doanh thu kỉ lục năm 2009.
Các doanh nghiệp cạnh tranh trong ngành
Số lượng các doanh nghiệp cạnh tranh và các đối thủ tiềm ẩn cũng là một nhân tố
tác động đến khả năng cạnh tranh của một doanh nghiệp. Khi xem xét nghiên cứu thị
trường, doanh nghiệp phải đánh giá nghiên cứu kỹ lưỡng các đối thủ của mình về: qui
mô, khả năng tài chính, trình độ công nghệ, đặc điểm sản phẩm… để từ đó định ra mức
độ cạnh tranh trên thị trường và đánh giá khả năng cạnh tranh của doanh nghiệp mình.
Bên cạnh việc sản xuất kinh doanh, công ty cũng cần phải luôn quan tâm và theo dõi
các động tĩnh của đối thủ cạnh tranh để đưa ra các phương án thích hợp. Công ty cần
biết được điểm mạnh, điểm yếu của mình so với đối thủ, và những lợi thế của đối thủ
cạnh tranh mà công ty chưa có. Trên cơ sở đó, công ty cần xem xét và đưa ra các
phương án để phát huy điểm mạnh, khắc phục điểm yếu, nâng cao sức cạnh tranh của
công ty trên thị trường.
1.3.2 Những nhân tố chủ quan.
Cơ sở vật chất kĩ thuật của doanh nghiệp.
11
Bất cứ một doanh nghiệp nào muốn quá trình sản xuất và kinh doanh diễn ra
thuận lợi, phát triển đều phải trang bị cho mình một hệ thống cơ sở hạ tầng nhất định.
Một hệ thống cơ sở vật chất khang trang với một môi trường làm việc an toàn, phù hợp
với qui mô của doanh nghiệp chắc chắn sẽ làm tăng khả năng cạnh tranh của công ty
lên rất nhiều. Với một cơ sở vật chất tốt thì chất lượng dịch vụ được đảm bảo. Chất
thấp, năng suất lao động thấp thì lại trở thành nhân tố hạn chế sự phát triển. Chính vì
vậy, vấn đề đặt ra là phải thường xuyên nâng cao chất lượng nguồn nhân lực để đáp
ứng yêu cầu phát triển của công ty. Do đó mà nhiều doanh nghiệp đặt yếu tố này lên
hàng đầu và luôn luôn chú trọng để đào tạo, nâng cao chất lượng nguồn nhân lực.
Trong quá trình hoạt động, từ việc lên ý tưởng, kế hoạch trên giấy tờ đến việc trực tiếp
ra sản phẩm đều do yếu tố con người tác động. Các thành viên của công ty là người sẽ
quyết định doanh nghiệp có phát triển được hay không? có những chiến lược như thế
nào? có đủ sức cạnh tranh với các doanh nghiệp khác không?… Quan tâm tới việc
nâng cao chất lượng nguồn nhân lực cũng chính là đảm bảo cho việc giành thắng lợi
trong công cuộc cạnh tranh và đảm bảo cho sự phát triển bền vững lâu dài của công ty
Nhận biết được tầm quan trọng của yếu tố này, nên trong thời gian qua công ty
luôn chú trọng tới việc nâng cao và phát triển nguồn nhân lực. Chất lượng đội ngũ cán
bộ của công ty ngày càng được nâng cao với những nhân viên mới có trình độ đại học
và trên đại học. Công ty luôn quan tâm và mở những lớp nâng cao tay nghề cho công
nhân, nhất là các lớp hướng dẫn sử dụng các máy móc tiên tiến trong sản xuất để đảm
bảo mức độ hỏng hóc là ít nhất. Việc đào tạo cho nhân viên những kỹ năng hoặc kiến
thức mới không chỉ giúp họ hoàn thành công việc nhanh chóng và hiệu quả hơn mà
còn nâng cao mức độ thỏa mãn của họ trong công việc và có động lực để tự gia tăng
hiệu suất làm việc. Các nhân viên được đào tạo để làm tốt công việc, họ sẽ có thái độ
tự tin, làm việc một cách độc lập và chủ động hơn. Kết hợp với việc đào tạo, chế độ
khen thưởng hợp lý cũng giúp công nhân thêm hứng thú làm việc, cố gắng hoàn thiện
kỹ năng sản xuất và số lao động lành nghề trong công ty ngày càng nhiều. Bên cạnh
đó, công ty cũng luôn quan tâm đúng lúc đến mọi thành viên, luôn động viên kịp thời
những lúc họ ốm đau, bệnh tật, sinh nở…Nhờ những sự quan tâm tới nguồn nhân lực
mà công ty tăng thêm khả năng cạnh tranh với các doanh nghiệp khác trên thị trường.
