một số biện pháp dạy vận động cơ bản cho trẻ mẫu giáo - Pdf 24

I. Đặt vấn đề:
Giáo dục Mầm Non là một bậc học trong hệ thống giáo dục quốc dân
Việt Nam. Chỉ thị 153/CP của Hội đồng chính phủ ngày 12/8/1966 về: Công
tác giáo dục mẫu giáo đã khẳng định vị trí và tầm quan trọng của bậc học
mầm non. Trong giai đoạn lịch sử hiện nay, đất nớc ta đang trên đà phát triển
công nghiệp hoá, hiện đại hóa đất nớc để hoà nhập với khu vực và thế giới
buộc chúng ta phải xác định những mục tiêu giáo dục nói chung, giáo dục MN
nói riêng để đáp ứng nhu cầu phát triển của xã hội nhằm đảm bảo cho trẻ phát
triển toàn diện đồng thời góp phần hình thành ở trẻ những cơ sở đầu tiên của
nhân cách con ngời Việt Nam trong giai đoạn lịch sử này.
Để thực hiện tốt các mục tiêu của ngành, chúng ta phải tiến hành các
nhiệm vụ nh giáo dục thể lực( Giáo dục thể chất), trí tuệ, đạo đức, lao động,
thẩm mỹ.
Giáo dục thể chất bao gồm nhiều nội dung nh: Đội hình đội ngũ, bài tập
phát triển chung, vận động cơ bản, trò chơi vận động. Những nội dung này rất
đa dạng đòi hỏi ngời giáo viên phải có những biện pháp phù hợp nhằm đạt
hiệu quả cao nhất trong các tiết dạy. Tuy nhiên trong phạm vi đề tài này tôi
chỉ đề cập đến vấn đề Biện pháp dạy vận động cơ bản ( VĐCB) cho trẻ 4 5
tuổi nhằm giúp cho giáo viên có những biện pháp phù hợp, chủ động, linh
hoạt, giúp trẻ hứng thú khi dạy VĐCB cho trẻ từ đó giúp trẻ có kỹ năng kỹ xảo
vận động đồng thời phát triển các tố chất thể lực cho trẻ. Đây là mục tiêu đầu
tiên khi dạy VĐCB cho trẻ.
Trên thực tế những biện pháp dạy VĐCB cho trẻ 4 5 tuổi của GV đã đợc
quan tâm một cách thích đáng nhng do một số GV cha dành thời gian hợp lí
cho giờ dậy, cha đi sâu nghiên cứu đề ra những biện pháp phù hợp mà chỉ dạy
đúng phơng pháp bộ môn và cha nhận thức hết tầm quan trọng của việc dạy
VĐCB trẻ 4 5 tuổi nên hiệu quả ch a cao.
1
Là một giáo viên tôi nhận thức đầy đủ và sâu sắc tầm quan trọng của việc
đề ra những biện pháp phù hợp khi dạy VĐCB cho trẻ đạt hiệu quả cao nên tôi
đã tìm hiểu thực trạng vấn đề này ở một số lớp mẫu giáo 4 5 tuổi trong tr-

* Ưu điểm: Trong chơng trình cải cách thì các bài tập dạy vận động cơ
bản cho trẻ 4 5 tuổi đã đợc sắp xếp theo một chơng trình khung, theo từng
bài, từng giai đoạn cụ thể. Trên các nội dung đó giáo viên chỉ việc lựa chọn
các biện pháp sao cho phù hợp với nội dung từng bài, giáo viên thực hiện đợc
rõ các bớc khi dạy trẻ các kỹ năng động tác. Giáo viên vẫn là ngời hớng dẫn,
là trung tâm của quá tình giáo dục. Nội dung chăm sóc giáo dục đã bám sát
mục tiêu kế hoạch đào tạo theo quyết định 55/QĐ của Bộ Giáo dục và Đào tạo
ký ngày 3/2/1990.
3
- Nội dung chơng trình đợc đa vào từ dễ đến khó, từ đơn giản đến phức
tạp, phù hợp với sự phát triển của trẻ. Nội dung giáo dục ngoài yêu cầu và nội
dung chung còn có phân phối chơng trình cụ thể theo từng giai đoạn, từng
tháng và phần hớng dẫn thực hiện trình bày rõ ràng. Giáo viên dễ dàng lựa
chọn biện pháp. Giáo viên ít phải thay đổi điều kiện, khi dạy còn mang tính
hình thức nên tiết học đó đơn giản, ít tạo đợc sự hứng thú cho trẻ.
Ví dụ: Biện pháp dạy trẻ phối hợp với âm nhạc, giáo viên chỉ cần chọn
bất kỳ bài hát nào và chọn tốc độ nhanh hay chậm mà không cần theo một chủ
điểm nào.
Bài: Bò thấp chui qua cổng.
Giáo viên chỉ cần chọn nhạc và điều chỉnh nhanh hay chậm theo nhạc
to nhỏ rồi cho trẻ thi đua vận động theo nhạc. Khi dừng 1 đoạn nhạc bạn
nào về trớc không làm đổ cổng là thắng
* Khó khăn trong việc thực hiện theo chơng trình cải cách:
- Giáo viên vẫn thờng sử dụng những biện pháp để dạy trẻ theo kiểu
truyền thống với đặc trng chủ yếu coi cô giáo là trung tâm của quá trình giáo
dục, cô chủ yếu hớng dẫn sau đó lần lợt trẻ làm, trẻ làm theo mẫu, mang tính
đồng loạt, cha phát huy đợc tính tích cực của cá nhân từng trẻ, trẻ còn thụ
động, cá nhân trẻ ít đợc vận động, không đợc rèn ở mọi lúc mọi nơi mà chủ
yếu trên tiết học thể dục. Cô giáo phụ thuộc nhiều vào tài liệu hớng dẫn và các
bài soạn có sẵn, các động tác mang tính áp đặt cho trẻ, hình thức biện pháp cô

