Lợi tích và hạn chế của Bao thanh toán. - Pdf 24

Bên bánBên muaĐơn vị bao thanh toán
1
Contents
I. Cơ sở lý thuyết.
1. Khái niệm bao thanh toán:
Theo quyết định số 1096/2004/QĐ – NHNN(6/9/2004) của Thống đốc Ngân hàng
nhà nước ban hành Quy chế hoạt động bao thanh toán của các tổ chức tín dụng có quy
định: “Bao thanh toán là một hình thức cấp tín dụng của tổ chức tín dụng cho bên bán hàng
thông qua việc mua lại các khoản phải thu phát sinh từ việc mua, bán hàng hoá đã được
bên bán hàng và bên mua hàng thoả thuận trong hợp đồng mua, bán hàng”.
Theo Hiệp hội Bao thanh toán quốc tế ( FCI), bao thanh toán là một dịch vụ tài
chính trọn gói, kết hợp việc tài trợ vốn lưu động, phòng ngừa rủi ro tín dụng, theo dõi công
nợ và thu hồi nợ. Đó là sự thỏa thuận giữa đơn vị bao thanh toán và người bán, trong đó
đơn vị bao thanh toán sẽ mua lại khoản phải thu của người bán, thường là không truy đòi,
đồng thời có trách nhiệm đảm bảo khả năng chi trả của người mua. Nếu người mua phá
sản hay mất khả năng chi trả vì những lý do tín dụng thì đơn vị bao thanh toán sẽ thay
người mua trả tiền cho người bán.
2. Lợi tích và hạn chế của Bao thanh toán:
1. .Đối với doanh nghiệp bán hàng:
- Cải thiện dòng tiền, tăng khả năng thanh khoản
- Tăng doanh số bán hàng nhờ chính sách bán hàng trả chậm
- Giảm chi phí hành chính, quản lý công nợ
- Có nguồn tài chính mới mà không phụ thuộc vào các khoản vay Ngân hàng, không
yêu cầu phải có tài sản bảo đảm.
- Giảm thiểu nợ xấu, hạn chế rủi ro tín dụng
2. . Đối với doanh nghiệp mua hàng:
Có thể mua hàng theo điều khoản thanh toán sau:
- Sử dụng tín dụng người bán để tài trợ vốn lưu động
- Cơ hội đàm phán điều khoản mua hàng tốt hơn
- Đơn giản hóa thủ tục thanh toán nhờ tập trung thanh toán về một đầu mối.
2.3. Đối với đơn vị bao thanh toán:

3.3 . Phí dịch vụ Bao Thanh Toán:
Theo thông lệ quốc tế: 0.5 – 1.1 % giá trị khoản phải thu
Tại mội số Ngân hàng trong nước :0.5-0.8 % giá trị khoản phải thu
Lãi suất: căn cứ theo lãi suất cho vay ngắn hạn của Ngân hàng tại thời điểm Bao Thanh
Toán. Lãi được tính trên mức ứng trước cho bên bán và số ngày thực tế kể từ ngày ứng tiền
trước đến ngày thanh toán các khoản phải thu.
4. Phương thức bao thanh toán
3
- Bao thanh toán từng lần: Đơn vị bao thanh toán và bên bán hàng thực hiện các thủ
tục cần thiết và ký hợp đồng bao thanh toán đối với các khoản phải thu của bên bán hàng.
- Bao thanh toán theo hạn mức: Đơn vị bao thanh toán và bên bán hàng thoả thuận và
xác định một hạn mức bao thanh toán duy trì trong một khoảng thời gian nhất định.
- Đồng bao thanh toán: hai hay nhiều đơn vị bao thanh toán cùng thực hiện hoạt
động bao thanh toán cho một hợp đồng mua, bán hàng, trong đó một đơn vị bao thanh toán
làm đầu mối thực hiện việc tổ chức đồng bao thanh toán.
5. Quy trình hoạt động bao thanh toán:
• Hoạt động bao thanh toán được thực hiện theo các bước chính như sau:
(1)
(6)
(7)
(2) (4) (5) (8) (9) (12) (3) (10) (11)
(1) HĐ mua bán hàng hóa: Bên bán và bên mua ký hợp đồng mua bán hàng hóa.
(2) Yêu cầu bao thanh toán: Bên bán hàng đề nghị đơn vị bao thanh toán thực hiện bao
thanh toán các khoản phải thu.
(3) Thẩm định: Đơn vị bao thanh toán tiến hành thẩm định (phân tích các khoản phải
thu, tình hình hoạt động và khả năng tài chính) và cấp hạn mức BTT cho bên mua
(nếu bên mua hàng chưa nằm trong danh sách khách hàng đã được đơn vị BTT cấp
hạn mức).
(4) Thẩm định: Đơn vị tiến hành thẩm định, trả lời và cấp hạn mức BTT cho bên bán.
(5) Ký hết HĐ Bao thanh toán: Đơn vị BTT và bên bán tiến hành ký kết hợp đồng BTT