Khả năng tài chính của doanh nghiệp.
Tình hình tài chính doanh nghiệp ổn định là một trong những điều kiện tiên
quyết cho hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp diễn ra một cách nhịp nhàng, đồng
13
bộ, đạt hiệu quả cao. Khả năng tài chính là yếu tố quan trọng quyết định khả năng kinh
Hiện tại, công ty đang có một bộ máy tổ chức quản lý vẫn hoạt động nhịp
nhàng, năng động, kịp thời ứng phó với các tình hình, diễn biến của nền kinh tế. Đứng
đầu bộ máy quản lý này là Ban lãnh đạo, tiếp đến là bốn khối trực thuộc: khối nghiệp
vụ, khối kỹ thuật, khối sản xuất, khối trực thuộc đảm nhiệm các văn phòng đại diện tại
Bắc, Trung, Nam. Tất cả các khối, các phòng, ban, lãnh đạo đều có một chức năng và
nhiệm vụ cụ thể, có sự điều hành từ trên xuống dưới. Các hoạt động trong công ty luôn
diễn ra khá nhịp nhàng, ăn khớp, không có sự chồng chéo về quản lý. Khi ban lãnh đạo
vạch ra các định hướng phát triển và chiến lược ngắn hạn, trung hạn, dài hạn cũng như
tầm nhìn cho sự phát triển của công ty; các phương án sản xuất, kinh doanh…thì các
phương án này sẽ được công bố và chỉ đạo đến các khối trực thuộc. Các khối trực
thuộc có nhiệm vụ phổ biến đến các phòng ban và tiến hành thực hiện các chiến lược
đề ra. Các định hướng chiến lược và mục tiêu sản xuất kinh doanh đề ra đều được công
bố cho các thành viên trong công ty nắm rõ và cố gắng thực hiện. Nhờ đó, công ty luôn
có sự thống nhất từ trên xuống dưới, cùng hướng tới mục tiêu đề ra. Trong quá trình
thực hiện các phương án sản xuất, các phòng ban luôn có sự chỉ đạo sát sao và kịp thời
của ban lãnh đạo. Bên cạnh việc đôn đốc, nhắc nhở, công ty cũng luôn có chế độ khen
thưởng và đãi ngộ hợp lý với các thành viên tích cực, hăng hái sản xuất. Nhờ có sự
hoạt động nhịp nhàng, ăn khớp của bộ máy tổ chức quản lý mà công ty đã nhiều lần
vượt qua được những khó khăn trong quá khứ và đang hướng tới một mục tiêu phát
triển bền vững trong tương lai.
Marketing và hệ thống phân phối sản phẩm.
Là một công ty vừa hoạt động sản xuất vừa hoạt động kinh doanh, do đó việc
tạo lập hệ thống marketing và phân phối là hết sức cần thiết. Chính hệ thông này sẽ
giúp cho sản phẩm của doanh nghiệp có sức cạnh tranh hơn so với các đối thủ cạnh
tranh. Điều này giúp doanh nghiệp giải phóng được lượng hàng tồn đọng và giải quyết
nhanh chu kỳ quay vòng vốn.