thì không những hái đợc nhiều quả mà lại tìm đợc cô công chúa nữa, còn bạn
nào chạm vào cổng làm đổ sẽ không tìm đợc gì mà còn bị lá che vào ngời nữa.
Trẻ rất tò mò hào hứng bò cho khéo, thi đua. Trong lúc trẻ bò cô đánh đàn bài
hát: Vờn cổ tích, Quả các bài hát có nội dung về thế giới thực vật. Trẻ vừa
bò rèn kỹ năng khéo lại vừa nghe nhạc, giáo dục tích hợp cả Hái đ ợc quả gì
trẻ học một cách nhẹ nhàng, vận động thấy thoải mái, không mệt mỏi hay đối
với những bài tập tổng hợp bao gồm từ 2 3 động tác mà yêu cầu kỹ năng
đòi hỏi phối hợp nhiều, trẻ phải thực hiện liên hoàn các động tác mà không bị
gián đoạn giáo viên sử dụng hình thức biện pháp tổ chức hội thi Bé nhanh
5
trí, Bé khoẻ Bé ngoan, Hội khoẻ măng non theo một chủ điểm Thế
giới động vật chẳng hạn.
Ví dụ: Bài ném xa chạy nhanh , giáo viên cho trẻ ném chạy nhanh
lấy con vật theo yêu cầu của cô. Trong khi trẻ thực hiện các VĐCB cô kết hợp
bật nhạc các bài hát về thế giới động vật, trẻ rất hứng thú và chủ động chạy
nhanh để lên gắn đợc nhiều con vật theo yêu cầu của cô trong thời gian 1 bản
nhạc. Khi giáo viên biết phối hợp nhiều biện pháp, linh hoạt, gợi mở một cách
nhẹ nhàng làm trẻ hào hứng, vận động không nhàm chán. Nội dung phong phú
đợc đan quyện chặt chẽ trong một thể thống nhất, giúp cho quá trình giáo dục
phù hợp với quá trình nhận thức và phát triển toàn diện của trẻ. Trẻ cảm thấy
thực sự học bằng chơi chơi mà học.
* Khó khăn trong việc thực hiện theo chơng trình đổi mới :
- Một số đồ dùng, dụng cụ thể dục để dạy theo chủ điểm còn thiếu do
trờng mới thành lập.
- GV phải dành nhiều thời gian, phải luôn sáng tạo, tìm tòi, su tầm các
nội dung, hình thức, biện pháp phong phú để thu hút trẻ. GV phải lựa chọn đề
tài, đa ra yêu cầu phù hợp điều kiện riêng của lớp, phù hợp với trẻ của mình.
GV phải thiết kế đồ dùng, dụng cụ giảng dạy đảm bảo kiến thức, kỹ năng vận
động của trẻ.
- Sự phối hợp giữa giáo viên và phụ huynh cha đợc chặt chẽ làm cho

75.0
62.5

*Nhận xét chung:
Nhìn trên Bảng 1 ta thấy đa số GV có nhận thức đúng đắn về các biện
pháp dạy VĐCB cho trẻ MG nhỡ. Chính nhờ có sự linh hoạt, lồng ghép các
biện pháp dạy vận động cho trẻ mà các bài tập VĐCB đều đạt đợc kết quả tốt
và có một số ảnh hởng lớn đến giờ học. Qua phiếu điều tra tôi thấy việc GV
giúp trẻ đợc thể hiện tính chủ động và tích cực trong vận động chiếm tỷ lệ cao
(7/8 GV) đạt tới 87,5%. Vì sao đợc kết quả cao nh vậy, bởi lẽ theo chơng trình
đổi mới hiện nay lấy trẻ làm trung tâm, trẻ đợc hoạt động một cách tích cực,
thoải mái, không gò bó. Đồng thời GV phát huy đợc hết khả năng nghệ thuật
s phạm , chú ý đến cá nhân trẻ, bên cạnh đó có sử dụng tích cực các biện pháp
nên trẻ tham gia vận động một cách chủ động hơn. Còn việc GV giúp trẻ thực
hiện tốt kỹ năng mới chỉ đạt tỷ lệ 75% (6/8 GV) là do một số cháu còn quá
nhút nhát, cha tích cực vận động nên kết quả đạt đợc cha cao. Với những cháu
này GV phải có biện pháp riêng với trẻ nh rèn cho cháu ở mọi lúc mọi nơi.
Bảng 2: Kết quả thăm dò ý kiến Gv về việc sử dụng các biện pháp khi
dạy VĐCB để đạt kết quả vận động tốt.
Các biện pháp
Mức độ
7
Thờng xuyên Thỉnh thoảng Hiếm khi Không bao giờ
SL
GV
%
SL
GV
%
SL