- Có ba bên tham gia. Bên mua lại chứng từ, bên bán chứng từ, bên có trách
nhiệm thanh toán chứng từ.
- Không cần phải có tài sản đảm bảo.
- Số tiền mua lại thấp hơn mệnh giá của chứng từ.
- Là một hình thức cấp tín dụng gián tiếp cho bên có trách nhiệm thanh toán
chứng từ.
Khác nhau:
Bao thanh toán Chiết khấu giấy tờ có giá
• Đối tượng của bao thanh
toán là các khoản phải thu trong
thương mại.
• Đối tượng là các khoản phải thu
trong thương mại, và các giấy
tờ khác trong thị trường vốn
5
• Chỉ có thể mua lại các
khoản phải thu dưới 180 ngày.
• Ngoài cấp tín dụng, còn có
các dịch vụ kèm theo, như là
quản lý và thu hồi nợ.
• Được ký kết trước khi tiến
hành giao hàng.
• Khi ký kết hợp đồng, bên
bán đã có dự định sẳn là thực
hiện bao thanh toán.
( tín phiếu, trái phiếu..).
• Có thể tiến hành đối với nhiều
kỳ hạn ( có thể chiết khấu
chứng từ còn thời hạn trên một
năm hoặc thấp hơn)

ứng trước này cũng có thể được so sánh với một khoản tín dụng ngắn hạn với tài sản đảm
bảo là khoản phải thu từ người mua. Ngay cả trong trường hợp bao thanh toán miễn truy
đòi, đơn vị bao thanh toán vẫn có quyền truy đòi người bán số tiền ứng trước này nếu xảy
ra tranh chấp giữa người bán và người mua. Khi đó, người mua không phải thực hiện nghĩa
vụ thanh toán cho đến khi tranh chấp được giải quyết và người bán phải hoàn trả cho đơn
vị bao thanh toán số tiền đã được ứng trước cho khoản phải thu có tranh chấp. Tuy nhiên,
nếu người bán gặp khó khăn về tài chính hoặc mất khả năng thanh toán, đơn vị bao thanh
toán sẽ tổn thất do không có bất kỳ một tài sản đảm bảo nào khác cho khoản ứng trước đó.
2. . Rủi ro gian lận:
Rủi ro gian lận là rủi ro hóa đơn được bao thanh toán (có ứng trước) không tương
ứng với một giao dịch thương mại thực tế nào. Vì vậy, hóa đơn đó không có giá trị pháp lý
và đơn vị bao thanh toán không thể thu nợ từ người mua.
Như đã nói ở trên, đơn vị bao thanh toán ứng trước cho người bán trước khi được nhận
thanh toán từ người mua. Người bán sau khi giao hàng sẽ ký phát hóa đơn đòi tiền người
mua và gửi cho đơn vị bao thanh toán một bảo sao hóa đơn. Phần lớn các gian lận đều xuất
phát từ đây. Người bán có thể ký phát hóa đơn trước khi giao hàng thực tế hoặc thậm chí
ký phát những hóa đơn hoàn toàn không có thật để nhận được tiền ứng trước của đơn vị
bao thanh toán.
3. Rủi ro thu nợ:
Rủi ro thu nợ là rủi ro đơn vị thanh toán không thể thu được nợ đúng hạn và hiệu
quả.
Khác với các nghiệp vụ tín dụng truyề thống khác, rủi ro trong việc thu hồi nợ phụ thuộc
rất nhiều vào uy tín và năng lực tài chính của người mua hàng chưng không phải người
bán. Bên mua hàng là người chịu trách nhiệm trả nợ chính cho đơn vị bao thanh toán
nhưng vì học không phải là người trực tiếp yêu cầu khoản tín dụng từ đơn vị bao thanh
toán và do đó họ không có nghĩa vụ phải cung cấp thông tin và tài liệu liên quan đến khả
năng tài chính và tình hình hoạt động của mình cho đơn vị bao thanh toán. Chính vì vậy,
khó khăn lớn nhất của các đơn vị bao thanh toán trong khi thực hiện nghiệp vụ này là
không chắc chắn thu hồi được nợ.
Ngoài ra, đơn vị bao thanh toán có thể gặp rủi ro nếu học cung cấp dịch vụ bao thanh toán


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status