Để thực hiện việc tiêu thụ sản phẩm, công ty đã tạo lập hệ thống phân phối rộng
khắp thông qua các đại lý, các văn phòng đại diện trên cả 3 miền Bắc, Trung, Nam,
trong đó có một số khu vực tiêu thụ chính ở miền Bắc và miền Trung. Các văn phòng
đại diện này có nhiệm vụ hỗ trợ các phòng chức năng quan hệ, giao dịch với một số đối
qua bảng sau:
16
Bảng 1: Cơ cấu tài sản của công ty Cổ Phần Thiết Bị Thực Phẩm
Đơn vị: triệu đồng
Chỉ tiêu Năm 2007 Năm 2008 Năm 2009
Tổng cộng tài sản/nguồn vốn 187.781 204.748 253.382
A. Tài sản ngắn hạn
129.506 148.619 201.082
I. Tiền và các khoản tương đương tiền 477 565 5.883
II. Các khoản đầu tư tài chính ngắn hạn
III. Các khoản phải thu ngắn hạn 36.875 37.348 39.631
1. Phải thu khách hàng 35.058 36.896 35.795
2. Trả trước cho người bán 1.260 258 4.524
3. Phải thu nội bộ
4. Phải thu theo tiến độ xây dựng
5. Các khoản phải thu khác
6. Dự phòng các khoản phải thu khó đòi (698) (1.165)
IV. Hàng tồn kho 88.737 109.766 153.231
V. Tài sản ngắn hạn khác 3.417 939 2.337
B. Tài sản dài hạn
I. các khoản phải thu dài hạn
II. Tài sản cố định 50.508 45.953 43.352
1. TSCĐ hữu hình 50.802 45.953 43.352
- Nguyên giá 94.647 95.570 97.658
- Giá trị hao mòn lũy kế (44.027) (52.293) (61.391)
2. Chi phí xây dựng dở dang 181 2.675 7.175
III. Bất động sản đầu tư
IV. Các khoản đầu tư tài chính dài hạn 7.270 7.270 7.270
- Công ty TNHH Bạch Đằng 1.200 1.200 1.200
- Công ty Cổ Phần Thực Phẩm Vạn Điểm 6.070 6.070 6.070
Khấu hao tài sản cố định 7.349 9.422 9.089 96,45%
Bảo dưỡng và
sửa chữa tài sản
152 167,5 184,6 110,2%
Nguồn: báo cáo của hội đồng quản trị
2.2.2 Đầu tư bổ sung hàng tồn trữ.
18
Đối với bất kì một doanh nghiệp sản xuất kinh doanh nào việc đầu tư vào sản
phẩm và việc bổ sung hàng tồn trữ liên quan rất nhiều tới quá trình sản xuất kinh doanh
của doanh nghiệp. Đối với công ty Cổ Phần Thiết Bị Thực Phẩm thì đầu tư vào hàng
tồn trữ cũng liên quan tới những rủi ro mà công ty có thể gặp phải, nhất là khi công ty
nhập khẩu hàng hóa (thép nguyên liệu) từ nước ngoài trong tình trạng nền kinh tế có
nhiều diễn biến phức tạp như hiện nay, tỷ giá ngoại tệ cũng không ngừng biến đổi. Khi
tiến hành đầu tư vào hàng tồn trữ, doanh nghiệp có thể tránh được sự tăng giá bất ngờ
của các thiết bị. Tuy nhiên, nếu giá hàng hóa giảm thì doanh nghiệp cũng phải chịu
một khoản lỗ nào đó. Chính vì thế, để tiến hành đầu tư bổ sung hàng tồn trữ, doanh
nghiệp luôn phải có định hướng, có kế hoạch cụ thể cho từng giai đoạn, từng thời kỳ .