còn 1/8 GV chiếm tỉ lệ 12.5% cha sử dụng biện pháp dạy thể dục phối hợp với
âm nhạc để dạy trẻ VĐCB là do GV sử dụng đàn còn hạn chế hoặc GV đó cha
hiểu đợc tác dụng tích cực khi dạy trẻ VĐCB có kết hợp với âm nhạc.
Bên cạnh đó có 1 số GV ngoài việc sử dụng 4 biện pháp nêu trên thỉnh
thoảng còn sử dụng biện pháp dạy VĐCB dới hình trò chơi vận động, hội thi
nh Bé nhanh trí, Bé khoẻ bé ngoan, Hội khoẻ măng non. Đây cũng là
biện pháp tốt giúp trẻ học bằng chơi - chơi mà học.
Bảng 3: Kết quả thăm dò ý kiến Gv về những khó khăn thờng gặp khi
dạy VĐCB cho trẻ.
TT Những khó khăn
SL
GV
%
Những khó
khăn khác
SL
GV
%
1. Số trẻ trong lớp quá đông 5/8 62.5
1. Trẻ cha tích cực
vận động
2 25
2 Lớp học chật hẹp 0 0 2. Trẻ nhút nhát 4 50
3 Việc phối hợp với PH 3 37.5
4
Cô cha thực sự gây hứng thú cho
trẻ, tạo ra các tình huống bất ngờ.
2 25
5 Thiếu phơng tiện GD trẻ 4 50


hô hấp, tiêu hoá đều phát triển tốt, phát triển một cách toàn diện. Ng ợc lại
nếu trẻ ít tham gia vận động, cha tích cực vận động thì sẽ chậm chạp, cơ thể sẽ
yếu ớt điều đó sẽ ảnh hởng rất nhiều đến việc hình thành và phát triển nhân
cách toàn diện của trẻ sau này.
10
III. Kết thúc vấn đề:
Thông qua kết quả thể hiện trên phiếu điều tra cũng nh quan sát trò
chuyện, thông qua những buổi dự giờ, tổ chức cho trẻ MG 4 5 tuổi bài tập
VĐCB tại một số lớp trong trờng nơi tôi công tác, tôi nhận thấy rằng GV đa
nội dung VĐCB rất phù hợp với nội dung chơng trình đổi mới.
Giáo viên đã biết phối kết hợp, lựa chọn lồng ghép các biện pháp dạy
vận động cơ bản cho trẻ 4 5 tuổi vào từng đề tài, từng chủ điểm một cách
linh hoạt, sáng tạo phù hợp với đặc điểm của lớp mình. Bên cạnh đó vẫn còn
một số giáo viên cha quan tâm đến hoạt động này.
Khi giáo viên linh hoạt trong việc sử dụng phối kết hợp các biện pháp
để dạy trẻ bài tập VĐCB thì trẻ hào hứng tích cực tham gia vận động.
11
Giáo viên đã quan tâm phối hợp chặt chẽ với phụ huynh, có biện pháp
phù hợp dạy trẻ VĐCB sao cho đạt hiệu cao nhất và có tác động thực sự đến
trẻ. GV đã khéo léo dẫn dắt, lôi cuốn trẻ tích cực tham gia vận động. Mặt
khác, một số GV đã biết tạo tình huống và mở rộng kiến thức cho trẻ.
Khi tổ chức dạy VĐCB cho trẻ,GV cần phát huy tính tích cực sáng tạo
của trẻ. Mỗi GV cần phải có niềm say mê với nghề nghiệp, hết lòng vì trẻ thơ,
luôn luôn tìm tòi, tiếp cận những cái mới để thu hút trẻ vận động một cách
tích cực nhất. Giáo viên phải nghiêm túc thực hiện tốt những biện pháp đã đề
ra.
GV cần có kiến nghị với BGH bổ sung thêm phơng tiện, đồ dùng cho
các bài tập VĐCB cho đầy đủ, phong phú.
Những biện pháp trên đây về tổ chức, hớng dẫn trẻ bài tập VĐCB mà
tôi đã áp dụng đã đem lại kết quả tốt đối với trẻ. Qua quá trình điều tra tôi rút


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status