Bảng 3: Tình hình đầu tư bổ sung hàng tồn trữ qua các năm của công ty
Đơn vị: Triệu đồng
Năm Năm 2006 Năm 2007 Năm 2008
Đầu tư hàng tồn trữ 12.413 15.492 18000
Tốc độ tăng liên hoàn(%) - 24,8 16.19
Tổng vốn đầu tư 16.565 18.254 23.135
Tỷ trọng so với tổng vốn(%) 74,93 84,87 77,8
2.2.3 Đầu tư nghiên cứu triển khai khoa học và công nghệ.
Công ty đang nghiên cứu và phát triển công nghệ sản xuất bột BC/ABC, hoàn
thiện và đưa dây chuyền sản xuất bột cứu hỏa và nạp khí CO
2
vào khai thác. Việc này
sẽ giúp công ty chủ động nguồn nguyên liệu và tăng sức cạnh tranh trên thị trường đối
Bảng 5: Chất lượng cán bộ nhân viên
Đơnvị: người
20
Chỉ tiêu
Năm
2005
Năm
2006
Năm
2007
Năm
2008
Năm
2009
1. Tổng số cán bộ,
công nhân viên
186 205 261 221 250
2. Tổng số cán bộ 22 25 27 27 29
3. Tỷ lệ CB có trình độ đại học,
cao đẳng (%)
86 92 93 93 95
4. Số lượng CB có trình độ trên
đại học
9 11 13 13 14
2.2.5 Đầu tư cho hoạt động maketing.
Việc quảng bá cho những sản phẩm của công ty có thể thực hiện qua các hình
thức khác nhau như truyền hình, qua website, áp phích quảng cáo, kết hợp với các hoạt
động khuyến mãi, ưu đãi với các đối tượng đặc biệt… Cân nhắc sử dụng biện pháp phù
hợp nhất để tạo ra hình ảnh tổt nhất của công trong con mắt khách hàng. Sự đảm bảo
cung cấp đủ số lượng và chất lượng các sản phẩm sẽ tạo uy tín về dịch vụ cung ứng, kỹ
Sản lượng bình gas phục hồi năm 2009 thực hiện chỉ bằng 74% so với năm 2008 và
bằng 76% kế hoạch năm 2009 ( năm 2008, thực hiện 183.768 bình phục hồi qui đổi, kế
hoạch năm 2009 là 180.000 bình phục hồi). Sản lượng bình gas phục hồi giảm, không
tăng xuất phát từ 2 nguyên nhân: (1) hầu hết các hãng gas hiện nay đã tự thực hiện đầu
tư xây dựng xưởng sơn, sửa phục hồi bình gas; (2) trong năm 2009, công ty tập trung
cao độ mọi nguồn lực cho sản xuất bình gas mới nên đã chủ động giảm sản lượng bình
gas phục hồi.
Tuy sản lượng bình gas phục hồi năm 2009 giảm so với năm 2008 nhưng doanh
thu bình gas phục hồi vẫn đạt mức 171.331 triệu đồng, trong đó, doanh thu từ CG12kg
là 162.336 triệu đồng, từ BG45kg là 4.173 triệu đồng, từ phục hồi bình gas là 4.823
triệu đồng. Doanh thu từ bình gas và phục hồi bình gas chiếm 53% tổng doanh thu toàn
22
công ty và tăng cao so với doanh thu từ bình gas phục hồi năm 2008 ( doanh thu tiêu
thụ bình gas năm 2008 đạt 50.055 triệu đồng). Sở dĩ có sự trái ngược trên là do giá cả
có sự biến động qua các năm.
Ta có đơn giá bình quân biến động qua các năm theo bảng:
Diễn biến giá bán qua các năm
Năm Đồng/CG12kg Đồng/BG45kg
2007 310.358 854.780
2008 346.132 958.114
2009 323.463 1.017.805
Tổng doanh thu năm 2009 đạt mức kỉ lục từ trước tới nay là 320.417 triệu đồng,
tăng 82.658 triệu đồng, bằng 135% so với năm 2008 ( năm 2008 đạt 237.732 triệu
đồng). Tổng doanh thu năm 2009 vượt 35.138 triệu đồng và bằng 115% so với kế
hoạch năm 2009 đề ra ( 285.000 triệu đồng).
Sản lượng bình chữa cháy và bình chứa khí không hàn đạt 8.442 bình, bằng
19% so với năm 2008 và bằng 14% so với kế hoạch (năm 2008, sản lượng đạt tổng
cộng 44.565 bình, trong đó bình bột chữa cháy các loại đạt 42.758 bình và bình chứa
không hàn đạt 1.798). Doanh thu từ bán thiết bị phòng cháy chữa cháy năm 2009 đạt
1.603 triệu đồng.
Năm 2009, mặc dù vần gặp nhiều khó khăn do tác động của cuộc khủng hoảng
tiền tệ từ năm 2008 chuyển qua, tuy nhiên, với chính sách hỗ trợ lãi suất của Nhà Nước
cùng với sự nỗ lực của các thành viên trong toàn công ty, nỗ lực của người lao động
trong công tác sản xuất, kinh doanh, sự tin tưởng của toàn thề người lao động vào các
hoạch định, các chiến lược đề ra, công ty không những đạt mà còn vượt mức cao các
chỉ tiêu cơ bản được Đại hội cổ đông thường niên năm 2009 thông qua, cụ thể là:
Duy trì hoạt động bình thường tại công ty, đảm bảo việc làm thường xuyên và
thu nhập ổn định cho người lao động, đặc biệt là lực lượng lao động chủ chốt. Thực tế,
công ty không những duy trì việc làm ổn định cho những lao động cũ mà công ty còn
tạo thêm việc làm cho thêm 33 lao động mới. Tính đến cuối năm 2009, số lượng người
24
lao động tại công ty là 250 người, tăng 33 người so với đầu năm 2009 (217 lao động).
Công ty vẫn đảm bảo mức thu nhập thường xuyên cho lực lượng lao động. Mức thu
nhập bình quân đầu người thực hiện trong năm đã tăng cao so với các năm trước đó và
so với kế hoạch năm đề ra. Tổng quỹ lương năm 2009 đạt 9.387 triệu đồng, tăng 185%
so với năm 2008 (năm 2008 đạt 5.085 triệu đồng). Thu nhập bình quân của người lao
động trong năm 2009 đạt 3.431.196 đồng/người/tháng, tăng 188% so với năm 2008(thu
nhập bình quân đầu người năm 2008 là 1.826.817 đồng/người/tháng, năm 2007 là
2.136.819 đồng/người/tháng). và tăng 1,7 lần so với kế hoạch đặt ra năm 2009.(kế
hoạch năm 2009 là 2.500.000 đồng/người/tháng.
Đảm bảo khả năng cân đối thu chi, đảm bảo tình hình tài chính lành mạnh,
không để các khoản nợ quá hạn đối với các ngân hàng và các cơ quan chức năng (cơ
quan thuế, bảo hiểm xã hội). Năm 2009, công ty đã trả nợ gốc và lãi vay dài hạn trong
quá trình đầu tư với tổng số tiền là 10.439 triệu đồng, tặng 1.103 triệu đồng, bằng
112% so với năm 2008. (trả nợ gốc và lãi vay dài hạn trong quá trình đầu tư năm 2008
là 9.422 triệu đồng, năm 2007 là 11.080 triệu đồng). Tổng số gốc và lãi vay dài hạn trả
từ năm 2007 đến năm 2009 là 30.941 triệu đồng. Trả nợ đầy đủ các khoản vốn vay dài
hạn đối với các ngân hàng và các tổ chức tín dụng khác. Thực tế, công ty vẫn đảm bảo
khả năng cân đối thu chi, đã trả đầy đủ và đúng hạn các khoản vay ngắn hạn, lãi phát
sinh đối với các tổ chức tín dụng; trả đầy đủ và đúng hạn các khoản nợ phải trả cho nhà